Ngày
17/2/1979, Trung Quốc mang đại quân gần 60 vạn (600.000 quân) sang Việt Nam để
“dạy cho Việt Nam một bài học”. Trung Quốc mang quân bành trướng đánh ta vì nhiều
lý do khác nhau; trong đó có một số lý do chính:
-
Trung Quốc cay cú vì Việt Nam hợp tác toàn diện, là đồng minh của Liên Xô, mà
Xô - Trung thì cơm không lành, canh không ngọt; chúng ta từ chối thẳng thừng việc
ký hiệp ước chống Liên Xô.
-
Trung Quốc cay cú vì quân đội ta đánh tan Pôn Pốt, lực lượng tàn ác, diệt chủng
do Trung Quốc nuôi dưỡng; Trung Quốc đã dùng kế “vây ngụy để cứu Triệu”, đánh
Việt Nam tạo điều kiện cho Pôn Pốt trỗi đầu dậy.
-
Trung Quốc chưa bao giờ muốn chúng ta thống nhất; họ chỉ muốn Miền Bắc nước ta
là nơi làm phên dậu cho họ như kiểu Triều Tiên, phụ thuộc vào họ chứ chẳng hề
muốn một nước Việt Nam thống nhất hùng mạnh. Họ đánh ta để làm suy yếu sức ta
và nhầm tưởng rằng quân đội chủ lực ta đang ở Campuchia thì chúng ta dễ dàng bị
thôn tính.
-
Thời kỳ này đất nước Trung Quốc đang cần đổi mới, họ bắt tay với Mỹ để phát triển
kinh tế và họ chứng minh cho Mỹ thấy thiện chí của họ đối với Mỹ, họ đánh đất
nước vừa khuất phục người Mỹ để thỏa lòng Mỹ.
Trung
quốc với lợi thế về người và số lượng vũ khí, khí tài hung hăng tiến sang như
muốn ăn tươi nuốt sống chúng ta nhưng kinh nghiệm chiến đấu thì chỉ là con đom
đóm nếu so với ánh trăng rằm Đại Việt Nam. Chúng ta vừa khuất phục người Pháp,
Mỹ, kinh nghiệm chiến tranh nhân dân đã ăn vào máu người dân; Quân ta chủ yếu
là bộ đội địa phương và dân quân du kích đã nướng chín hơn 62.000 quân tàu. Buộc
chúng phải rút về nước khi cụ Tôn Đức Thắng vừa ra lệnh tổng động viên và đại
quân ta đang tiến về nước từ Campuchia. Nếu chậm trễ trong việc rút quân thì có
lẽ chặt hết cây trên núi Thái Sơn cũng không đủ làm quan tài chôn quân bành trướng
vì họ không phải là đối thủ của Bộ đội chủ lực chúng ta.
Không
quân Trung Quốc không dám xuất kích vì họ hiểu rõ J16, J17 không phải là đối thủ
của Mic 21, Sam2, Sam3. Họ hiểu rằng nếu mang không quân xâm lược Việt Nam thì
quy mô chiến tranh sẽ lớn lên; họ không muốn sa lầy rồi chết thảm như Pháp, Hoa
Kỳ. Họ khiếp sợ lưới lửa phòng không ở miền Bắc, nơi đã từng biến niềm tự hào của
không lực Hoa Kỳ thành đồ nhôm.
Từ
kẻ đòi “dạy cho Việt Nam bài học”, Trung Quốc trở thành “người học trò” trước lực
lượng chủ đạo là dân quân du kích gồm các cụ, các mẹ, các chị và bộ đội địa
phương. Họ bị chặn đánh không kịp thở, quân đội thì ô hợp, thiếu kinh nghiệm
chiến đấu; vũ khí tuy nhiều nhưng không hiện đại bằng chúng ta; là kẻ xâm lược,
bành trướng nên quân tàu không có khí chí chiến đấu. Chiến tranh biên giới phía
Bắc là nơi quân tàu bộc lộ nhiều điểm yếu chí tử và họ thất bại là sự tất yếu.
Song
hổ đánh nhau, tất hữu nhất thương; chúng ta chiến thắng nhưng các tỉnh biên giới
bị tàn phá nặng nề; chúng ta hy sinh nhiều của, nhiều người và phải mất nhiều
năm mới khắc phục được hậu quả chiến tranh và đến 1991 ta mới bình thường hóa
quan hệ với họ. Chiến tranh là điều không ai muốn vì khi nó xảy ra thì ngọc đá
đều tan; chúng ta ôn lại lịch sử để càng thêm yêu quý giá trị của hòa bình, tri
ân cha ông đã hiến máu xương để có ngày hôm nay. Tất nhiên, chủ quyền quốc gia
là bất biến, là bất khả xâm phạm; nếu có bất cứ thế lực nào muốn xâm lược nước
ta thì chắc chắn hào khí Việt Nam lại trỗi dậy và cái kết cho kẻ xâm lược sẽ đắng
như cái cách mà người Pháp, Mỹ, Trung Quốc từng nhận.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét