Chủ nghĩa dân tộc (nationalism)
không phải là một khái niệm mới. Trong lịch sử loài người, chủ nghĩa dân tộc đã
manh nha hình thành từ khi các “dân tộc” ra đời. Chủ nghĩa dân tộc có thể được
xem xét ở nhiều khía cạnh, như một loại tình cảm dân tộc, một loại hình tư
tưởng, một quá trình xây dựng dân tộc, một hành động tập thể…
Chủ nghĩa dân tộc với tư cách là tình cảm dân tộc, là tình cảm trung thành, tình yêu, sự gắn bó với dân tộc
mình. Tình cảm này được hình thành nhờ những yếu tố chung như nguồn gốc và đặc
điểm nhân chủng, lịch sử chung, cùng khu vực cư trú, ngôn ngữ, văn hóa, tôn
giáo… Đó là những yếu tố khiến các cá nhân cảm thấy giống nhau, gắn bó với nhau
trong cộng đồng. Tình cảm dân tộc có thể được nhận thấy thông qua quá trình cố
kết dân tộc và quốc gia thành những cộng đồng khác nhau, thông qua những mối
quan hệ khác nhau giữa người cùng dân tộc với người khác dân tộc và thông qua
bản sắc dân tộc.
Chủ nghĩa dân tộc với tư cách là một loại hình tư tưởng (một hệ
tư tưởng hay ý thức hệ), đó là những tư
tưởng về quyền tự quyết, quyền tự trị, quyền bảo vệ bản sắc và các giá trị
riêng của mỗi dân tộc. Trên phương diện quan hệ quốc tế, tư tưởng dân tộc được
phản ánh trong tư tưởng lập quốc hay khẳng định chủ quyền quốc gia, trong sự
bảo đảm và phát triển lợi ích quốc gia. Theo Từ điển Bách khoa của Viện Từ điển
học và Bách khoa toàn thư Việt Nam, chủ nghĩa dân tộc là “hệ tư tưởng chính trị
và biểu hiện tâm lý đòi hỏi quyền lợi độc lập, tự chủ và phát triển của cộng
đồng quốc gia dân tộc”.
Chủ nghĩa dân tộc với biểu hiện là một phong trào chính trị: John Breuilly - giáo sư về chủ nghĩa dân tộc và dân tộc
tại Trường Kinh tế London (Anh) - cho rằng: “Chủ nghĩa dân tộc là phong trào
chính trị nhằm hướng đến hoặc thực hiện quyền lực nhà nước và biện minh cho các
hành động như vậy với các lý lẽ mang tính dân tộc chủ nghĩa”. Theo ông, các lý
lẽ mang tính dân tộc chủ nghĩa là học thuyết chính trị dựa trên ba khẳng định
cơ bản: Một là, sự tồn tại của dân tộc với đặc điểm rõ ràng và đặc
biệt; hai là, các quyền lợi và giá trị của dân tộc này được ưu tiên
so với các quyền lợi và giá trị khác; ba là, dân tộc phải độc lập,
điều này đòi hỏi ít nhất phải đạt được chủ quyền về chính trị.
Theo nghĩa này, chủ nghĩa dân tộc còn là quá trình xây dựng hoặc
tham gia các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Đó có thể là quá trình
thống nhất quốc gia gắn liền với tên tuổi của các nhân vật lịch sử; hoặc quá
trình tái thống nhất đất nước sau chiến tranh; hay các phong trào giành độc lập
của các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực
dân.
Chủ nghĩa dân tộc với đặc điểm là một hiện tượng văn hóa - xã
hội, là sự tích hợp của những thần thoại và
biểu tượng truyền thống. Dưới góc nhìn văn hóa, Anthony D. Smith - nhà xã hội
học lịch sử người Anh - nhận xét, chủ nghĩa dân tộc là loại hình của văn hóa,
gồm tư tưởng, ngôn ngữ, huyền thoại, biểu tượng, ý thức trong sự tương liên với
toàn cầu. Ở khía cạnh này, S. Kramer khẳng
định, mặc dù chủ nghĩa dân tộc có nguồn gốc từ các cuộc cách mạng chính trị
nhưng nền tảng cơ bản vẫn là văn hóa. Ông lập luận rằng, chủ nghĩa dân tộc với
ý tưởng là các quốc gia nên đại diện cho các dân tộc thống nhất về văn hóa; và
chủ nghĩa dân tộc là một lực lượng văn hóa nói lên khát vọng sâu sắc của con
người nhằm kết nối với bên ngoài.
Trên cơ sở nghiên cứu các định nghĩa của các học giả trong nước
và quốc tế về chủ nghĩa dân tộc, có thể nhận định, chủ nghĩa dân tộc
(nationalism) là một thứ tình cảm, một loại hình tư tưởng, một phong trào thực
tiễn hay một hiện tượng văn hóa liên quan đến sự sinh tồn, phát triển và quyền
lợi của dân tộc, được tạo ra trên cơ sở tình yêu, lòng trung thành và sự quan
tâm sâu sắc của các thành viên đối với lợi ích dân tộc mình.
Một khái niệm liên quan đến chủ nghĩa dân tộc là Chủ
nghĩa quốc tế (internationalism). Khái niệm này để chỉ mối quan hệ
giữa các quốc gia - dân tộc. Chủ nghĩa quốc tế ra đời khi chủ nghĩa tư bản hình
thành, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hóa cao
theo xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa. Chính nền sản xuất đại công nghiệp đã
tạo ra một nền sản xuất, trao đổi và tiêu dùng mang tính quy mô toàn cầu. Điều
này phá bỏ mọi hàng rào ngăn cách giữa các quốc gia, tạo nên một thị trường thế
giới thống nhất, khiến các quốc gia phụ thuộc lẫn nhau, thúc đẩy sự liên kết. Bên
cạnh đó, sự hợp tác giữa các quốc gia còn xuất phát từ những vấn đề mà từng
quốc gia, dân tộc riêng lẻ không thể tự giải quyết được, đòi hỏi sự chung tay
của cộng đồng quốc tế, như bảo vệ môi trường, xóa đói, giảm nghèo, chống bất
bình đẳng giới…
Biểu hiện cho mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa
quốc tế được thể hiện qua hai dạng thức của chủ nghĩa dân tộc, đó là chủ nghĩa
dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Chủ nghĩa dân tộc chân chính xuất phát từ tình cảm, lòng trung
thành đối với đất nước nhưng không vì thế mà xem dân tộc mình ưu việt hơn dân
tộc khác, do đó chủ nghĩa dân tộc chân chính biểu hiện quyền bình đẳng giữa các
dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc chân chính là nền tảng, động lực cho tự do, độc lập,
quyền tự quyết và phẩm giá của các dân tộc trước những áp bức, thống trị và bất
công; là cơ sở để xây dựng mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc.
Trong khi đó, chủ nghĩa dân tộc cực đoan “là xu hướng tư
tưởng tuyệt đối hóa giá trị dân tộc mình, đặt dân tộc mình ở vị trí cao nhất trong
toàn bộ hệ thống giá trị, đi đến chỗ khoa trương, bài ngoại, tự phụ, coi dân
tộc mình cao hơn tất cả và gây thiệt hại cho dân tộc khác”. Chính vì thế, chủ nghĩa dân tộc cực đoan
dễ dẫn đến xu hướng biệt lập, cục bộ, vị kỷ, chống lại xu hướng hợp tác, liên
kết và hội nhập quốc tế, thậm chí có thể thúc đẩy xu hướng chiến tranh, xâm
lược. Do đó, nó làm cản trở sự giao thoa và hợp tác quốc tế, làm suy
giảm lòng tin chiến lược giữa các quốc gia.
HAIVAN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét