Thứ Ba, 21 tháng 12, 2021

Sự xuất hiện của các hệ tư tưởng mới

 Có thể khái quát về sự xuất hiện của một số hệ tư tưởng mới như sau:

Một là, chủ nghĩa sinh thái (còn gọi là “hệ tư tưởng xanh”). Hệ tư tưởng này được coi là đã khám phá ra địa hạt tư tưởng mới dựa trên niềm tin rằng tự nhiên là một tổng thể được kết nối với nhau(6). Các nhà tư tưởng xanh nghi ngờ giả định của các hệ tư tưởng chính trị thông thường lấy con người làm trung tâm và cố gắng định hướng lại mối quan hệ của con người với thế giới “phi nhân loại” thông qua chuyển đổi ý thức con người và cấu trúc lại hoàn toàn trách nhiệm đạo đức. Có thể nhìn nhận ảnh hưởng của chủ nghĩa sinh thái trong quá trình toàn cầu hóa qua hai vấn đề nổi bật: Sự phát triển của các phong trào bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Lấy cảm hứng từ chủ nghĩa sinh thái, một thế hệ mới các nhóm áp lực, các nhà hoạt động - từ tổ chức Hòa bình xanh, Quỹ Thiên nhiên toàn cầu, Những người bạn của Trái đất đến các nhà hoạt động giải phóng động vật và các nhóm “chiến binh sinh thái” -  đã lên tiếng về các vấn đề như ô nhiễm môi trường, sự sụt giảm nguồn dự trữ nhiên liệu hóa thạch, chặt phá rừng và thử nghiệm trên động vật. Từ những năm 1980 trở đi, các câu hỏi về môi trường giữ ở vị trí cao trong chương trình nghị sự chính trị bởi các Đảng Xanh hiện đã tồn tại ở hầu hết các nước công nghiệp. Các phong trào này  ngày càng tác động đến các chính sách quốc gia và quốc tế cũng như thu hút sự quan tâm của các phong trào chống toàn cầu hóa. Điều này bắt nguồn từ niềm tin rằng, chủ nghĩa công nghiệp và các giá trị nền tảng - cá nhân cạnh tranh, chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa tiêu dùng - đã trở nên sâu sắc hơn do kết quả của nền kinh tế toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa - theo nghĩa này - là một dạng của chủ nghĩa siêu công nghiệp. Trọng tâm chính của những lời chỉ trích thường là các chính sách của các tổ chức chịu trách nhiệm quản lý hệ thống toàn cầu hiện đại như  WTO, WB... với các phong trào rộng khắp thế giới.

Chủ nghĩa sinh thái nhấn mạnh khái niệm về giới hạn và sự cạn kiệt của cải. Công nghiệp hóa và sự sung túc được mang đến nhờ khai thác trữ lượng than, khí đốt và dầu mỏ, những nhiên liệu hóa thạch không thể tái tạo. Con người đã mắc sai lầm khi coi năng lượng có thể và liên tục tăng thêm; kết quả là các nguồn nhiên liệu hữu hạn sắp cạn kiệt và khi đó, trái đất tiến gần đến sự tan rã vì không đủ nguồn năng lượng thay thế để bù đắp lượng than, dầu khí mất đi. Ý tưởng về “phát triển bền vững” đã được thúc đẩy bởi Báo cáo Brundtland năm 1987 và bởi “Hội nghị thượng đỉnh Trái đất” ở Rio năm 1992. Ngày nay, phong trào Xanh có định hướng toàn cầu rõ rệt, được phản ánh trong mối quan tâm mạnh mẽ đối với toàn cầu hóa và những hoạt động liên minh với các phong trào chống toàn cầu hóa. Phát triển bền vững được đưa vào như một mục tiêu trọng tâm trong chính sách phát triển của nhiều quốc gia.

Hai là, chủ nghĩa đa văn hóa. Thuật ngữ “chủ nghĩa đa văn hóa” được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1965 để mô tả một cách tiếp cận đặc biệt nhằm giải quyết vấn đề đa dạng văn hóa. Tất cả các hình thức đa văn hóa đều dựa trên giả định rằng, sự đa dạng và sự thống nhất có thể và nên được hòa trộn với nhau. Thừa nhận sự đa dạng văn hóa là nền tảng cho sự ổn định chính trị, là liều thuốc giải cho sự phân cực xã hội và định kiến. Sự đa dạng văn hóa được coi là có lợi cho xã hội giống như đa dạng sinh học mang lại lợi ích cho hệ sinh thái. Vấn đề đặt ra là tìm kiếm cách thức để những người có các giá trị đạo đức khác nhau, từ các nền văn hóa và các truyền thống tôn giáo khác nhau có thể chung sống mà không có xung đột dân sự và bạo lực. Hệ tư tưởng này đặc biệt nổi bật trong các cuộc tranh luận chính trị lớn vào những năm 1990, với sự gia tăng rõ rệt của tình trạng di dân và các xã hội phải đối mặt với thách thức hòa giải sự đa dạng văn hóa với việc duy trì sự gắn kết chính trị. Các nhà đa văn hóa cho rằng, quyền công dân và bình đẳng về cơ hội là không đủ, vì các nhóm văn hóa thiểu số bị thiệt thòi trong mối quan hệ với các nhóm đa số và điều này chỉ có thể được khắc phục thông qua các thay đổi trong các quy tắc và thể chế của xã hội.  

Trong thời đại toàn cầu hóa, chủ nghĩa đa văn hóa có ảnh hưởng khá rõ nét, vì một trong những đặc điểm chính của toàn cầu hóa là sự gia tăng đáng kể tính di động địa lý xuyên biên giới, đưa đến việc xây dựng các xã hội đa sắc tộc, đa tôn giáo và đa văn hóa. Kết quả là, ngày càng có nhiều xã hội chấp nhận đa nguyên văn hóa và đạo đức trong các xã hội hiện đại và trong quá trình toàn cầu hóa như một xu hướng không thể phủ nhận. Vì vậy, trên thực tế, chủ nghĩa đa văn hóa có thể đưa đến những chia rẽ chứ không phải hòa hợp giữa các dân tộc. Sự ra đời của chủ nghĩa khủng bố toàn cầu và cái gọi là “cuộc chiến chống khủng bố” đã đưa vấn đề đa văn hóa vào chương trình nghị sự các cấp. Trong khi những người ủng hộ chủ nghĩa đa văn hóa lập luận rằng thừa nhận văn hóa và các quyền thiểu số giúp ngăn chặn các hành động chính trị cực đoan, thì những người phản đối cảnh báo rằng chính trị đa văn hóa có thể là tấm áo ngụy trang, thậm chí có thể hợp pháp hóa các hành động này. Nhưng, một khi chủ nghĩa đa văn hóa thất bại sẽ dẫn đến sự trở lại của chủ nghĩa dân tộc trừ khi khi mọi người trên khắp thế giới đều xem mình là những công dân toàn cầu, đoàn kết bởi lợi ích chung trong việc giải quyết các vấn đề sinh thái, xã hội và các thách thức khác ngày càng có tính chất toàn cầu - điều khó có thể đạt được trong tương lai gần.

Như vậy, trong sự tác động nhiều chiều của toàn cầu hóa, vấn đề hệ tư tưởng vẫn được khẳng định là vấn đề mang tính thời sự, thu hút sự quan tâm của các quốc gia dân tộc trên thế giới. Những giá trị cốt lõi, vai trò, vị trí của hệ tư tưởng cần được nhận diện khách quan, khoa học, toàn diện để xác định đúng phương hướng và cách thức góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét