Tự do báo chí ở Việt Nam đã hội tụ đủ những điều kiện của nó, từ phương diện lịch sử và pháp luật. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin của công dân Việt Nam đã được Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện, quy định khá đầy đủ, với những nội dung cụ thể, dễ hiểu, dễ áp dụng, dễ thực hiện trong cuộc sống.
Phương diện lịch sử của tự do báo chí thể hiện ở trình độ nhận thức được tất yếu lịch sử, nhận thức được những quy luật vận động và phát triển của xã hội. Trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, tự do báo chí thuộc về giai cấp, lực lượng tiến bộ, các hoạt động báo chí phục vụ cho những mục tiêu đúng đắn, phù hợp với những quy luật khách quan, với tiến bộ xã hội.
Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động, luôn khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền cơ bản của con người và được xem là một thuộc tính, một bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây luôn là yêu cầu, mục tiêu nhất quán trong suốt tiến trình cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm phê phán kịch liệt tình trạng mất tự do báo chí và kiên quyết đấu tranh để có tự do báo chí. Người coi báo chí là vũ khí lợi hại trong cuộc đấu tranh giành chính quyền và xây dựng cuộc sống mới của đông đảo các tầng lớp nhân dân lao động, của giai cấp công nhân. Tự do báo chí gắn với pháp luật, với trách nhiệm và nghĩa vụ của các công dân trong xã hội.
Là quốc gia thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc, Việt Nam đã sớm tham gia vào các điều ước quốc tế về bảo đảm các quyền cơ bản của con người và quyền công dân, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Trên phương diện pháp lý, tất cả các bản Hiến pháp của nước ta (1946, 1959, 1980, 1992, 2013) đều có những quy định về tự do ngôn luận, tự do báo chí và khẳng định đây là một trong những quyền cơ bản nhất của con người, của mọi công dân. Ở mỗi bản Hiến pháp, nội dung này được kế thừa, phát triển phù hợp từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta.
Điều 10, Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân được quy định một cách khái quát là: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”.
Hiến pháp năm 1959 quy định cụ thể hơn về quyền tự do báo chí, một mặt, khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân; mặt khác xác định rõ vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện các quyền đó. Điều 25 xác nhận: “Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình. Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó”.
Hiến pháp năm 1980 đánh dấu bước phát triển rõ hơn về nhận thức tự do báo chí ở nước ta. Điều 67 vừa xác nhận công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, vừa chỉ rõ trách nhiệm của người sử dụng quyền tự do đó: “Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình, phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân. Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền đó. Không ai được lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước và của nhân dân”.
Hiến pháp năm 1992 quy định một cách đầy đủ hơn về hoạt động báo chí và quyền tự do báo chí của công dân. Điều 33 quy định: “Nhà nước phát triển công tác thông tin, báo chí, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, xuất bản, thư viện và các phương tiện thông tin đại chúng khác. Nghiêm cấm những hoạt động văn hóa, thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam”. Điều 69 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.
Những quyền cơ bản này đã được hiến định xuyên suốt trong các bản Hiến pháp của Việt Nam và tiếp tục được khẳng định tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Hiến pháp năm 2013 cũng đã quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân nói chung và quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí nói riêng.
Như vậy, qua các lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, Nhà nước ta luôn khẳng định, tôn trọng và có quy định bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí chân chính của nhân dân. Nội hàm của quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân tiếp tục được thể hiện trong các Điều 10 và Điều 11 Luật Báo chí năm 2016. Điều 10 giải thích cụ thể công dân có các quyền tự do báo chí sau: 1. Sáng tạo tác phẩm báo chí; 2. Cung cấp thông tin cho báo chí; 3. Phản hồi thông tin trên báo chí; 4. Tiếp cận thông tin báo chí; 5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; 6. In, phát hành báo in. Điều 11, Luật Báo chí năm 2016 cũng quy định cụ thể quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân. Theo đó, công dân có quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác. Điều 13 ghi rõ: “Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.
Tính đến ngày 31-12-2020, cả nước có 779 cơ quan báo chí, trong đó có 142 báo (Trung ương: 68, địa phương: 74; 112 báo có hoạt động báo điện tử); 612 tạp chí (Trung ương: 520, địa phương: 92; có 98 tạp chí có hoạt động tạp chí điện tử); 25 cơ quan báo chí điện tử độc lập (9 báo điện tử và 16 tạp chí điện tử). Cả nước có 72 cơ quan có giấy phép hoạt động phát thanh truyền hình với 2 đài quốc gia (Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam), 1 Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC, 64 đài địa phương, 5 đơn vị hoạt động truyền hình (Truyền hình Nhân Dân, Truyền hình Thông tấn, Truyền hình Quốc phòng Việt Nam, Truyền hình Công an Nhân dân, Truyền hình Quốc hội) với tổng số 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyền hình.
Báo chí Việt Nam đã thực sự trở thành diễn đàn ngôn luận và công cụ để bảo vệ tự do và lợi ích của các tầng lớp nhân dân. Mọi người dân, không phân biệt tuổi tác, giới tính, dân tộc, tôn giáo... đều có quyền phát biểu, đề đạt nguyện vọng và đóng góp ý kiến cho các cấp chính quyền thông qua báo chí. Nhờ bám sát, đưa thông tin nhanh nhạy, đúng bản chất sự kiện, phân tích trúng vấn đề trọng điểm và định hướng dư luận rõ ràng mà báo chí đã làm tốt vai trò phản biện, mang lại hiệu quả xã hội rõ rệt.
Và nếu hiểu phản biện xã hội là sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trong việc đóng góp ý kiến cho các chủ trương, quyết sách của Đảng và Nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội thì đây là một công việc được thực hiện thường xuyên trên báo chí Việt Nam. Qua nhiều vụ việc như: Dự án khách sạn trong khuôn viên Công viên Thống nhất, Trung tâm thương mại 19-12, thành phố hai bên bờ sông Hồng, đường sắt cao tốc, bôxít Tây Nguyên, sự cố thủy điện Sông Tranh 2 (Quảng Nam), được - mất khi xây dựng thủy điện Đông Nai 6 và 6A, vụ thu hồi đất đai tại Tiên Lãng (Hải Phòng), Văn Giang (Hưng Yên)... sức mạnh của báo chí, niềm tin của công chúng đối với báo chí được nâng lên rõ rệt.
Như vậy, Báo cáo về tự do báo chí năm 2020 của Tổ chức Phóng viên không biên giới đã cố tình võ đoán, quy chụp, xuyên tạc để “bẻ cong” tình hình báo chí Việt Nam. Không khó để nhận ra đây chỉ là một trong nhiều chiêu bài nhằm chống phá Việt Nam, kích động sự chia rẽ... luôn song hành với các chiêu bài “nhân quyền”, “dân tộc”, “tự do tôn giáo” trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của những kẻ luôn nuôi tham vọng thay đổi chế độ ở Việt Nam. Việc phản ánh sai lệch, thiếu trung thực về tự do báo chí và phủ nhận những kết quả, nỗ lực của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong tạo điều kiện cho báo giới hoạt động và bảo đảm quyền biểu đạt, tự do thông tin của người dân là xuyên tạc sự thật khách quan. Điều này từ lâu đã lạc lõng khi tự do ngôn luận, tự do báo chí được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ trên cơ sở từng người dân, từng nhà báo thực hiện đúng pháp luật, nêu cao trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì một Việt Nam dân chủ, thịnh vượng và văn minh.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét