Trong tiến trình phát triển của nhân loại, chưa bao giờ có “tự do báo chí tuyệt đối” hay “tự do báo chí không giới hạn”. Nếu ai đó tin rằng có tự do báo chí tuyệt đối, tự do báo chí cho mọi người thì hoặc là họ ngây thơ về chính trị, hoặc cố tình phủ nhận sự thật. Ở những nước có nền truyền thông phát triển hàng đầu thế giới như Mỹ, Anh thì tự do báo chí cũng đều phải tuân theo những nguyên tắc, chuẩn mực và luật lệ nhất định của nước đó.
Trên thực tế, các công ước quốc tế cũng như luật pháp của các nước đều coi tự do báo chí là một quyền cơ bản, nhưng đó không phải là sự tự do tuyệt đối mà phải có giới hạn nhất định. Tại khoản 3, Điều 19, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị nhấn mạnh: “Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác, b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Việc thực hiện tự do báo chí ở mỗi quốc gia phải phù hợp với tình hình, điều kiện lịch sử, văn hóa, trình độ dân trí, thể chế chính trị của mỗi nước và không được phép lợi dụng quyền cơ bản này để xâm hại lợi ích quốc gia-dân tộc, làm phương hại danh dự, nhân phẩm người khác, ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức cộng đồng, trật tự xã hội.
Báo chí bao giờ cũng mang tính giai cấp. Báo chí là công cụ, vũ khí của giai cấp nhằm bảo vệ quyền lợi và vai trò của giai cấp thống trị. Vì vậy, tự do ngôn luận, tự do báo chí trong chế độ chính trị xã hội khác nhau thì mang nội hàm khác nhau. Khi hỏi: “Tự do báo chí nào? Để làm gì? Cho giai cấp nào?”, V.I. Lênin đã thẳng thắn bày tỏ: “Chúng tôi không tin vào những cái tuyệt đối. “Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Không thể bàn luận về đạo đức và quyền hạn nếu không bàn tới vấn đề về khả năng chịu trách nhiệm của con người, về mối quan hệ giữa tất yếu và tự do...”(6). Từ đó suy ra, con người có tự do là con người nhận thức được tính tất yếu và tự do phải gắn liền với trách nhiệm. Vì vậy, tự do ngôn luận, tự do báo chí chỉ có thể đạt được khi giai cấp cầm quyền lấy việc phục vụ lợi ích số đông nhân dân lao động là mục tiêu tối thượng của chính mình.
Trong xã hội tư sản, không có một tờ báo, đài phát thanh, truyền hình nào lại có quan điểm khác với ông chủ tư sản sở hữu. Do nắm quyền về kinh tế nên các ông chủ đó dễ dàng điều hành và chi phối luồng ngôn luận và nguồn thông tin trên báo chí. Hiện tượng xuất hiện những quan điểm, ý kiến trái chiều trên báo chí tư sản thực chất là sự phản ánh cuộc đấu tranh của những nhóm quyền lực có lợi ích khác nhau trong giai cấp có sức chi phối các lợi ích xã hội.
Việc áp đặt những quan điểm, khái niệm về tự do báo chí của các nền dân chủ phương Tây làm tiêu chuẩn cho tất cả quốc gia là một cách tiếp cận sai lầm và vô lý. Sự áp đặt đó là nhằm làm giảm vị thế của các quốc gia khác, kéo dài sự phụ thuộc và mở rộng ảnh hưởng của các nước tư bản phương Tây. Trên thực tế, việc tuyên truyền những giá trị tự do, phát huy dân chủ như lý thuyết về “dòng chảy tự do của thông tin”, cho phép tự do truyền bá thông tin đến bất cứ đâu và vào bất cứ thời điểm nào theo mong muốn của nguồn phát, là một phương thức nhằm đạt được cả mục đích chính trị và kinh tế của các tập đoàn truyền thông tư bản. Báo chí trở thành công cụ đắc lực phục vụ quyền lợi của các nhà tư bản, bảo vệ lợi ích của những nhóm thiểu số. Vì thế, cần phải tuyệt đối cẩn trọng trong việc tiếp nhận các ý kiến, quan điểm tuyên truyền về tự do, dân chủ, đặc biệt trong lĩnh vực thông tin, báo chí.
Như vậy, dù trong bất kỳ xã hội nào thì tự do báo chí chỉ mang tính tương đối, bởi tự do báo chí phải được thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật và phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể ở mỗi thời kỳ nhất định. Phấn đấu xây dựng một nền báo chí tự do, trong đó nhà báo được tự do hành nghề, tự do cống hiến sức sáng tạo để phục vụ công chúng theo đúng lương tâm và trách nhiệm của người làm báo chân chính không đồng nghĩa với việc tùy tiện viết bài với mưu đồ xấu, bất chấp cả pháp luật và đạo lý. Người làm báo ngoài sự chế định của pháp luật còn có sự chi phối của lương tâm, trách nhiệm và sự giác ngộ chính trị. Tự do sáng tạo trong báo chí phải đi liền với việc cung cấp thông tin trung thực, chính xác, phục vụ sự tiến bộ của xã hội, vì lợi ích của đại đa số nhân dân. Điều cần nhấn mạnh là, ngoài các quy định của pháp luật, mỗi phóng viên, biên tập viên khi thao tác nghề nghiệp, đều cần cân nhắc kỹ lưỡng khi xử lý một thông tin, một sự kiện: Nên hay không nên, hoặc chưa nên thông tin, bình luận nếu sự kiện đó làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét