Thứ Ba, 21 tháng 12, 2021

Sự tự điều chỉnh của các hệ tư tưởng

 Có một lý do rất sâu sắc cho sự tồn tại của các hệ tư tưởng trong thời đại toàn cầu hóa là ý nghĩa và lý tưởng trong chúng. Mỗi hệ tư tưởng chạm đến những khía cạnh của chính trị mà các hệ tư tưởng khác không thể đạt tới. Các quốc gia phương Tây có một nền tảng thống nhất của các giá trị dân chủ tự do, trong khi các nước Hồi giáo thiết lập một tập hợp các nguyên tắc đạo đức và tín ngưỡng. Hệ tư tưởng được liên kết chặt chẽ với các cấu trúc quyền lực. Các hệ thống chính phủ trên thế giới khác nhau đáng kể và luôn được liên kết với các giá trị hoặc nguyên tắc cụ thể. Quan trọng và cơ bản nhất là nó xác định việc tổ chức quyền lực nhà nước, mô tả chế độ chính trị, xác định hình thức và bản chất nhà nước, cơ chế phân chia quyền lực chính trị, mục tiêu, nội dung và phương thức lãnh đạo, quản lý xã hội. Nó đồng thời cho phép các thành viên có thể tham gia và từ đó tái tạo hệ tư tưởng trong cuộc sống hằng ngày. Có thể thấy, trong thời đại toàn cầu hóa, các hệ tư tưởng duy trì được ảnh hưởng của mình đều kiên trì giữ những giá trị cốt lõi trong khi vẫn có sự điều chỉnh nhất định.

Với tư cách một hệ tư tưởng chính trị, chủ nghĩa tự do tồn tại một cách rõ nét từ thế kỷ XIX, nhưng dựa trên những ý tưởng và lý thuyết đã phát triển trong hơn 300 năm qua. Đó là một hệ tư tưởng, quan điểm triết học và truyền thống chính trị dựa trên các giá trị cốt lõi là tự do và bình đẳng. Tuy nhiên, trong quá trình tồn tại của mình, chủ nghĩa tự do - với tư cách là một hệ tư tưởng chính trị - đã có những điều chỉnh khá rõ nét.

Thời đại toàn cầu hóa đã chứng kiến sự ra đời của chủ nghĩa tự do mới (new liberalism) và chủ nghĩa tân tự do. Chủ nghĩa tự do mới, hay còn gọi là “chủ nghĩa tự do xã hội” (social liberalism) thừa nhận vai trò can thiệp của nhà nước trong việc đảm bảo điều kiện tối thiểu cho sự tồn tại của cá nhân. Những người theo chủ nghĩa tự do mới thấy khó duy trì niềm tin rằng quá trình toàn cầu hóa mang lại sự thịnh vượng và tự do chung cho tất cả mọi người. Mặc dù cho rằng cá nhân là cơ sở của luật pháp và xã hội; xã hội và những thiết chế của nó phải tạo điều kiện bình đẳng giúp cho cá nhân thực hiện mục đích của mình chứ không phải bắt cá nhân làm theo quy định của xã hội và nhà nước, nhưng khi nhà nước tối thiểu không có khả năng khắc phục những bất công và bất bình đẳng xã hội, những người tự do hiện đại ủng hộ sự can thiệp của nhà nước, coi đó là vai trò đúng đắn của nhà nước. Họ ủng hộ sự can thiệp nhiều hơn của nhà nước đến thị trường tự do, thường dưới hình thức các đạo luật chống phân biệt, phổ cập giáo dục và đánh thuế lũy tiến. Triết lý này thường được mở rộng sang cả niềm tin rằng, chính phủ phải có trách nhiệm tạo ra phúc lợi chung, trong đó có cả trợ cấp thất nghiệp, nhà ở cho người không nơi cư trú và chăm sóc y tế cho người bệnh.

Chủ nghĩa tân tự do (neo-liberalism), còn gọi là “chủ nghĩa tự do thể chế” (institutional liberalism) hay chủ nghĩa tự do hiện đại (modern liberalism) ra đời vào những năm 1980, khi hợp tác giữa các quốc gia trở thành xu thế chủ đạo của chính trị quốc tế. Khác với trường phái tự do cổ điển tập trung vào câu hỏi chiến tranh hay hòa bình, chủ đề chính của chủ nghĩa tân tự do là các thể chế, định chế, quy tắc, luật pháp quốc tế và sự tương tác của các yếu tố này với lựa chọn chính sách của mỗi nhà nước. Tuy không phủ nhận hoàn toàn vai trò của nhà nước, chủ nghĩa tân tự do chủ trương một nhà nước tối thiểu, nhà nước phải giảm bớt sự can thiệp vào kinh tế để các tập đoàn tư bản được hoàn toàn tự do kinh doanh.

Chủ nghĩa tự do đã có những dấu ấn quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa. Chủ nghĩa tân tự do liên kết chặt chẽ với toàn cầu hóa kinh tế đến mức nhiều nhà bình luận coi toàn cầu hóa ngày nay là “toàn cầu hóa tân tự do” với xu hướng nổi bật là hướng tới hòa bình, luật pháp và trật tự quốc tế nhờ sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế. Nền dân chủ tự do đã phát triển vượt ra ngoài phương Tây và trở thành một thế lực trên toàn thế giới trong khi các phương tiện truyền thông hằng ngày lan truyền ý tưởng công lý “vượt ra ngoài biên giới” cũng như ý tưởng về công lý toàn cầu, thường dựa trên các nguyên tắc của chủ nghĩa tự do.

Không chỉ chủ nghĩa tự do, mà chủ nghĩa xã hội dân chủ cũng có những điều chỉnh quan trọng. Những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX đã chứng kiến một quá trình thoái trào về ý thức hệ đối với các đảng dân chủ xã hội trên toàn cầu. Để đối phó thành công với áp lực bầu cử, những người dân chủ xã hội đã buộc phải sửa đổi hoặc “hạ thấp” niềm tin hệ tư tưởng của họ. Ở thời kỳ thịnh vượng nhất của mình, các đảng dân chủ xã hội đã nắm quyền ở hầu hết các nền dân chủ, ngoại trừ Bắc Mỹ và đã có những cải cách xã hội đáng kể khi nắm quyền (thường liên quan đến việc mở rộng cung cấp phúc lợi và quản lý kinh tế), nhưng họ chắc chắn không chủ trì bất kỳ chuyển đổi xã hội cơ bản nào.

Quá trình toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng, giai cấp công nhân truyền thống giảm về quy mô, số lượng và không còn mang lại cho các đảng dân chủ xã hội đa số cử tri, họ buộc phải tìm kiếm sự hỗ trợ từ các tầng lớp xã hội khác, hoặc chia sẻ quyền lực với tư cách là liên minh đối tác với các đảng trung lưu. Cả hai lựa chọn đều yêu cầu các đảng dân chủ xã hội sửa đổi các cam kết hệ tư tưởng của họ và kết quả là họ phải đối mặt với việc vừa không tương đồng với cộng đồng cử tri, vừa không đại diện được cho lợi ích các đảng viên của đảng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét