Thứ Ba, 20 tháng 9, 2022

PHÒNG, CHỐNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN “XÂM LĂNG VĂN HÓA” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG TÌNH HÌNH MỚI 1. Hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới Nói đến văn hoá là nói đến con người. Vì sự sinh tồn mà con người luôn cải tạo tự nhiên để đáp ứng nhu cầu đời sống của mình; đồng nghĩa với điều đó, con người đã sáng tạo ra “tự nhiên mới” mà theo Giáo sư sinh - nhân chủng học người Pháp Georges Olivier gọi là “sinh thái nhân văn”, tức sinh thái tự nhiên được con người “văn hoá hoá”. Nói một cách ngắn gọn nhất, văn hoá là do con người sáng tạo ra, giá trị văn hoá thực chất là tổng hoà các giá trị con người. Giá trị văn hoá phổ quát nhất mà con người luôn hướng tới đó là hệ giá trị Chân, Thiện, Mỹ, vì bản chất của văn hoá là sáng tạo và nhân văn. Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm lãnh đạo xây dựng, phát triển văn hoá và con người Việt Nam. Ở từng giai đoạn cách mạng, tư duy nhận thức của Đảng về vấn đề xây dựng, phát triển văn hoá, con người ngày càng có sự phát triển, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc, thống nhất và phát triển đất nước trên con đường xã hội chủ nghĩa. “Đề cương về văn hóa Việt Nam” năm 1943 được coi như bản cương lĩnh về văn hóa đầu tiên của Đảng, trong đó xác định: Vǎn hóa bao gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật; nền tảng kinh tế và chế độ kinh tế của xã hội, quyết định toàn bộ vǎn hóa của xã hội. “Cách mạng vǎn hóa muốn hoàn thành phải do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo” và phải nắm vững “Ba nguyên tắc: Dân tộc hóa, Đại chúng hóa và Khoa học hóa” . Đây là những quan điểm, tư tưởng cốt lõi có giá trị định hướng cho sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá của nước ta. Từ “Đề cương về văn hóa Việt Nam” năm 1943 đến Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII về văn hóa, tư duy nhận thức của Đảng có sự phát triển, hoàn thiện hơn. Văn hóa được quan niệm toàn diện hơn, bao gồm các lĩnh vực: Tư tưởng, đạo đức, lối sống; môi trường văn hóa; giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ; văn học nghệ thuật; thông tin đại chúng; thể chế và thiết chế văn hóa... Đến Hội nghị Trung ương 9 khoá XI, Đảng ta đã đề cập rõ yêu cầu xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới. Theo đó, cần phải “Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật; đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước”. Đại hội XIII của Đảng đã tiếp tục có sự bổ sung, phát triển tư duy lý luận về văn hóa; đặc biệt là vấn đề xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam thời kỳ mới. Trong đó, Đảng ta xác định một nhiệm vụ, giải pháp hết sức quan trọng, đó là: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới.” Có thể nói, đây là lần đầu tiên Đảng ta nêu lên thuật ngữ “hệ giá trị quốc gia” trong văn kiện của Đảng. Chúng tôi cho rằng, nội hàm của nhiệm vụ, giải pháp này chính là cần phải tập trung hoàn thiện và triển khai xây dựng một hệ thống chuẩn mực giá trị văn hoá của quốc gia dân tộc Việt Nam trong thời kỳ mới. Đây là yêu cầu khách quan và hết sức cần thiết, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, phát triển và xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay. Hệ giá trị văn hoá của quốc gia, dân tộc Việt Nam trong thời kỳ mới sẽ là sự hoà quyện hữu cơ giữa những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước với sự tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hoá của nhân loại, thể hiện rõ bản sắc, ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam hướng đến mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” trên con đường xã hội chủ nghĩa. Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc (tháng 11/2021), với tinh thần kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc; xây dựng, phát triển văn hóa sau 35 đổi mới, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đã xác định những yếu tố cốt lõi, nền tảng của hệ giá trị văn hóa quốc gia, dân tộc Việt Nam, với những đặc trưng: “khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; xác định tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước” . Hệ giá trị này sẽ là cơ sở định hướng sự phát triển bền vững đất nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời định hướng, phát triển, hoàn thiện nhân cách mỗi con người Việt Nam trong thời đại hiện nay. Cùng với đó, Hội nghị cũng đã xác định những định hướng và mục tiêu cụ thể trong xây dựng hệ chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Con người Việt Nam thời kỳ mới cần phải “có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với những chuẩn mực giá trị cơ bản, đó là: yêu nước, đoàn kết, dũng cảm, tài trí, cần cù, nhân ái, nghĩa tình, hòa hiếu, khoan dung…” . 2. Nhận diện âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch hiện nay “Xâm lăng văn hóa” là một hình thức, thủ đoạn chống phá trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, nhằm công kích, xuyên tạc, bôi nhọ hệ chân giá trị văn hóa xã hội chủ nghĩa, văn hóa Đảng Cộng sản; kích động, lôi kéo và tiêm nhiễm các phản giá trị, làm lệch chuẩn các thang giá trị trong đời sống văn hóa chính trị, đạo đức, lối sống của quần chúng nhân dân. Từ đó, tạo ra sự mâu thuẫn về nhận thức tư tưởng, lòng tin của nhân dân đối với quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam; phủ nhận đường lối văn hóa - văn nghệ của Đảng, tiến tới phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch hiện nay hết sức tinh vi và nguy hiểm; chúng triệt để lợi dụng xu thế toàn cầu hóa trong thời kỳ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để tuyên truyền, tiêm nhiễm văn hóa, lối sống phương Tây; phủ nhận, bôi nhọ tính Đảng Cộng sản, tính giai cấp của đường lối văn hóa - văn nghệ cách mạng Việt Nam; ra sức truyền bá các sản phẩm văn hóa ngoại lai, phản nhân văn, phi văn hóa nhằm kích thích tâm lý, lối sống thực dụng, sa đọa, thấp hèn; làm băng hoại, lệch chuẩn các thang giá trị văn hóa đạo đức nhân ái, nhân văn trong một bộ phận nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ… Có thể khái quát một số phương thức, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch trong tình hình hiện nay, nổi lên là: Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng Internet, mạng xã hội để truyền bá, kích động tư tưởng chống đối, lối sống thực dụng, văn hóa phẩm đồi trụy; khuếch trương các quyền tự do, dân chủ trên lĩnh vực báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ núp dưới chiêu bài tự do ngôn luận, tự do sáng tác, quyền thông tin; móc nối với những phần tử bất mãn, chống đối trong nước, lợi dụng những sơ hở, yếu kém của ta trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, tung ra các tác phẩm báo chí, văn học nghệ thuật để xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật, nói xấu, vu cáo chế độ ta, hòng bôi đen nền văn hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Thông qua việc truyền bá những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, lối sống lai căng vào xã hội, vào cán bộ, đảng viên và nhân dân, dần dần từng bước tạo sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, để đi đến chuyển hóa Đảng, chuyển hóa chế độ. Ở nước ngoài, các thế lực thù địch ra sức lôi kéo, thành lập các hội, nhóm văn hóa, văn nghệ phản động để tiến hành tuyên truyền, bôi nhọ quan điểm, đường lối của Đảng; chúng dùng mọi biện pháp để đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng, công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; phủ nhận những giá trị văn hóa dựng nước và giữ nước Việt Nam, nhất là hệ giá trị văn hóa giữ nước trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc; chúng đánh đồng giá trị nhân văn, chính nghĩa với phi nghĩa, phản động, làm lẫn lộn giá trị nhân cách yêu nước, chính nghĩa của những chiến sĩ cách mạng với những kẻ phản bội, cướp nước, bán nước… Lợi dụng các tổ chức “xã hội dân sự” trong nước, các thế lực thù địch ra sức móc nối, cài cắm, phát triển lực lượng, từ đó hình thành các tổ chức phản động ở Việt Nam để truyền bá văn hóa phản động. Đặc biệt, chúng dùng mọi thủ đoạn để kích động, lôi kéo, lung lạc đội ngũ nhà văn, nghệ sĩ trong nước tham gia vào các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam; hướng lái các văn nghệ sĩ đi theo các trào lưu tư tưởng văn hóa phương Tây, đào sâu “tự do, dân chủ” trong sáng tác, thành lập cái gọi là “Văn đoàn độc lập” để đối trọng với Hội Nhà văn Việt Nam, v.v. Thậm chí, họ còn dùng những tác phẩm văn học, nghệ thuật để tạo cớ gây áp lực đòi “nhân quyền”, kích động bạo lực và lối sống thực dụng, dung tục, hòng làm phai mờ những giá trị đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam. Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch còn dùng thủ đoạn cử người trực tiếp tiếp cận các tầng lớp nhân dân, nhất là giới trí thức, sinh viên, số cực đoan tôn giáo và cán bộ, đảng viên tha hóa, biến chất để tuyên truyền, lôi kéo tham gia các hoạt động chống đối trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa. Với mưu đồ phủ nhận tính giai cấp, tính Đảng của văn hóa - văn nghệ, chúng tuyên truyền đề cao chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa cơ hội trong văn hóa - văn nghệ; hạ bệ những tác phẩm đỉnh cao chứa đựng sâu sắc tính nhân văn, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân ta,… tiến tới phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa - văn nghệ. 3. Một số giải pháp phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch hiện nay Xã hội muốn phát triển thì phản giá trị không thể chiếm chỗ của chân giá trị. Để cho “Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” , thì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, nhất là các địa phương, cơ quan, đơn vị ở cơ sở phải tích cực, chủ động, kiên quyết đấu tranh phòng, chống, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch. Theo đó, cần phải có sự nghiên cứu tổng hợp, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, biện pháp đấu tranh, ngăn ngừa; trong phạm vi nghiên cứu của bài viết, xin nêu mấy vấn đề cơ bản: Một là, tăng cường giáo dục, bồi đắp hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định “Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên” . Đây vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp hết sức quan trọng để ngăn ngừa sự tác động, xâm hại của những âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa”; tạo ra sự “miễn dịch” trong các tầng lớp nhân dân trước mưu đồ chống phá của kẻ địch. Quán triệt quan điểm của Đảng, cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội ở các địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục. Tập trung tuyên truyền khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân ái, nhân văn trong truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ về “hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam” thời kỳ mới, đó chính là sự gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống với giá trị hiện đại; tích cực gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống với tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại; ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực, tệ nạn xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và xu thế hội nhập hiện nay. Cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và các cơ quan chức năng ở cơ sở cần nghiên cứu, vận dụng linh hoạt các hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục, gắn sát với đặc điểm của từng đối tượng; trong đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện thông tin, truyền thông; tuyên truyền, giáo dục trong các nhà trường, ở từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Phát huy tốt vai trò xung kích, sáng tạo của các tổ chức quần chúng trong hoạt động tuyền truyền giáo dục đoàn viên, hội viên. Kết hợp giữa tuyên truyền, giáo dục với tổ chức các hình thức hoạt động văn hóa, văn nghệ để định hướng nhận thức tư tưởng một cách sinh động, hiệu quả trong cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Hai là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền; phát huy tốt vai trò nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt ở địa phương, cơ sở Đây là giải pháp hết sức quan trọng để giành thắng lợi trong mặt trận phòng, chống “xâm lăng văn hóa” mà các thế lực thù địch tiến hành đối với nước ta hiện nay. Trước hết, cấp ủy, chính quyền ở các địa phương, cơ quan, đơn vị cần quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam thời kỳ mới; tập trung đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức lãnh đạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực xây dựng, phát triển văn hóa, con người. Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát; chăm lo đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, tham mưu trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ; có cơ chế khuyến khích sự tìm tòi, sáng tạo trong hoạt động văn học, nghệ thuật, làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Việt Nam; hạn chế các lệch lạc, các biểu hiện chạy theo thị hiếu tầm thường, mắc mưu lôi kéo, cám dỗ của các thế lực thù địch. Chính quyền, cơ quan chức năng ở các địa phương, cơ sở cần phải tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin, nhất là trên internet, mạng xã hội. Kiên quyết ngăn ngừa, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục… Phát huy tốt vai trò nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp ở cơ sở có tác dụng lan tỏa rất lớn trong giáo dục, định hướng giá trị văn hóa cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” ; trong những năm qua, Đảng ta đã ban hành nhiều quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên: Quy định số 101-QÐ/TW, ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016, về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định số 08-QĐ/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Quán triệt quan điểm của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên, mà trước hết là cán bộ chủ trì, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, đoàn thể ở địa phương, cơ sở phải là những tấm gương sáng về trí tuệ, đạo đức, lối sống, phong cách và tinh thần trách nhiệm đối với tập thể, tạo sự lan toả các giá trị văn hoá nhân cách đến các tầng lớp nhân dân. Ba là, đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú ở các địa phương, cơ sở Môi trường văn hóa ở các địa phương, cơ quan, đơn vị cơ sở có vai trò hết sức quan trọng, là môi trường xã hội trực tiếp hình thành, nuôi dưỡng, phát triển, hoàn thiện nhân cách của cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân. Ca dao, tục ngữ có câu: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”; chăm lo xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú ở các địa phương, cơ sở là giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch một cách hiệu quả. Xây dựng môi trường văn hóa ở địa phương, cơ quan, đơn vị cơ sở hiện nay cần phải xây dựng đồng bộ, toàn diện các yếu tố tạo nên môi trường văn hóa, bao gồm hệ thống các giá trị văn hóa, các quan hệ văn hóa, hoạt động văn hóa và thiết chế, cảnh quan văn hóa. Phải chăm lo xây dựng văn hóa từ trong các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể đến văn hóa nhân cách của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tập trung xây dựng đời sống văn hóa của các tầng lớp nhân dân, “cải thiện điều kiện hưởng thụ văn hóa của nhân dân …; bảo đảm công bằng về cơ hội và thụ hưởng văn hóa. Khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển và đời sống văn hóa giữa các vùng, miền, các giai tầng xã hội, đặc biệt quan tâm đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, các khu công nghiệp …” như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định. Chăm lo xây dựng các quan hệ văn hóa lành mạnh, văn minh, tiến bộ trong từng địa phương, cơ quan, đơn vị, nhà trường, doanh nghiệp và trong mỗi gia đình …; khắc phục sự xuống cấp về đạo đức trong các quan hệ văn hóa, nhất là trong giới trẻ hiện nay. Xây dựng cảnh quan văn hóa hài hòa, thân thiện, văn minh; tổ chức các hoạt động văn hóa đa dạng, phong phú, tạo ra ở mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị một không gian văn hóa lành mạnh, tiến bộ, làm lấn át, đẩy lùi sự nảy sinh những biểu hiện phản văn hóa và âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch. Bốn là, gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; giữa gìn giữ, bồi đắp hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người thời kỳ mới với kiên quyết đấu tranh ngăn ngừa, lọc bỏ những biểu hiện phản giá trị văn hóa trong mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” vừa là yêu cầu khách quan, vừa là giải pháp hữu hiệu trong phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch hiện nay. Trước những tác động tiêu cực từ mặt trái nền kinh tế thị trường, xu thế toàn cầu hòa, hội nhập quốc tế và mưu đồ chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch, đã và đang làm nảy sinh ngày càng gia tăng những biểu hiện phi văn hóa, phản giá trị, suy thoái, tệ nạn, tiêu cực ở các địa phương, cơ quan, đơn vị ... Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” nhằm lấy “xây” để “chống”, lấy “cái đẹp” để “dẹp cái xấu” và lấy “chống” để “xây”, kiên quyết “nhổ cỏ dại” để “hái mùa vàng”. Trong tình hình mới, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể ở các địa phương, cơ quan, đơn vị cần phải coi trọng giáo dục, gìn giữ, bồi đắp và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, thể hiện bản sắc, thương hiệu của mình; đồng thời, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo lập những giá trị văn hóa mới, mang tính tiên tiến, văn minh, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Kiên quyết đấu tranh ngăn ngừa, lọc bỏ những biểu hiện phản giá trị văn hóa; nhất là những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; phê phán và ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, tệ nạn mê tín, dị đoan; đẩy lùi bệnh quan liêu, bè phái, mất đoàn kết, chủ nghĩa cơ hội và thực dụng; các hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật ở địa phương, cơ quan, đơn vị. Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, binh chủng trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, nhất là vai trò của cơ quan chức năng, các “Ban chỉ đạo 35”, lực lượng nòng cốt đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Phải làm cho các tổ chức, các lực lượng nhận thức đầy đủ, sâu sắc rằng, đây là việc làm thường xuyên, lâu dài chứ không phải là công việc “một sớm, một chiều”, giản đơn, “thuận buồm, xuôi gió”. Nó phải được tiến hành một cách bền bỉ, kiên trì, dũng cảm trên mọi lĩnh vực, mọi mặt hoạt động, trong mọi tổ chức, mọi lực lượng và trong mỗi con người. Trong đó, cần kết hợp chặt chẽ giữa khơi dậy và phát huy vai trò nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên với tăng cường quản lý, điều hành, thanh tra, kiểm tra xử lý các biểu hiện vi phạm.

“CHỚ THẤY THẤT BẠI MÀ NẢN, CHỚ THẤY ĐẮC THẮNG MÀ KIÊU”

 

Trong “Thư gửi đồng bào Khu 3”, ngày 12 tháng 9 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhắc: “Chớ thấy thất bại mà nản, chớ thấy đắc thắng mà kiêu”.

Sau hơn nửa năm kể từ khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược chính thức bùng nổ, quân Pháp đã tạm thời chiếm được nhiều thành phố, thị xã lớn trên cả nước; đồng thời tích cực chuẩn bị lực lượng đánh ra vùng nông thôn rộng lớn. Tuy nhiên, thế trận chiến tranh nhân dân của ta đã và đang ngày càng phát triển rộng khắp; vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ; vùng rừng núi Việt Bắc và các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Định, Phú Yên vẫn là hậu phương an toàn của cuộc kháng chiến. Trước tình hình đó, trong Đảng, nhân dân và lực lượng vũ trang ta xuất hiện hai luồng tư tưởng: Một bộ phận nhỏ dao động, bi quan, mất niềm tin vào tương lai của cuộc kháng chiến; một bộ phận khác lại tự mãn, chủ quan, khinh địch, cho rằng thực lực của quân Pháp chỉ có vậy, khó có khả năng tiếp tục đánh chiếm các vùng hậu phương chiến lược của ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện và kịp thời chấn chỉnh nhằm khắc phục cả hai luồng tư tưởng trên, động viên đồng bào và chiến sĩ ta đừng vì những thất bại, khó khăn trước mắt của công cuộc kháng chiến mà nản lòng, thoái chí, cam phận trở lại kiếp sống nô lệ; đồng thời, cũng lưu ý toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta không được tự đắc, chủ quan, nóng vội, mà phải tiếp tục tích cực chuẩn bị, sẵn sàng cho những thử thách gian nan hơn nữa ở phía trước. Lời nhắc nhở trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng vào việc định hướng tư tưởng, củng cố quyết tâm, hướng dẫn hành động cho quân dân cả nước khắc phục mọi khó khăn, phát huy những thành quả đã đạt được tiếp tục xây dựng quân đội, củng cố hậu phương, từng bước đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng.

Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Khu 3 năm xưa đã ghi sâu vào tiềm thức của mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam và đã trở thành một trong những phẩm chất truyền thống tiêu biểu được kết thành 10 Lời thề danh dự của quân nhân; là niềm tự hào, nguồn cổ vũ, động viên thôi thúc các thế hệ cán bộ, chiến sĩ không ngừng rèn luyện ý chí chiến đấu kiên quyết và bền bỉ, thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí, sẵn sàng chiến đấu và hy sinh để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Gần 80 năm đã trôi qua, những phẩm chất tiêu biểu "...thắng không kiêu, bại không nản...” của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục được tỏa sáng trong mọi hoạt động chiến đấu, công tác, lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học... cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”.

MỌI CÁN BỘ, CHIẾN SĨ TRONG TOÀN QUÂN PHẢI CHẤP HÀNH KỶ LUẬT MỘT CÁCH TỰ GIÁC VÀ NGHIÊM MINH

 

Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ độilà lời phát biểu chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại “Hội nghị cán bộ chỉ huy cấp trung đoàn, đại đoàn tham gia Chiến dịch Biên giới”, ngày 11 tháng 9 năm 1950. Kỷ luật của Quân đội nhân dân Việt Nam thực chất là sự cụ thể hóa đường lối, chủ trương, điều lệ của Đảng; hiến pháp, pháp luật của Nhà nước phù hợp với đặc điểm, tình hình, chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt nhấn mạnh: Bên cạnh lý tưởng chiến đấu, kỷ luật quân đội là điểm mấu chốt tạo nên sự thống nhất cao độ trong nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là trên chiến trường; do vậy, kỷ luật là động lực vô cùng quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội. Người luôn yêu cầu mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phải chấp hành kỷ luật một cách tự giác và nghiêm minh; đối với mệnh lệnh cấp trên ban xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành; báo cáo từ dưới lên trên phải thật thà, nhanh chóng và thiết thực; là cá nhân phải tuyệt đối phục tùng tổ chức; số ít phải phục tùng đa số; địa phương phục tùng Trung ương… Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý, kỷ luật phải được thi hành bình đẳng, nhất quán, triệt để từ trên xuống dưới, không phân biệt đối xử.

Lịch sử gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, quan điểm “Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội” của Bác thực sự là một di sản tư tưởng, lý luận quý báu; một nguyên tắc đặc biệt quan trọng góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam từ một đội quân du kích lúc ban đầu trở thành một quân đội có ý thức tổ chức kỷ luật cao, luôn kiên định trước mọi khó khăn, thử thách; cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, bản lĩnh, đủ sức đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong sự nghiệp xây dựng quân đội hiện nay, để duy trì nghiêm kỷ luật quân đội, cùng với việc chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị và các cơ quan chức năng, đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần phải làm tốt công tác giáo dục, tăng cường quản lý, duy trì kỷ luật trong đơn vị, tiến hành xử lý nghiêm minh, triệt để mọi vụ việc vi phạm kỷ luật theo đúng quy định. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải là những cán bộ luôn gương mẫu, tận tụy trong công tác, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội làm tấm gương sáng cho bộ đội học tập, noi theo. Có như vậy, kỷ luật của quân đội ta mới thật sự là nghiêm minh, tự giác, tạo nền móng xây dựng sự đoàn kết, nhất trí xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao./.


ĐOÀN KẾT LÀ SỨC MẠNH VÔ ĐỊCH

 

“Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta. Bản Cương lĩnh chính trị của Mặt trận là ngọn cờ đại đoàn kết toàn thể nhân dân miền Nam để cùng nhau chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi cuối cùng. Nhân dân ta đã đoàn kết, càng đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ hơn nữa!”. Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Thư gửi đồng chí Nguyễn Hữu Thọ - Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cùng đồng bào, chiến sĩ miền Nam ngày 06 tháng 9 năm 1967,  nhân dịp Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam công bố bản Cương lĩnh chính trị. Bức thư được đăng trên Báo Nhân dân, số 4903, ra ngày 13 tháng 9 năm 1967.

Đây là thời điểm quân và dân cả nước đang tích cực đẩy mạnh kháng chiến, từng bước đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ xâm lược. Ở miền Nam, cuộc kháng chiến có bước phát triển mạnh mẽ, giành được nhiều thắng lợi quan trọng, uy tín và vai trò của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày càng được nâng cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định và đánh giá cao vai trò của đoàn kết trong sự nghiệp cách mạng, đó chính là sức mạnh vô địch để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Lời của Bác là sự động viên, khích lệ đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta ở miền Nam, đồng thời là động lực tinh thần to lớn, có tác dụng phát huy hơn nữa tinh thần đoàn kết, tạo nên sức mạnh để chiến thắng kẻ thù.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn, để Đảng, Nhà nước quán triệt và cụ thể hoá trong lãnh đạo tốt việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là cội nguồn sức mạnh để đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế. Những thành tựu bước đầu của hơn 30 năm đổi mới có ý nghĩa quan trọng đặt nền móng và tạo đà cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần tiếp tục củng cố và tăng cường hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo nhằm phát huy những thành tựu trong giai đoạn mới, đưa đất nước ngày càng phát triển, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, đoàn kết thống nhất là nét đặc sắc trong bản chất cách mạng và truyền thống tốt đẹp, trở thành một trong 10 lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng, không ngừng được củng cố và phát huy. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, quân đội là công cụ sắc bén để chiến đấu bảo vệ Đảng, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Để tăng cường sức mạnh chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải luôn quán triệt và xây dựng khối đoàn kết thống nhất, trên dưới một lòng. Trên cơ sở đoàn kết thống nhất trong nội bộ, không ngừng tăng cường mối quan hệ đoàn kết, gắn bó, phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; tăng cường củng cố mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân; đồng thời nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó./.

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH "NHỮNG KINH NGHIỆM CẦN PHẢI TRÁNH TRONG CÔNG TÁC PHÁT ĐỘNG QUẦN CHÚNG"

 

Mong cán bộ ta cẩn thận từng lời nói, từng việc làm, thật thà “ba cùng”, làm đúng chính sách, để giành lấy kết quả tốt hơn trong công tác phát động quần chúnglà lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài viết “Những kinh nghiệm cần phải tránh trong công tác phát động quần chúng”, đăng trên Báo Nhân dân, số 221, từ ngày 04 đến ngày 06 tháng 9 năm 1954, bút danh “C.B”. Đây là thời điểm miền Nam đang tiến hành đấu tranh chính trị, giữ gìn, phát triển lực lượng, chuẩn bị cho cao trào cách mạng mới; miền Bắc đang trong thời kỳ khôi phục, cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên phải luôn thận trọng trong từng lời nói, việc làm, đặc biệt là phải luôn thật thà, khiêm tốn, thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước nhằm huy động sức mạnh đông đảo của quần chúng cùng hướng vào thực hiện mục tiêu chung của sự nghiệp cách mạng. Lời kêu gọi trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ trở thành phương hướng hành động, mục tiêu phấn đấu, rèn luyện của cán bộ, đảng viên mà còn tạo được niềm tin trong quần chúng nhân dân, động viên, cổ vũ nhân dân thi đua lao động, sản xuất, kháng chiến thắng lợi.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi tình hình thế giới, khu vực, trong nước diễn biến phức tạp, khó lường, tác động trực tiếp, nhanh chóng đến mọi mặt đời sống xã hội, càng nhận thấy giá trị sâu sắc lời căn dặn của Bác năm xưa; đặc biệt, nó đã trở thành định hướng quan trọng để đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ làm công tác dân vận hiện nay phải vươn lên để lãnh trách nhiệm trước Đảng, trước dân, khắc phục mọi khó khăn, yếu kém, nhạy bén, tham mưu giải quyết một cách kịp thời, có hiệu quả những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, góp phần thiết thực vào việc củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, để cho mọi người ai cũng phải làm dân vận, ai cũng biết làm dân vận và ai cũng được làm dân vận, chứ không phải là công việc riêng cán bộ chuyên trách.

Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, trong suốt hành trình gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, luôn gắn bó chặt chẽ với nhân dân, được nhân dân tin yêu, giúp đỡ, đã chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giành độc lập, tự do của Tổ quốc, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân, được nhân dân tin tưởng, yêu mến trao tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, hằng năm có hàng vạn lượt cán bộ, chiến sĩ quân đội tham gia làm công tác dân vận ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, nơi phức tạp về an ninh, chính trị, dân tộc, tôn giáo; các Đoàn kinh tế - quốc phòng đã tích cực giúp đỡ nhân dân chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng nông thôn mới, tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, giữ gìn an ninh chính trị… theo đúng phương châm “Nghe dân nói, nói cho dân hiểu, làm cho dân tin” được cấp uỷ, chính quyền, nhân dân ghi nhận, đánh giá cao, tiếp tục giữ vững và phát huy tốt truyền thống tốt đẹp “đến dân mừng, đi dân nhớ, ở dân thương”./.


NGÀY ẤY CHỦ TỊCH FIDEL BẬT KHÓC BÊN BỜ BẾN HẢI

 

Chủ tịch Fidel Castro (giữa) cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng (bìa phải) thăm Quảng Trị ngày 15/9/1973. Ảnh: T.L.
TP - Bốn mươi năm trước, tỉnh Quảng Trị đã vinh dự đón Chủ tịch Cu Ba Fidel Castro-nguyên thủ quốc gia nước ngoài đầu tiên đến thăm trong hai ngày 15 và 16/9/1973. Dù thời gian rất ngắn nhưng Chủ tịch Fidel đã có không ít kỷ niệm với con người và mảnh đất Thép- Anh hùng này.
một chi tiết bất ngờ xảy ra khiến Chủ tịch Cu Ba Fidel Castro đã bật khóc khi đoàn xe chở ông vừa chạy đến sông Bến Hải - vĩ tuyến 17, chứng kiến người con gái đang lấp hố bom bên đường bất ngờ cuốc trúng bom bi còn sót lại. Bom nổ, chị ngã xuống. Ông đã tìm mọi cách giành giật mạng sống cho người con gái này.
HÔM QUA TÔI MƠ GẶP LẠI FIDEL
Vậy người con gái ấy là ai, bây giờ đang ở đâu? Đúng 40 năm sau, chúng tôi trở về Quảng Trị, tìm gặp lại người con gái năm xưa đã khiến Chủ tịch Fidel bật khóc. Sau khi gặp gỡ nhiều nhân chứng, chúng tôi được biết chị có tên Nguyễn Thị Hương. Năm ấy chị là đoàn viên ưu tú của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam nay là Đoàn TN Cộng sản Hồ Chí Minh xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị.
Mấy hôm nay Đông Hà mưa dầm. Khá vất vả cuối cùng tôi cũng tìm ra được con đường Đặng Tất, nơi gia đình chị Hương sinh sống. Ngôi nhà của chị khang trang, ấm áp. Chồng chị là anh Lê Mạnh Kết, công tác ở Chi cục Bảo vệ Thực vật Quảng Trị, vừa nghỉ hưu. Chị Hương năm nay 57 tuổi. Anh chị có 3 người con gái đã lập gia đình và có công việc ổn định.
Khi biết tôi đến nhà chị vào thời khắc khá đặc biệt này để tìm hiểu câu chuyện, chị kể, hôm qua chị mơ mình được gặp lại Chủ tịch Fidel, ông đang rất khỏe. Một thoáng hồi tưởng, nếu ngày ấy đoàn xe của ông không đừng lại cấp cứu kịp thời cho tôi, chắc tôi đã chết. Chị chùng giọng, bốn mươi năm trước, vào ngày 15/9/1973, Chủ tịch Cu Ba Fidel đến thăm Quảng Trị. Tại phía Bắc sông Bến Hải lúc ấy, Đoàn TN xã Vĩnh Thành, Vĩnh Linh tổ chức lao động lấp hố bom, xây cuộc sống mới. Tuổi 17 phơi phới sức xuân, chị hăng hái tham gia trong buổi lao động san lấp hố bom hôm ấy.
Giờ đón Chủ tịch Fidel sắp đến nên ai cũng nhiệt tình làm việc. Hàng trăm thanh niên đang lao động cuốc đất hăng say, bỗng một tiếng nổ vang. Chị nhớ lại, khi đó tay tôi đang giữ cán cuốc mà người như bị phạt ngang đổ sụp xuống đất, máu tuôn xối xả đau nhói. Rồi chị cố gắng đứng dậy, ôm bụng chạy mấy bước lên Quốc lộ 1A và ngất xỉu, nằm bên mép đường. Mọi người tìm võng chuẩn bị cáng chị đi cấp cứu.
Vừa lúc ấy, đoàn xe đưa Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Chủ tịch Fidel từ Đồng Hới vào Quảng Trị, đến bờ Bắc vĩ tuyến 17. Bỗng nhiên Chủ tịch Fidel yêu cầu xe dừng lại. Chủ tịch Fidel và Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuống xe ân cần thăm hỏi người bị nạn. Chị Hương cố mở mắt ra nhìn thấy lờ mờ một “ông Tây to cao”, râu ria xồm xoàm bật khóc khi nhìn chị nằm bên vũng máu và rồi ông ôm chị lên xe, đưa về bệnh viện Vĩnh Linh cấp cứu.
Chị bị thương nặng, ruột đứt từng khúc, máu mất quá nhiều, trong lúc đó Bệnh viện Vĩnh Linh lại hết máu dự trữ. Mạng sống của chị lúc ấy quá mong manh. Tai nạn xảy ra khiến chị Hương ruột đứt 8 khúc, đứt động mạch chủ cùng nhiều vết thương nặng khác. Không thể để chị hấp hối như vậy được, “ông Tây to cao” đề nghị bệnh viện tìm mọi cách phải cứu sống chị. Một quyết định được đưa ra ngay lập tức, nếu không có phương tiện cấp cứu kịp thời, “ông Tây to cao” xin đưa chị ra Quảng Bình, dùng máy bay chở về Hà Nội cấp cứu, nơi đầy đủ phương tiện y tế hơn.
Để có máu truyền cho chị Hương, “ông Tây to cao” điều động ô tô ra Quảng Bình, mang máu về giúp bệnh viện. Nhờ cấp cứu kịp thời sức khỏe chị Hương dần dần hồi phục, vượt qua hiểm nghèo. Khi tỉnh dậy, nghe lãnh đạo bệnh viện kể lại, chị mới biết mình quá may mắn được “ông Tây to cao” chính là Chủ tịch Fidel Castro ở Cu Ba xa xôi cứu sống.
THUỐC CHỮA BỆNH VÀ TẤM DANH THIẾP ĐẶC BIỆT
Gần một tháng sau khi được các bác sĩ tận tình cứu chữa, sức khỏe chị Hương dần dần hồi phục và ra viện. Vừa về đến nhà, chị nhận được giấy mời lên ủy ban xã nhận quà. Chị không tin nổi mắt mình khi đọc dòng chữ bên ngoài ghi rõ quà của Chủ tịch Cu Ba Fidel Castro gửi tặng. Nào là thuốc chữa bệnh, thuốc bổ, đặc biệt là tấm danh thiếp in trên giấy đặc biệt, có hoa văn chìm và con dấu nổi. Dòng trên ghi chữ in đứng: CMDTE. FIDEL CASTRO RUZ và dòng dưới là: Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Cu Ba.
Sau này chị mới biết tại đất nước Cu Ba, cũng rất hiếm người được tấm danh thiếp quý giá này.
Từ đó về sau năm nào có phái đoàn sang thăm Việt Nam, Chủ tịch Fidel đều gửi quà tặng chị. Nhận được sự quan tâm thường xuyên của Chủ tịch Fidel, chị rất cảm động. Không thể sang Cu Ba thăm ân nhân của mình, chị viết thư nhờ các cán bộ gửi sang cảm ơn ông. Chủ tịch Fidel dù bận trăm công ngàn việc nhưng không quên chị. Năm 1985 ông mời chị qua Cu Ba kiểm tra sức khỏe và an dưỡng. Nhận lời mời, chị mừng khấp khởi, nhưng đang sinh con nhỏ nên không thể đi được. Chị cảm thấy như mình có lỗi vì bỏ lỡ cơ hội sang đất nước Cu Ba thăm ông để được nói với ông lời cảm ơn chân thành.
Sau này khi con lớn khôn, thi thoảng chị lại viết thư thăm ông. Chị nói, trước đây mỗi lần gửi thư sang bên ấy rất khó vì nhiều người không biết sự kiện này nên họ kiểm duyệt gắt gao lắm. Cách đây không lâu gia đình chị chụp tấm ảnh gồm 5 người, vợ chồng chị và 3 người con gái gửi sang tặng Chủ tịch Fidel Castro. Hôm đi rửa ảnh chị nhờ thợ in ra hai cái, một cái chị gửi đi cái còn lại chị giữ làm kỷ niệm. Mới đây, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam sang thăm Cu Ba, chị Hương đã gửi một ít đặc sản tiêu khô Quảng Trị sang tặng Chủ tịch Fidel. Chị mong rằng ông sớm nhận được món quà đầy nghĩa tình này, đấy là cả tấm lòng và tình cảm của chị, của gia đình hướng về ông.
Trở lại câu chuyện thời khắc Chủ tịch Cu Ba Fidel gặp chị Hương bị thương tại bờ Bắc sông Bến Hải. Ông ấn ượng và xúc động mạnh trước sự việc diễn ra, Chủ tịch Fidel gọi đại sứ Cu Ba tại Việt Nam cùng đi với đoàn lập kế hoạch giúp Việt Nam xây dựng một bệnh viện hiện đại để chữa bệnh cho những người dân sau chiến tranh. Một tháng sau, ý kiến của Chủ tịch Fidel thành hiện thực và bệnh viện mang tên Việt Nam-Cu Ba được chọn đặt tại Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Ngày 19/5/1974, nhân ngày sinh của Bác Hồ vĩ đại, Cu Ba và Việt Nam đã khởi công xây dựng Bệnh viện Hữu nghị tại Đồng Hới. Tháng 9/1981 bệnh viện được hoàn thành đưa vào sử dụng.
NGHE FIDEL CASTRO DIỄN THUYẾT, NGƯỜI DÂN SỤI SÙI KHÓC...
Chuyến vượt vĩ tuyến 17 của Chủ tịch Fidel vào vùng giải phóng Quảng Trị đã sang ngày thứ hai. Tám giờ sáng ngày 16/9/1973, ông cùng đoàn đến huyện Cam Lộ, nơi có trụ sở Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Người dân Quảng Trị vẫn nhớ như in hình ảnh Chủ tịch Fidel hai tay phất cao lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng trên đỉnh cao 241 đang ngổn ngang xác xe tăng của quân đội Mỹ. Ông là nguyên thủ quốc gia nước ngoài đầu tiên đến thăm vùng giải phóng Quảng Trị. Ở những nơi ông đến nhân dân Quảng Trị đã tiếp đón hết sức nồng nhiệt và thân ái. Ông bước đi giữa rừng cờ hoa và tiếng hoan hô vang dội của nhân dân Quảng Trị.
Trong cuộc mít-tinh chan hòa ánh sáng ban mai của mùa thu năm ấy, quân và dân Quảng Trị thay mặt toàn miền Nam chào mừng Chủ tịch Fidel Castro và đoàn đại biểu Cu Ba. Chủ tịch Fidel bày tỏ vui mừng được vượt qua hàng vạn ki lô mét đến thăm vùng giải phóng miền Nam. Giọng ông xúc động: “Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Cu Ba đến miền Nam Việt Nam vào một ngày đẹp trời. Ánh mặt trời chói lọi ở phương Đông chiếu sáng núi đồi, đồng ruộng. Ánh nắng ban mai làm cho tôi nghĩ đến tương lai Việt Nam cũng đẹp và rạng rỡ như ngày hôm nay”. Chủ tịch Fidel diễn thuyết, nhân dân sụt sùi khóc. Tiếp đó Thủ tướng Phạm Văn Đồng phát biểu đồng bào oà lên nức nở...
Đó mãi mãi là hình ảnh đẹp trong tình bạn, tình đồng chí đặc biệt giữa Việt Nam-Cu Ba.
--------------------------------------------
Trở lại câu chuyện của bốn mươi năm trước. Cu Ba là nước đầu tiên công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Là nước đầu tiên cử đại sứ sang vùng giải phóng miền Nam Việt Nam sau hiệp định Paris 27/1/1973.
Cũng là nước đầu tiên cử đoàn đại biểu cấp cao của Đảng và Chính phủ do đích thân Chủ tịch Fidel Castro dẫn đầu đến thăm Vùng giải phóng miền Nam- nơi có trụ sở của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Chuyến thăm này của Chủ tịch Fidel Castro trên đất Quảng Trị là sự kiện lớn không chỉ có ý nghĩa sâu sắc về tình hữu nghị, lịch sử quan hệ hai nước mà còn có ý nghĩa lớn trong đời sống quốc tế, nâng cao vị thế cách mạng Việt Nam.
ST
Có thể là hình ảnh về 7 người và mọi người đang đứng

TẠI SAO GỌI TIÊM KÍCH MIG - 21 SỐ HIỆU 4324 LÀ BẢO VẬT QUỐC GIA

 

Đây là loại máy bay chiến đấu phản lực tiêm kích, 1 người lái do Liên Xô cũ sản xuất năm 1965, viện trợ cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, được biên chế vào đội hình tiêm kích của Trung đoàn 921 (Đoàn Không quân Sao Đỏ), Sư đoàn 371 sử dụng từ tháng 1-1967 đến tháng 5-1969. Trong lịch sử chiến đấu, máy bay MiG-21 số hiệu 4324 đã xuất kích tham gia chiến đấu ngăn chặn các đợt tấn công của không quân Mỹ tại miền Bắc Việt Nam và có 14 lần bắn rơi máy bay Mỹ, do vậy chiếc máy bay này đã vinh dự mang trên mình 14 ngôi sao đỏ.
Về lai lịch của 14 ngôi sao đỏ, đó là chuyện một lần khi Bác Hồ về thăm Đoàn Không quân Sao Đỏ, Bác đã động viên các phi công trong đoàn rằng nếu đồng chí nào bắn rơi một máy bay Mỹ thì Bác sẽ thưởng cho đồng chí đó một chiếc huy hiệu mang hình ảnh của Người và trên máy bay của phi công đó đó sẽ được in hình một ngôi sao đỏ. Sự quan tâm và lời động viên kịp thời của Bác đã thúc đẩy tinh thần đánh địch lập công của các chiến sĩ không quân. Có 9 đồng chí đã từng thay nhau lái chiếc MiG này, sau này có 8 đồng chí được tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân. Tiêu biểu là Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Cốc, 10 lần nổ súng thì 9 lần anh bắn rơi máy bay địch. Anh được thưởng 9 huy hiệu Bác Hồ.
Máy bay MIG-21 số hiệu 4324 là hiện vật có giá trị đặc biệt biểu tượng chiến thắng của Không quân Việt Nam anh hùng, góp phần đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ lần thứ nhất (1965-1968).
Ngày 10-3-2015, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam đã tổ chức Lễ công bố Quyết định số 53/QĐ-TTg ngày 14-1-2015 của Thủ tướng Chính phủ, công nhận máy bay MiG-21 mang số hiệu 4324 là Bảo vật Quốc gia./.
-St-



LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 21/9


“Mỗi người sẽ tùy theo sức mình tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”,
Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Thư gửi bộ đội, cán bộ và gia đình cán bộ miền Nam ra Bắc”, Báo Nhân dân đăng số 229, từ ngày 21 đến ngày 22 tháng 9 năm 1954.
Sau những chiến thắng của quân và dân ta trên các mặt trận quân sự, ngoại giao, Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương đã được ký kết. Đây là một thắng lợi to lớn, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cách mạng nước ta. Với tầm nhìn xa, trông rộng, thấy trước âm mưu của địch phá hoại Hiệp định Giơnevơ, đàn áp, trả thù những người kháng chiến, Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo khẩn trương bố trí một bộ phận cán bộ, đảng viên ở lại miền Nam để lãnh đạo cuộc chiến đấu và chuyển hàng vạn đồng bào và con em các gia đình cách mạng đi cùng với bộ đội và cán bộ tập kết ra Bắc để đào tạo đội ngũ cán bộ vừa góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa chuẩn bị lực lượng cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Để kịp thời động viên bộ đội, cán bộ và các gia đình từ miền Nam ruột thịt tập kết ra Bắc trong những ngày đầu còn nhiều bỡ ngỡ, Bác Hồ đã gửi thư thăm hỏi, động viên và căn dặn.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, những cán bộ, chiến sĩ, học sinh, các gia đình miền Nam tập kết ra Bắc đã nỗ lực vượt mọi khó khăn, sớm ổn định cuộc sống và có nhiều đóng góp cho công cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong đó, nhiều người đã trở thành cán bộ, lãnh đạo các cấp; các tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp, các nhà khoa học đầu ngành ở nhiều lĩnh vực, các văn nghệ sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà báo nổi tiếng, nhiều doanh nhân tài ba, nhiều người đã trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động… góp phần làm rạng danh quê hương, đất nước.
Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng, Bác Hồ trực tiếp tổ chức, giáo dục và rèn luyện, được nhân dân tin yêu, đùm bọc và nuôi dưỡng, thấu triệt lời Bác dạy, Quân đội ta không ngừng phát huy bản chất cách mạng tốt đẹp, xây đắp nên truyền thống vẻ vang “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng đã kết tinh thành giá trị và biểu tượng “Bộ đội Cụ Hồ”.
Không chỉ trong chiến đấu, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn thi đua huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao, kỷ luật nghiêm, đoàn kết, hiệp đồng, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Đồng thời, làm tốt công tác dân vận, tích cực tham gia xóa đói, giảm nghèo, chung sức xây dựng nông thôn mới, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, đóng góp to lớn cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn xung kích ở những nơi xảy ra thiên tai, bão lũ…, giúp đỡ, cứu chữa nhân dân vượt qua khó khăn, hoạn nạn…; nhiều cán bộ, chiến sĩ đã chiến đấu hi sinh vì sự bình yên của đất nước, vì cuộc sống của nhân dân, xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Bác, Nhà nước và nhân dân.
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và văn bản cho biết 'ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH'

TỈNH TÁO ĐỂ KHÔNG “NỐI GIÁO CHO GIẶC”.


Thổi phồng mặt trái của xã hội là nhận thức lệch lạc, cố tình bỏ quên mặt giá trị của vấn đề, không xem xét sự việc trong tính chỉnh thể với sự đan cài những mặt tích cực và mặt hạn chế của mỗi vấn đề. Đây là một biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã được Đảng ta phát hiện và chỉ rõ.
Thời gian qua, lấy danh nghĩa “thư ngỏ”, “phản biện xã hội”, một số phần tử cơ hội, bất mãn chính trị trong và ngoài nước đã phát tán nhiều nội dung xuyên tạc, thổi phồng mặt trái của nước ta ở tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng - văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, ngoại giao…
Đặc biệt, dưới sự lan truyền nhanh của mạng xã hội, không ít cán bộ, đảng viên và nhân dân đã tin điều đó thông qua nhiều bình luận, phát tán rộng rãi trên tài khoản mạng xã hội của cá nhân, không khác gì việc “nối giáo cho giặc”.
Điển hình của tình trạng này là việc dựa vào một số hạn chế trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 để phủ nhận nỗ lực của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị ở nước ta. Nhìn nhận khách quan hơn 2 năm qua, chúng ta không phủ nhận công tác phòng, chống dịch còn có nhiều khó khăn, khuyết điểm. Những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người và kinh tế - xã hội mà đất nước phải gánh chịu đã rõ. Với tinh thần trung thực, thẳng thắn, những hạn chế, bất cập, vấn đề đặt ra đã được Đảng, Nhà nước ta kiểm điểm làm rõ, phân tích sâu sắc nguyên nhân và tập trung biện pháp kiên quyết khắc phục.
Nhưng không thể vì những khó khăn, khuyết điểm ấy mà phủ nhận sạch trơn sự nỗ lực, cố gắng của cả dân tộc trong suốt hơn 2 năm qua với một sự việc chưa từng có tiền lệ trên thế giới. Và càng không thể vì thiếu sót, khuyết điểm của một vài địa phương, một số ít cá nhân để “vơ đũa cả nắm” suy diễn, quy kết vô lối rằng Việt Nam thất bại trong phòng, chống dịch; nội bộ Việt Nam “có vấn đề”...
Một thực tế không ai có thể phủ nhận là đến nay, Việt Nam đã trở lại nhịp độ phát triển gần như bình thường so với trước đại dịch, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Để có kết quả đó, tất cả đã vào cuộc bằng tinh thần “chống dịch như chống giặc”; “mỗi người dân là một chiến sĩ”, “ngoại giao vắc xin”... phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân.
Không chỉ có vậy, việc từ đầu nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đến cuối tháng 6-2022, Đảng ta đã kỷ luật 50 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 8 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 20 sĩ quan công an, quân đội mang hàm cấp tướng. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, đã khởi tố, điều tra gần 4.200 vụ/7.572 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế… Khi siết chặt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; phòng, chống tham nhũng thì các phần tử cơ hội chính trị cho rằng đó chỉ là những cuộc “đấu đá” nội bộ, thậm chí tô vẽ thêm để nhằm gây tâm lý hoang mang, hoài nghi trong cộng đồng, hạ thấp uy tín của Đảng.
Nhận thức rõ âm mưu trên, những năm qua, Đảng và Nhà nước đặc biệt chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tốt việc phòng, chống các quan điểm sai trái, thường xuyên đề cao cảnh giác với chiêu trò thổi phồng mặt trái của xã hội. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ rõ một trong những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ chính là: “Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ xúy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội…”.
Do đó, vào lúc này, sự tỉnh táo là cần thiết để nhìn nhận bản chất sự việc, để hiểu đúng và hành động đúng. Từ đó, ngăn chặn tình trạng “nối giáo cho giặc” thông qua lợi dụng chiêu bài dân chủ, phản biện xã hội để phản bác, phủ nhận, phá bỏ sạch trơn, thông qua cố tình thổi phồng mặt trái của xã hội.
Vì vậy trước hết, các cơ quan quản lý được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ cần đẩy mạnh theo dõi, nắm chắc tình hình trên internet và mạng xã hội để chủ động có biện pháp đấu tranh, ngăn chặn từ sớm, từ xa với những thông tin, luồng dư luận sai trái. Đồng thời, xử phạt nghiêm minh các đối tượng tung tin đồn thất thiệt.
Bằng nhiều hình thức, phương pháp, công tác tuyên truyền, giáo dục phải đi sâu vạch trần tính chất nguy hiểm của chiêu trò thổi phồng mặt trái, thiếu sót, khuyết điểm để chống phá Đảng, Nhà nước mà các thế lực phản động, cơ hội và bất mãn chính trị đang tiến hành, từ đó nâng cao cảnh giác, chủ động đấu tranh, phản bác. Qua đó, làm cho những hành động “thổi phồng mặt trái xã hội” trở nên lạc lõng và dần bị triệt tiêu.
Về dài hạn, cần nâng cao năng lực hoạch định chính sách phù hợp với quy luật khách quan và đặc điểm của Việt Nam, tạo bước đột phá để xây dựng, phát triển đất nước, tăng cường sự đồng thuận xã hội. Cụ thể là sớm công khai, minh bạch, có đầu mối cung cấp thông tin cho các cơ quan truyền thông đại chúng để giải đáp các vấn đề dư luận quan tâm.
Ngoài ra, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác tu dưỡng, rèn luyện nâng cao phẩm chất, đạo đức, lối sống. Đồng thời, cảnh giác, đánh giá đúng thực chất và tác hại của những biểu hiện hạ thấp, phủ nhận thành quả cách mạng, kịch liệt lên án và phản bác lại những thông tin thổi phồng mặt trái xã hội.
Đối với những người tham gia mạng xã hội cần hết sức tỉnh táo để không tự biến mình thành kẻ “thấy cây mà không thấy rừng”. Trước mọi thông tin, mỗi người cần có một cái nhìn khách quan, toàn diện để khi tiếp cận và nhận thức cho đúng đâu là thông tin chính thống, đâu là những thông tin sai lệch, chủ quan, phiến diện.
Những biện pháp trên là cần thiết để mỗi chúng ta tự bảo vệ, tạo sức “đề kháng” trước những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nhằm thổi phồng khuyết điểm, khoét sâu mặt trái để chia rẽ nội bộ cho những kẻ “đục nước béo cò” chống phá Đảng, Nhà nước và thành quả cách mạng.

NGA VÀ LÁ PHIẾU CỦA VIỆT NAM Ở LIÊN HỢP QUỐC

 

Điểm đặc trưng của các anh chị đang phản đối Nga tấn công Ukraine đều ra rả về việc Nga vi phạm các luật quốc tế nhưng buồn cười ở chỗ nếu hỏi tiếp vi phạm cụ thể là luật nào thì tôi dám chắc đa phần sẽ không trả lời được. Như đã nói nhiều lần, các anh chị team dân chủ nhân quyền mở mồm ủng hộ chiều nào thì chân lý ắt hẳn nằm ở chiều ngược lại.

CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU CHO RẰNG “VIỆT NAM MUỐN GIỮ ĐƯỢC CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO THÌ CÁCH DUY NHẤT LÀ PHẢI LIÊN MINH QUÂN SỰ VỚI MỸ”

 

          Từ cổ chí kim, từ đông sang tây xưa nay bất cứ quôc gia nào trong lịch sử nhân loại được coi là hùng cường, khi và chỉ khi quốc gia đó tự đứng vững trên đôi chân của mình, khẳng định được sức mạnh thật sự bằng nội lực. Ấy thế mà lâu nay trên KGM vẫn thường nghe đám tàn dư và những người có tư tưởng hướng ngoại cho rằng “Việt Nam muốn bảo vệ được chủ quyền biển, đảo thì cách duy nhất là phải liên minh quân sự với Hoa Kỳ”. Luận giải vấn đề này như sau:

          1. Muốn bàn về vấn đề của người Trung Quốc, hãy ngược dòng lịch sử của chính người Trung Quốc để hiểu họ! Binh thư có câu “biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng”. Thời Tam quốc bên tàu, Lưu Chương ở Ích châu và Trương Lỗ ở Hán Trung là hàng xóm, láng giềng của nhau. Trương Lỗ có thực lực mạnh hơn thường hay mang quân xâm phạm Ích châu của Lưu Chương. Thay vì trấn an lòng dân, tập trung huấn luyện binh lực để đối phó với Trương Lỗ thì Lưu Chương lại chọn cách mời Lưu Bị mang quân từ Kinh Châu vào Xuyên Thục để giúp mình đánh Trương Lỗ, dù cho mưu sĩ khuyên can, Lưu Chương vẫn không nghe. Lưu Bị vui mừng nhận lời vì Lưu Chương trúng kế (kế của Bàng Thống và Trương Tùng, Pháp Chính là muốn Lưu Bị lấy đất Xuyên Thục để cùng với đất Kinh Châu tạo thành một thế lực đủ sức đối trọng với Tào Tháo và Tôn Quyền).

          Mượn cớ Lưu Chương không cung cấp đủ lương thảo cho mình để đánh Trương Lỗ…Lưu Bị mạng binh quay lại đánh chiếm và đoạt được Ích Châu của Lưu Chương. Lưu Chương mất cả Xuyên Thục trong tay người anh em cùng dòng dõi Hán thất của mình, đau đớn tột độ, ngửa mặt lên trời mà than khóc nhưng mọi sự đã quá muộn màng. Đó chính là chưa đuổi được beo cửa trước đã vội rước sói vào cửa sau. Họa mất nước đến từ quyết định sai lầm của Lưu Chương, kẻ bất trí vì đã rước giặc vào nhà. Vậy nên nếu chúng ta dựa vào Mỹ để chống Trung Quốc thì không chắc đảo có giữ được hay không nhưng chắc chắn là chúng ta sẽ phải làm chư hầu của Hoa Kỳ, có khi đất nước ta lại chẳng rơi vào tay người Mỹ đó chăng. Hàn Quốc và Nhật Bản hiện nay dù kinh tế phát triển hùng mạnh nhưng không tự bảo vệ được mình; Hàn phải trả 5 tỷ USD, Nhật trả 8 tỷ USD mỗi năm để được quân đội Mỹ bảo vệ. Một quốc gia muốn vững mạnh toàn diện thì về lâu về dài phải làm tốt hai nhiệm vụ chiến lược là XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC!

          2. Chính sách "bốn không" mà Việt Nam lựa chọn đó là: không tham gia các liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không sử dụng vũ lực haydde dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đây là chính sách thể hiện sự cơ trí và hợp thời thế của chúng ta. Việt Nam muốn bảo vệ độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ đồng thời giữ môi trường hòa bình, thân thiện với tất cả các nước trên thế giới. Vừa bảo vệ được chủ quyền vừa tranh thủ được sự ủng hộ của quốc tế, đó có thể xem là thượng sách để giữ nước vậy! Chúng ta không theo tàu để chống Mỹ, không theo Mỹ để chống tàu; viễn giao, cận giao vì hơn ai hết người Việt hiểu rõ và trân quý nhất giá trị của hòa bình, độc lập, chúng ta đã chịu quá nhiều mất mát, khổ đau do chiến tranh gây ra.

          Trong bối cảnh toàn cầu hóa, muốn bảo vệ chủ quyền biển, đảo, chúng ta phải phát huy tinh thần tự lực, tự cường và phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nêu cao tính chính nghĩa, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế, “kiên quyết, kiên trì đấu tranh”, tăng cường hợp tác quốc tế, “tạo sự đan xen lợi ích”, “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”. Và cũng cần xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, không thể nóng vội, kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, không làm phức tạp thêm tình hình, bảo vệ lợi ích chính đáng của ta, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế.

          3. Vấn đề chủ quyền biển, đảo; Việt Nam đã thể hiện sự khôn khéo khi đấu tranh bằng biện pháp ngoại giao, hòa bình trên tinh thần luật pháp quốc tế. Vận dụng linh hoạt bằng tổng hợp các giải pháp phi chiến tranh, bước đầu đem lại hiệu quả rất cao. Cộng đồng quốc tế đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền phi lý của Trung Quốc trên biển Đông, họ càng hung hăng thì càng bị thế giới cô lập; đó là không dùng chiến tranh mà vẫn giữ vững được chủ quyền, không đánh mà thắng, là thượng sách, là giải pháp tối ưu. Vấn đề biển đông, đặc biệt là Hoàng Sa (mất năm 1974 trong tay ngụy Sài Gòn) và một số đảo bị mất vào tay Trung Quốc ở Trường Sa. Chúng ta nhất định phải kiên trì và hi vọng vào sự quật khởi trong tương lai khi mà quốc lực vững mạnh, thời thế thích hợp để lấy lại chứ không thể nôn nóng đòi kích động chiến tranh với Trung Quốc.

          4. Hiện nay, sức mạnh tổng hợp của quốc gia, thế và lực của ta trên các vùng biển, đảo đã tăng lên nhiều. Hải quân nhân dân Việt Nam được Đảng, Nhà nước ưu tiên đầu tư tiến thẳng lên hiện đại, có sự trưởng thành, lớn mạnh vượt bậc, đủ sức làm nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Bộ đội Hải quân cùng các lực lượng thực thi pháp luật khác trên biển (cảnh sát biển, bộ đội biên phòng, kiểm ngư…) không quản ngại khó khăn, gian khổ, hiểm nguy; kiên cường bám trụ nơi “đầu sóng, ngọn gió”; đêm ngày tuần tra, kiểm soát, khẳng định, bảo vệ chủ quyền, giữ bình yên biển, đảo, thực sự là điểm tựa tin cậy cho nhân dân yên tâm vươn khơi bám biển, phát triển kinh tế. Đặc biệt, mỗi khi phải đối mặt với tình huống phức tạp, căng thẳng, các lực lượng trên biển luôn nêu cao ý chí quyết tâm “còn người, còn biển, đảo”, “một tấc không đi, một li không rời”; thực hiện đúng đối sách, phương châm, tư tưởng chỉ đạo; khôn khéo, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền, lợi ích quốc gia, an ninh, trật tự trên biển; không để xảy ra xung đột; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước và mở rộng quan hệ hợp tác với các nước.

          Từ những luận điểm trên, có thể thấy luận điều dựa vào Mỹ để bảo vệ chủ quyền biển, đảo và lấy lại Hoàng Sa là luận điệu của những kẻ bất trí; nó chẳng khác nào chuyện Lưu Chương mời Lưu Bị mang quân vào Xuyên, Thục để đánh Trương Lỗ hay như chuyện Mỹ - Trung thoả hiệp trên lưng ngụy Sài Gòn để tàu cướp Hoàng Sa 1974, bài học này thì người Việt đã thuộc lòng. Mỹ hay tàu thì lợi ích quốc gia của họ là tối thượng, theo Mỹ hay theo tàu đều là không phải giải pháp tốt , tự chúng ta đi trên con đường mà ông cha ta đã chọn. /.

                                                                                                St

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG TRÀO LƯU ĐỘC HẠI TRÊN MXH TIK TOK

 

          Thời gian gần đây, những trào lưu độc hại, phản cảm trên mạng xã hội TikTok ngày càng nở rộ và phát triển tràn lan, gây ra những hậu quả khó lường đối với chính người dùng và xã hội. Khác với Facebook và Youtube, người dùng không mất thời gian truy cập trang và gõ tìm kiếm, thay vào đó những nội dung trên TikTok sẽ tự động tìm đến người dùng. Do đó nếu không tỉnh táo, người sử dụng mạng dễ bị dẫn dắt, lôi cuốn vào các nội dung xấu độc, trào lưu nguy hiểm.

          Tính đến thời điểm hiện nay, mạng xã hội TikTok đang trở thành một nền tảng nổi bật và phát triển nhanh chóng, phổ biến rộng rãi, đặc biệt là trong giới trẻ. Theo số liệu trên trang Statista, nếu như năm 2017, mạng xã hội này chỉ có khoảng 65 triệu người dùng thì tính đến tháng 1/2022, số người sử dụng mạng xã hội TikTok đã lên tới hơn một tỷ tài khoản. Sau gần bảy năm phát triển, TikTok đã trở thành một trong những mạng xã hội được sử dụng nhiều nhất trên toàn thế giới.

          Ở Việt Nam, số người sử dụng mạng xã hội TikTok cũng tăng nhanh. Với đặc điểm là những video được đăng tải có nội dung ngắn gọn, dễ xem, dễ nhớ, TikTok trở thành một công cụ hiệu quả để lan tỏa những thông điệp tích cực đến cộng đồng, đặc biệt là trong cuộc chiến với đại dịch Covid-19.

          Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, TikTok cũng đã và đang bộc lộ nhiều tiêu cực. Dạo một vòng TikTok, không khó để bắt gặp những trào lưu phản cảm, độc hại như: Sex jokes (trò đùa tình dục); nhảy múa khoe thân; quảng cáo phim 18+, thuốc kích dục; giả vờ nghiện ma túy; kỳ thị vùng miền,… gây ra làn sóng tranh cãi gay gắt trong dư luận.

          Ðặc biệt, gần đây, trào lưu "săn mây" trên máy bay của một TikToker có đông người theo dõi đã mở màn cho hàng loạt trào lưu gây mất an ninh, an toàn hàng không.

                                                                                                Đa22

THÉP ĐÃ TÔI THẾ ĐẤY !

 

"Cái quý nhất của con người là đời sống. Ðời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để đến khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người. Và ta phải sống gấp lên mới được vì tật bệnh vô lý hay một sự tình cờ bi đát nào đó có thể bỗng nhiên cắt đứt cuộc đời".

BẢN ANH HÙNG CA VỀ LÒNG YÊU NƯỚC

 

34 năm đã trôi qua nhưng hình ảnh các chiến sĩ Hải quân Việt Nam hiên ngang đứng thành vòng tròn bảo vệ lá cờ Tổ quốc trên bãi đá Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa máu thịt của chúng ta, vẽ thành “vòng tròn bất tử” trong cuộc chiến không cân sức với đối phương đã mãi đi vào sử sách như bản anh hùng ca về lòng yêu nước.