Thứ Năm, 12 tháng 1, 2023

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA, NGÀY 06/01

 “Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân ta đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất và đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam”.

============

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài Ba mươi năm hoạt động của Đảng: “…Các tầng lớp tiểu tư sản tuy là sôi nổi, nhưng tư tưởng bế tắc, không có đường ra. Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân ta đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất và đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam”, đăng trên Báo Nhân dân, số 2120, ngày 6-1-1960; trong bối cảnh Đảng ta tròn 30 tuổi, đang lãnh đạo nhân dân ta tiến hành công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đẩy nhanh hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.

Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bài học lớn tổng kết lịch sử, khẳng định Đảng ta trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng tỏ rõ là lực lượng đại biểu cho trí tuệ, ý chí của giai cấp công nhân, nhân dân Việt Nam: dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam.

Lời của Người là nguồn ánh sáng chiếu rọi khắp mọi miền đất nước, được mọi cán bộ, đảng viên của Đảng trân trọng đón nhận, tạo động lực tinh thần thi đua học tập nâng cao bản lĩnh cách mạng, kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, nêu cao chủ nghĩa yêu nước, gắn bó đoàn kết cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quân đội nhân dân Việt Nam thường xuyên được Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện; không ngừng củng cố tăng cường bản chất giai cấp công nhân, nâng cao bản lĩnh chính trị, phát huy truyền thống dân tộc, gắn bó mấu thitk với nhân dân, anh dũng, kiên cường, chiến đấu sáng tạo, cùng toàn dân đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Trong tình hình mới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn thấm nhuần lời Bác năm xưa, thường xuyên quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về tăng cường bản chất giai cấp công nhân trong Quân đội, giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, bảo đảm cho Quân đội thực sự là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén, trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Đảng.


LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA, NGÀY 07/01

 

“Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành”.

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Bài nói tại trường cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh:  “…Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân”, đăng trên Báo Cứu quốc,  số 136, ngày 8-1-1946; trong bối cảnh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời, đang đối mặt với muôn vàn khó khăn, thách thức lớn, đặt ra yêu cầu đối với Đảng ta phải củng cố, xây dựng, phát huy cao độ vai trò các tổ chức, các lực lượng, nhất là vai trò gương mẫu, đi đầu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kháng chiến, kiến quốc.

Lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại trường cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh đã chỉnh huấn, yêu cầu cán bộ, chiến sĩ trong các trường quân sự của Đảng, Nhà nước phải nắm vững nhiệm vụ cách mạng, vai trò tiên phong của cán bộ, đảng viên, cán bộ tự vệ; nêu cao tinh thần yêu nước, tham gia kháng chiến, kiến quốc; gương mẫu đi đầu trong hành động, tích cực tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, gắn bó giúp nhân dân, chống mọi biểu hiện: nói nhiều, nói suông; nói không đi đôi với làm, đoàn kết chiến đấu chống “thù trong, giặc ngoài”, bảo vệ thành quả cách mạng.

Thấm nhuần lời nói của Người, ngay từ đầu năm 1946, Trường cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh và các trường quân sự đã được lãnh đạo, chỉ huy trong các nhà trường quân đội quán triệt sâu sắc, chuyển hóa thành kế hoạch hành động cách mạng, thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo cán bộ quân sự đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của cách mạng; đồng thời, thôi thúc toàn quân, toàn dân tích cực đóng góp trí tuệ, công sức cho công cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. 

Hiện nay, lời năm xưa của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn được các Học viện, nhà trường trong quân đội nghiên cứu học tập, vận dụng sáng tạo vào hoạt động giáo dục - đào tạo, với phương châm gắn nhà trường với đơn vị; lý luận với thực hành, lấy thực hành làm chính; nêu cao vai trò gương mẫu của đội ngũ giảng viên, quân tâm xây dựng đội ngũ cán bộ sĩ quan quân đội vừa "hồng" vừa "chuyên", đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA, NGÀY 08/01

 

“Có nói sự thực thì việc tuyên truyền của mình mới có nhiều người nghe”.

Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh Lời căn dặn các cán bộ tuyên truyền ngày 8-1-1946: “…Tuyên truyền, anh em nên chú ý một điều này nữa là bao giờ ta cũng tôn trọng sự thực. Có nói sự thực thì việc tuyên truyền của mình mới có nhiều người nghe. Ta đừng bắt chước những nước tuyên truyền tin chiến tranh quá sai lạc sự thực”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 137, ngày 9-1-1946; trong bối cảnh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ vừa ra đời, đang phải đương đầu với nhiều thách thức lớn, nhất là sự chống phá cách mạng của bọn thực dân Pháp xâm lược. Lời của Người đầu năm 1946 nhằm huấn thị cán bộ tuyên truyền phải hiểu rõ trong hoàn cảnh, nhiệm vụ nào cũng phải tôn trọng tính khách quan, chân thực, phù hợp với tình hình nhiệm vụ cách mạng, trình độ dân trí, phát huy giá trị nhân đạo truyền thống của dân tộc Việt Nam; qua đó, hình thành thái độ, phương pháp tuyên truyền phù hợp. Hơn thế, Hồ Chí Minh còn nêu lên vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác tuyên truyền là phải  “tôn trọng hiện thực khách quan”, có như vậy tuyên truyền mới có nhiều người nghe, mới đạt được mục đích và kết quả tốt.

Lời của Người năm ấy được đội ngũ cán bộ tuyên truyền từ Trung ương đến địa phương quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể, nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền, góp phần

Trong lĩnh vực quân sự, cán bộ làm công tác tuyên truyền ở các cấp được nghiên cứu, quán triệt sâu sắc lời chỉnh huấn của Bác Hồ; nắm vững đường lối kháng chiến, kiến quốc; đổi mới, sáng tạo nhiều hình thức, phương pháp tuyên truyền phong phú, được cán bộ chiến sĩ quân đội và toàn dân đón nhân.

Đến hôm nay, lời của Hồ Chí Minh đầu xuân năm ấy vẫn được đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền trong quân đội được cấp ủy, chỉ huy đơn vị lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác nghiên cứu quán triệt học tập, vận dụng nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng Việt Nam trong tình hình mới.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA, NGÀY 09/01

 

“Vực thẳm thuộc địa”.

Là nội dung bài viết "Vực thẳm thuộc địa" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng trên Báo L'Humanité, ngày 9-1-1923; trong bối cảnh, dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam đang bị bộ máy chính quyền thuộc địa của thực dân Pháp thống trị, đàn áp, bóc lột tàn nhẫn; quyền độc lập, tự do thiêng liêng của dân tộc, con người Việt Nam bị chúng chà đạp, tước đoạt…; song cách mạng Việt Nam chưa có đường lối đấu tranh đúng đắn và thiếu lực lượng tiên phong lãnh đạo.

Bài viết của Người trở thành “vũ khí” tấn công vào trung tâm đầu não chính quyền thuộc địa của đế quốc Pháp lúc bấy giờ; là “tiếng chuông” thức tỉnh nhân dân tiến bộ Pháp, nhân dân các nước thuộc địa nhận thức đúng đắn bản chất phi nghĩa, tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, kêu gọi mọi người yêu nước đoàn kết đứng lên đánh đuổi đạo quân xâm lược, giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Bài viết "Vực thẳm thuộc địa" của Hồ Chủ Tịch, tuy chưa ảnh hưởng sâu rộng đối với đồng bào An Nam trong thời gian ấy, song đã khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng căm phẫn tột độ của những trí thức tiến bộ; mặt khác, làm cho họ thấy rõ vai trò quan trọng của báo chí trên mặt trận đấu tranh giải phóng áp bức bóc lột, giải phóng dân tộc; là phương thức để tuyên truyền, liên lạc với các tổ chức yêu nước trên thế giới và trong đất nước An Nam; là cơ sở quan trọng để đến ngày 21/6/1925 Nguyễn Ái Quốc sáng lập và cho xuất bản số đầu tiên của Báo Thanh niên, cơ quan trung ương của Tổng bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, sáng lập nền báo chí Việt Nam.

Thấm nhuần tinh thần của bài "Vực thẳm thuộc địa", trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, báo chí Việt Nam đã phục vụ tích cực cho nhiệm vụ tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối cách mạng của Đảng; đấu tranh trên mặt trận chính trị, tư tưởng; phát động phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân đấu tranh chống thực dân, đế quốc xâm lược, thúc đẩy cao trào cách mạng, góp phần quan trọng vào thắng lợi toàn diện của cách mạng Việt Nam.

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, báo chí Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng nhận thức, tư tưởng; đã bám sát đời sống xã hội, thông tin nhanh chóng các tin tức, sự kiện, đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ tới quần chúng, thực hiện tốt chức năng là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng; là diễn đàn rộng rãi của nhân dân, góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2. Khoan thư sức dân – quốc sách dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt

 

Muốn ổn định đất nước, muốn cho thế nước được mạnh, đánh thắng giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc thì phải làm sao giữ được lòng dân, đoàn kết được toàn dân trên cơ sở những chính sách tiến bộ của mình. Khoan thư sức dân luôn luôn là quốc sách và thượng sách giữ nước.

Theo sử cũ và truyền thuyết, vua Tổ Hùng Vương thứ nhất dựng nước và các vua Hùng nối đời kế nghiệp đã sớm biết chăm dân, dưỡng dân, dạy dân, kéo dài sự hưng thịnh của triều đại mình. Ngay khi lập Quốc đô ở Phong Châu (nay thuộc Phú Thọ), các vua Hùng đã biết chia nước ra làm các bộ để chăm lo đời sống của dân. Chính vì biết lưu tâm dưỡng sức dân, Nhà nước Văn Lang thời đại Hùng Vương là một Nhà nước sớm có các thiết chế, tổ chức xã hội hoàn thiện, đất nước có quy củ, người dân yên hưởng thái bình. Vì thế mà kẻ thù ngoại bang không thể làm gì được trong suốt một thời gian dài. Về thời đại Hùng Vương, thiết nghĩ, trong thời gian tới, những người làm sử Việt Nam nhất định phải lưu tâm và làm rõ một cách khoa học những thành tựu đạt được của thời đại này. Việc chăm dân, giữ dân để dân hết lòng tín phục là một trong những thành công đặc biệt của thời đại Hùng Vương. Chính vì điều này, nhân dân các dân tộc Việt Nam vẫn đời đời nhớ về công đức của tổ tiên. Hàng năm, đến ngày 10 tháng 3 âm lịch, toàn dân hướng về ngày Quốc lễ – Giỗ Tổ – cúng tế hết sức trọng thể. Từ già đến trẻ luôn thuộc lòng và nhắc nhủ nhau:

Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba

Không phải ngẫu nhiên mà 18 đời vua Hùng được truyền nối. Trong nhiều lý do, chắc chắn có một lý do là lòng dân đã tạo ra thế vững chắc cho thời đại các vua Hùng.

Tiếp đến thời Thục An Dương Vương mà tiêu biểu là Thục Phán lập nước Âu Lạc đã mạnh dạn dời kinh đô về đồng bằng, chọn đất Kẻ Chủ thuộc bộ Vũ Ninh để định đô (nay thuộc Cổ Loa – Đông Anh – Hà Nội) đây cũng là kinh đô đầu tiên của người Việt tại đồng bằng, kề sát trung tâm Hà Nội ngày nay. Chúng tôi cho rằng, việc định đô ở Cổ Loa cũng là dựa vào tâm nguyện và ý chí của nhân dân. Chính vì biết dưỡng sức dân, mở đất, chăm dân nên việc định đô ở địa hình bằng phẳng rộng lớn, dựa vào các địa thế sông hồ cũng là biểu hiện trí tuệ của nhân dân là vô hạn mà những người đứng đầu Nhà nước Âu Lạc đã biết cách sử dụng. Thành Cổ Loa trải hơn hai nghìn năm lịch sử hiện vẫn đang là một di chỉ văn hóa lịch sử quan trọng, chứng minh bàn tay lao động tài tình của nhân dân Nhà nước Âu Lạc.

Thời Trưng Nữ Vương kéo không dài đã được các nhà nghiên cứu lịch sử phân tích khá thấu đáo nhưng theo chúng tôi, sở dĩ việc lập nước và giữ nước không được lâu bền phần lớn do kẻ thù quá tàn bạo đã gần như giết sạch người dân mà chúng bắt được hoặc những người đứng đầu các bộ lạc bấy giờ chưa cố kết được các tầng lớn nhân dân để giành lại nước.

Trong suốt chiều dài của lịch sử của dân tộc, trong điều kiện phải thường xuyên đối phó với các thế lực ngoại xâm lớn mạnh hơn bội phần, tồ tiên ta không chỉ dựa vào sức mạnh của Nhà nước, của quân đội mà còn phải dựa vào sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc. Để động viên được đông đảo nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ đất nước, thực hiện “toàn dân vi binh”, “cử quốc nghênh địch”, bí quyết thành công trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta trải qua nhiều triều đại là “dựa vào dân” và chính sách “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”.

Trong lịch sử dân tộc, rất nhiều triều đại nhờ khoan thư sức dân, chăm lo cho dân mà hưng thịnh và phát triển rực rỡ. Sử sách còn chép lại:

Năm 1010, khánh thành cung Thúy Hoa, vua Lý Thái Tổ đại xá cho thiên hạ trong 3 năm, những người mồ côi, góa chồng, già yếu, thiếu thuế lâu năm đều miễn cả.

Năm 1070, đời Lý Thánh Tông, đại hạn, phát thóc và tiền, lụa trong kho để chẩn cấp cho dân nghèo.

Năm 1103, thời Lý Nhân Tông, Thái hậu Ỷ Lan phát tiền ở kho nội phủ để chuộc những người con gái nhà nghèo phải bán mình đi ở đợ, đem gả cho người góa vợ.

Năm 1200, đời Lý Cao Tông, gặp đói to, phát thóc chẩn cấp cho dân nghèo.

Năm 1242, Trần Thái Tông miễn thuế thân đánh cho người không có ruộng đất, hạn hán, miễn một nửa tô ruộng.

Năm 1288, Trần Nhân Tông, sau thắng Nguyên lần thứ ba, đại xá thiên hạ, những nơi bị binh hỏa cướp phá nhiều, thì miễn toàn phần tô, dịch, các nơi khác thì miễn giảm theo mức độ khác nhau.

Năm 1290, đời Trần Anh Tông, gặp đói to, nhiều người bán ruộng, đất, con trai, con gái làm nô tỳ, xuống chiếu phát thóc công chẩn cấp dân nghèo, miễn thuế nhân đinh.

Năm 1303, Thượng hoàng Nhân Tông mở hội Vô lượng phép (một hình thức sinh hoạt của Phật giáo) bố thí vàng bạc tiền, lụa để chẩn cấp dân nghèo trong nước.

Năm 1343 đời Trần Dụ Tông, hạn hán, xuống chiếu giảm một nửa thuế nhân đinh.

Năm 1354 đời Trần Dụ Tông, sâu cắn lúa, giảm một nửa tô ruộng.

Năm 1358, đời Trần Dụ Tông, hạn hán, sâu cắn lúa, xuống chiếu khuyến khích nhà giàu ở các bộ bỏ thóc ra chẩn cấp cho dân nghèo.

Năm 1362, đời Trần Dụ Tông, đói to, xuống chiếu cho nhà giàu dâng thóc để phát chẩn cho dân nghèo, bàn tính theo thứ bậc khác nhau.

Năm 1375, đời Trần Duệ Tông, xuống chiếu cho những người giàu ở các lộ đem dâng thóc, được ban tước theo thứ bậc khác nhau…

Trong triều đại phong kiến, đối với nhà vua “ý trời lòng dân” trở thành lý do định vị. Tuy nhiên một khi đã lên ngôi thì quyền lực của nhà vua là toàn năng và tối thượng, vua lại được coi là “Thiên tử” (con trời) “thế thiên hành đạo” (thay trời cai trị) và là cha mẹ của muôn dân. Vua Lý Thái Tông thì yêu dân như con còn vua Lý Thánh Tông đã từng nói: “Ta yêu con ta như lòng ta làm cha mẹ dân”. Vua Trần Anh Tông có lần khẳng định: “Trẫm là cha mẹ dân, nếu thấy dân lầm than thì phải cứu giúp ngay, há nên so đo khó dễ lợi hại”. Trong “Lộ bố văn”, Lý Thường Kiệt khẳng định: “Trời sinh ra dân chúng, vua hiền ắt hòa mục. Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân”. Như vậy, với quan niệm lúc đó, vua tuy là tối thượng nhưng lại có quan hệ và trách nhiệm của mình đối với dân chúng. Có khi nhà vua coi đó là một tiêu chuẩn chính trị để tự răn mình.

Thời Lý có thể được coi là một thời đại cực thịnh của Đại Việt, thời kỳ Nho, Phật, Lão đồng nguyên, trong đó đạo Phật là Quốc giáo. Ngay sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn đã hạ chiếu miễn giảm sưu thuế trong nhiều năm. Trong gần 18 năm ông cầm quyền đã 3 lần miễn, giảm sưu thuế cho nhân dân. Đây có lẽ là một trong những vị vua hiền sáng nhất dân tộc Việt. Ông cũng là người quyết định rời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Chiếu dời đô có đoạn viết: “…Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh.”… đủ thấy tấm lòng của những ông vua hiền sáng bao giờ cũng hướng đến nhân dân vậy.

Chính vì luôn chăm lo đến đời sống của nhân dân nên Quốc gia Đại Việt thời Lý luôn có biên cương vững chắc, quốc thổ thống nhất, có võ công, có văn hiến, kinh tế, đặc biệt là các nghề nông ta phát triển rực rỡ. Lý Công Uẩn vừa khai sinh triều Lý, vừa đưa thế nước vươn cao khiến các nước lân bang phải nể trọng.

Bước sang vương triều Trần, một vương triều có võ công hiển hách của dân tộc Việt: Đến nay nước sông tuy chảy hoài/ Mà nhục quân thù khôn rửa nổi (Bạch Đằng Giang phú – Trương Hán Siêu), mà để có được những võ công ấy thì việc dưỡng sức dân, đồng cam cộng khổ với nhân dân luôn là kế sách hàng đầu. Người đứng đầu cho tư tưởng này chính là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Chính ông có câu nói nổi tiếng cũng là tư tưởng xuyên suốt cuộc đời ông, triều đại nhà Trần mà các triều đại ở những giai đoạn tiến bộ sau đó đều tiếp thu trong công cuộc dựng nước và giữ nước.

Đến nay, sau hơn 700 năm đại thắng Nguyên – Mông, các nhà nghiên cứu quân sự, sử gia, chính trị gia, các danh tướng mọi thời đại trong và ngoài nước vẫn không ngừng tìm hiểu và tôn vinh thiên tài quân sự Trần Quốc Tuấn. Cách dùng binh độc đáo, nghệ thuật quân sự kỳ tài, tấm gương đạo đức của ông mãi mãi là tài sản vô giá không riêng của dân tộc Việt Nam. Tìm hiểu diễn biến và cục diện chiến tranh trong toàn bộ cuộc đời Hưng Đạo Vương thấy rõ một điều ông không chỉ chủ động trên chiến trường đang diễn ra mà luôn dành toàn bộ tài năng, tâm huyết, chuẩn bị mọi mặt từ trước đó và cả sau khi chiến tranh đã kết thúc.

Tài năng kiệt xuất của Hưng Đạo vương chính là việc nhận thức rõ nhân dân mới là nguồn sức mạnh giữ nước, nguồn sức mạnh vô địch, nguồn sức mạnh mà không một kẻ thù tàn bạo nào có thể khuất phục. Ông luôn chăm lo sức dân ngay từ thời bình cũng như trong thời chiến. Chủ trương sâu sắc của ông mà đỉnh cao là tư tưởng: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc mới là thượng sách giữ nước”.

Cũng chính Hưng Đạo Vương, sau các chiến thắng lừng lẫy đã xác định, đại ý: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục nên quân địch đã phải bị bắt”. Yếu tố đoàn kết từ thượng tầng triều đình đến hạ tầng dân chúng, đoàn kết quân dân, đoàn kết toàn quân, xây dựng đội quân “phụ tử chi binh” chính là khơi dậy mạch nguồn sức mạnh từng bước tiến tới toàn thắng. Đó là nguồn sức mạnh vô địch mà nhân dân Đại Việt không những đứng vững mà còn chiến thắng đế quốc Nguyên – Mông.

Hưng Đạo Vương không những là vị thống soái quân sự cao nhất mà còn là một nhà lý luận, nhà tư tưởng quân sự nổi tiếng với nghệ thuật chiến tranh nhân dân. Điển hình của lý luận quân sự của ông thể hiện cao nhất ở Hịch tướng sĩ và sau này là bản Di chúc lịch sử thể hiện tinh hoa khí phách dân tộc Đại Việt trong việc đánh giặc giữ nước. Tư tưởng khoan thư sức dân, dựa vào dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, toàn quân và triều đình để làm kế sách giữ nước của ông là tư tưởng vượt qua mọi thời gian, đến nay vẫn còn nguyên giá trị, đầy sức sống, luôn có mặt trong mọi thời đại mà hậu thế đã tôn vinh.

Tóm lại, muốn ổn định đất nước, muốn cho thế nước được mạnh, đánh thắng giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc thì phải làm sao giữ được lòng dân, đoàn kết được toàn dân trên cơ sở những chính sách tiến bộ của mình. Khoan thư sức dân luôn luôn là quốc sách và thượng sách giữ nước.

1. Kỷ niệm 73 năm ngày truyền thống Học sinh Sinh viên Việt Nam (09/01/1950 - 09/01/2023)

 

Trần Văn Ơn sinh năm 1931, xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Anh học tiểu học ở thị xã Mỹ Tho, sau cùng gia đình chuyển lên Sài Gòn. Hầu hết anh chị anh đều tham gia phong trào cách mạng, trong đó chị là Trần Thị Lễ, liệt sĩ mất năm 1948.

Tháng 8-1945, anh đậu lớp năm thứ nhất, bậc cao đẳng tiểu học tại trường Pétrus Ký (nay là THPT chuyên Lê Hồng Phong). Năm 1948-1949, anh học xong năm thứ ba bậc cao tiểu học, thi vượt lớp đỗ bằng đệ nhất Pháp (Brevet du 1er cycle). Năm học 1949-1950, khi lên lớp năm tư cao tiểu học thì Trần Văn Ơn đặc cách lên lớp Ban tú tài (lớp seconde, tương đương lớp 10 hiện nay) của trường vì đã có bằng đệ nhất cấp. Trần Văn Ơn là một học sinh chăm ngoan, hiếu nghĩa lễ độ với cha mẹ, thầy cô, bên cạnh học tập còn ham hoạt động xã hội.

Từ 1947, anh tham gia phong trào học sinh yêu nước, tham gia Hội học sinh sinh viên Việt Nam - Nam Bộ. Anh là hội viên mật của Đoàn học sinh kháng chiến nội thành, nhận nhiệm vụ tuyên truyền, vận động học sinh trong trường tham gia vào các hoạt động chống Pháp và chính quyền bù nhìn. Anh là một cột trụ của phong trào học sinh yêu nước của Trường Pétrus Ký.

Trước ngày kỉ niệm 9 năm khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940 - 23/11/1949), Pháp bắt cóc một số học sinh của trường Pétrus Ký, sau sự kiện này nổ ra cuộc bãi khóa của học sinh của 10 trường ở Sài Gòn vào ngày 23-11-1949. Trần Văn Ơn chuẩn bị thi tú tài, nhưng tích cực tham gia cuộc bãi khóa, đứng đầu nhóm học sinh của trường Pétrus Ký đi biểu tình.

Ngày 9-1-1950, Sài Gòn nổ ra cuộc biểu tình lớn của hơn 6000 học sinh-sinh viên và giáo viên các trường, yêu cầu thủ tướng Trần Văn Hữu thả ngay những học sinh, sinh viên bị bắt. 13 giờ hôm đó, chính phủ Trần Văn Hữu huy động lực lượng lớn cảnh sát đàn áp biểu tình, vòi rồng phun nước và dùi cui đánh đập tàn nhẫn người biểu tình. Bắt 150 người, đánh 30 người trọng thương.

Không lùi bước, Trần Văn Ơn cùng một số bạn bè hiên ngang tiến về phía trước lớn tiếng tố cáo tội ác, đồng thời che chở cho các em nhỏ phía sau. Theo trang tỉnh Bến Tre, trong lúc khiêng nữ sinh Tạ Thị Thâu của trường Gia Long bị cảnh sát đánh ngất, Trần Văn Ơn đã bị trúng đạn vào bụng. Theo Lê Trung Nghĩa trên Tuổi Trẻ, Trần Văn Ơn bị bắn trong lúc đang đỡ học sinh trèo lên đống củi chất sát rào để vượt tường.

Cùng với các nạn nhân khác, anh được đưa vào Bệnh viện Chợ Rẫy cứu chữa, tuy nhiên do vết thương quá nặng nên đã qua đời vào 15 giờ 30 phút chiều hôm đó. Khi đó, Trần Văn Ơn chưa đầy 19 tuổi.

Tin Trần Văn Ơn mất lập tức gây náo động trong giới học sinh-sinh viên Sài Gòn. Các học sinh được cử tới để bảo vệ xác Trần Văn Ơn tại nhà thương. Tin này mau chóng trở thành tâm điểm và đồng loạt các tờ báo lớn của Sài Gòn đã đưa tin.

Sau khi đấu tranh với nhà cầm quyền, ban đại diện học sinh trường và gia đình đem xác anh về quàn 3 ngày. Họ lập bàn thờ, đặt linh vị và tổ chức tang lễ cho Trần Văn Ơntrong trường Pétrus Ký. Toàn thể học sinh Pétrus Ký đã mang băng đen để tang anh. Hàng trăm đoàn thể đủ mọi các giới: công nhân, tri thức, thương nhân, công chức, nghệ sĩ, nhà báo, học sinh... đã đến viếng, thắp hương và đặt vòng hoa cho anh. Tổng cộng có hơn 300 vòng hoa, trong số đó có vòng hoa của những người Pháp mang dòng chữ "Soldats démocrates" (Chiến sĩ dân chủ).

Ngày 12-1-1950, lễ tang Trần Văn Ơn được tổ chức, với Trưởng ban lễ tang là giáo sư Lưu Văn Lang. Hàng chục ngàn người đến tập trung tại trường Petrus Ký. Hơn 300.000 người dân Sài Gòn xuống đường ủng hộ. Theo báo Thần chung (số ngày 14-1-1950), để hưởng ứng đám tang Trần Văn Ơn, các hiệu buôn người Việt, người Hoa, người Ấn, các hãng tư nhân khác đều đóng cửa ngày hôm đó, đồng thời các xe rước người đi đưa đám tang đều không lấy tiền, hàng mấy trăm phu xích lô tình nguyện chở hơn 300 vòng hoa. Hai đại biểu học sinh ở Trung và Bắc cũng đáp máy bay vào dự tang lễ.

Sau khi tập hợp đông đủ, đúng 7 giờ 30 phút, đoàn người bắt đầu khởi hành, đi qua các con đường của Sài Gòn, tới nhà vĩnh biệt đón thi hài anh. Học sinh mang theo biểu ngữ, di ảnh Trần Văn Ơn. Dẫn đầu đoàn biểu tình là nhân sĩ trí thức như Lưu Văn Lang, luật sư Trịnh Đình Thảo, Nguyễn Hữu Thọ..., cùng một số người Pháp. Ước tính có 25.000 người đi trong đoàn, cùng với rất nhiều dân chúng Sài Gòn hai bên đường đón tiếp hưởng ứng. Quan tài anh sau khi đưa ra khỏi nhà vĩnh biệt, về nghĩa trang Chợ Lớn để chôn cất.

Tại nghĩa trang Chợ Lớn, nhiều điếu văn tưởng niệm Trần Văn Ơn. Có đoạn:

“Chúng ta sẽ không bao giờ quên được ngày 9-1, ngày mà anh Ơn và các bạn học sinh, sinh viên đã vui lòng đem xương máu, sinh mạng của mình đổi lấy tự do cho các bạn bị giam cầm. Tinh thần bạn Trần Văn Ơn bất diệt!"

Đám tang Trần Văn Ơn đã trở thành một "cuộc biểu dương lực lượng của đồng bào yêu nước Sài Gòn - Chợ Lớn", chống lại chính quyền thực dân Pháp.

Tháng 2-1950, tại Đại hội toàn quốc Liên đoàn Thanh niên Việt Nam lần thứ nhất ở Việt Bắc, quyết định lấy ngày 9-1 hàng năm làm Ngày truyền thống Học sinh Sinh viên Việt Nam.

Ngày 11-1-1979, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký Quyết định công nhận liệt sĩ cho Trần Văn Ơn.

Tháng 3-2000, Trần Văn Ơn được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Tên anh được đặt cho đường và trường học ở Thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Thanh Hóa, Đồng Hới. Ngoài ra, còn được đặt cho giải thưởng Trần Văn Ơn, dành cho học sinh khối chuyên nghiệp và dạy nghề do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức.

Phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về công tác tuyên truyền của Việt Nam hiện nay

 

Công tác tuyên giáo nói chung, công tác tuyên truyền nói riêng là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng nhằm xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhận diện để đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận công tác tuyên truyền của của Đảng, Nhà nước ta trong tình hình hiện nay là một nhiệm vụ quan trọng.

Trong những năm gần đây, các tổ chức phản động người Việt Nam ở nước ngoài; các lực lượng cạnh tranh về tư tưởng, chính trị (những người nghiên cứu lý luận, hoạt động chính trị đảng phái tại một số nước phương Tây và cả những người cơ hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng, chính trị tại Việt Nam…); các cá nhân người Việt ở trong nước bị các thế lực cực hữu nước ngoài mua chuộc, lợi dụng, núp bóng dưới ngọn cờ “dân chủ, nhân quyền”… ngày càng tăng cường xuyên tạc, phủ nhận và tiến hành chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đặc biệt, khi công tác tuyên truyền của chúng ta ngày càng khẳng định được vai trò nòng cốt trong quá trình bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thì các thế lực này lại càng ráo riết chống phá bằng nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi, trong đó việc sử dụng triệt để tiện ích của Internet qua các website, mạng xã hội, các kênh thông tin truyền thông… là hình thức phổ biến nhất.

Gần đây nhất, liên quan đến việc chúng ta đặt tên đường phố, công trình công cộng, trong đó có sự cân nhắc về một số nhân vật lịch sử còn có những ý kiến trái chiều, thì ngay lập tức, thế lực thù địch đã lấy đó làm cơ hội để thực hiện ý đồ xuyên tạc, chống phá. Một mặt, họ cố tình lờ đi nội dung quan trọng là “một số nhân vật lịch sử còn có những ý kiến trái chiều”, mặt khác, nhân danh “giới nghiên cứu” rồi ấu trĩ viện dẫn lịch sử “thời pháp thuộc” thời “Việt Nam Cộng hòa”… và tiến hành trích dẫn ý kiến của những kẻ hời hợt, bảo thủ, kém hiểu biết để rêu rao rằng: “văn bản này của Ban Tuyên giáo Trung ương đi ngược lại sự thật của lịch sử và gây hoang mang trong nhân dân”(!?).

Có thể thấy, nhờ có hoạt động tuyên truyền mà chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã đến với nhân dân một cách kịp thời, hiệu quả và thiết thực. Các vấn đề quan trọng của đất nước, từ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, văn hóa… cho đến đời sống tư tưởng tình cảm, thực hành tôn giáo tín ngưỡng… của nhân dân được phản ánh kịp thời, sinh động. Đây chính là vai trò “cầu nối” giữa “Ý Đảng” với “Lòng Dân” của ngành tuyên giáo; góp phần tăng cường bồi đắp, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước; góp phần nâng cao vị thế quốc gia, lòng tự hào dân tộc, khát vọng Việt Nam.

Trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ không ngừng xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội của chúng ta. Trong bối cảnh đó, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng được xác định là nhiệm vụ và nội dung tất yếu, cơ bản, hệ trọng, quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân ta. Trong đó công tác tuyên truyền phải luôn được xác định là nòng cốt, tự giác, thường xuyên và thiết thực như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tuyên truyền là đem một phần việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm, nếu không đạt được mục tiêu đó thì tuyên truyền thất bại”(3)./.

Phòng, chống sự phai nhạt lý tưởng cách mạng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên

 

Trong cuộc sống của mỗi con người có thể có các loại lý tưởng khác nhau. Có lý tưởng sống được con người nuôi dưỡng suốt cả cuộc đời; cũng có lý tưởng thuộc về một mặt nhất định nào đó, chẳng hạn như lý tưởng chính trị, lý tưởng học vấn, lý tưởng nghề nghiệp, lý tưởng đạo đức, v.v.. Dù là loại nào thì lý tưởng cũng đều đóng vai trò định hướng, có tác dụng điều chỉnh hoạt động và đặc biệt là có sức mạnh kích thích con người hành động. Con người sống trong xã hội mà nếu không có lý tưởng thì thật là vô vị, là “sống hoài, sống phí”.

Sống trong một chế độ xã hội nhất định nào đó thì lý tưởng cách mạng của con người thuộc vào loại lý tưởng chính trị. Bởi vậy, lý tưởng cách mạng không phải là cái gì đó quá viển vông, xa vời hoặc quá trừu tượng mà con người không bao giờ có thể đạt tới. Lý tưởng chính trị của người cách mạng trong thời kỳ mà giai cấp tư sản vừa lúc mới manh nha, còn non trẻ là lật đổ sự thống trị của giai cấp phong kiến già cỗi, bảo thủ, cản trở sự phát triển để thiết lập chế độ chính trị tư sản, xác lập quyền thống trị của giai cấp tư sản đang lên. Lý tưởng cách mạng của những người công nhân giác ngộ sống trong xã hội tư bản đầy rẫy bất công là lật đổ, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, mong ước xây dựng một xã hội tự do, công bằng, nhân văn, bình đẳng.

Lý tưởng cách mạng chung của những người yêu nước chân chính ở các nước đã từng là thuộc địa của chủ nghĩa thực dân không có gì khác hơn là đấu tranh giành lại độc lập cho đất nước và dân tộc mình.

Trong tất cả các giai đoạn cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính lý tưởng cách mạng “không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã thúc đẩy mọi cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, vượt qua mọi hiểm nguy, dấn thân, xông pha vào những nơi khó khăn nhất, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh thân mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Nhờ vậy mà cuộc Cách mạng Tháng Tám đã thành công, hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã thắng lợi trọn vẹn, giang sơn bị chia cắt nhiều năm đã được thu về một mối.

Tiếc rằng trong thời gian vừa qua, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên rất đáng quan ngại. Biểu hiện đầu tiên trong 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ ra là một bộ phận cán bộ, đảng viên: “Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Báo động về sự suy thoái đạo đức, lối sống, nhất là về sự suy thoái lý tưởng cách mạng của một bộ phận cán bộ, kể cả một số cán bộ cấp cao, trong thời gian vừa qua hết sức đáng ngại. Chủ nghĩa cá nhân, động cơ kiếm tiền, bao che để trục lợi, lợi dụng khe hở của công tác quản lý và luật pháp để thu vén, làm giàu cho bản thân và gia đình đều là những nguyên nhân trực tiếp khiến người có chức, có quyền, có địa vị cao trong xã hội trở thành tội phạm. Nhưng nguyên nhân chủ yếu mang tính quyết định, dẫn họ đến sự thoái hóa đó chính là sự tu dưỡng của bản thân quá kém, đặc biệt là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, điều mà họ đã từng tuyên thệ trung thành suốt đời trước cờ Đảng khi họ được kết nạp vào Đảng.

Điều quan trọng hàng đầu cần phải làm để phòng ngừa, chống lại sự phai nhạt lý tưởng cách mạng là quán triệt sâu sắc cho mỗi cán bộ, đảng viên về lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân. Chỉ có sự tự ý thức và sự tự giác thấm nhuần lý tưởng ấy trong mọi tình huống thì mỗi cán bộ, đảng viên mới có thể làm tròn trọng trách của mình trước Đảng, trước nhân dân. Đó là giải pháp quan trọng hàng đầu bên cạnh việc các tổ chức đảng phải thường xuyên, liên tục giáo dục tư tưởng, đạo đức và phong cách cho mỗi cán bộ, đảng viên theo tấm gương Hồ Chí Minh.

 Phòng và chống chủ nghĩa cá nhân thật tốt sẽ góp phần quan trọng trong việc phòng, chống sự suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, nhất là trong việc phòng, chống sự suy thoái lý tưởng cách mạng ở mỗi cán bộ, đảng viên. Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến đổi nhanh chóng, khó lường như hiện nay và trước yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải coi việc thấm nhuần và thực hành đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, một lòng tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, tận tụy phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân chính là giải pháp hữu hiệu nhất để phòng ngừa sự suy thoái, nhạt phai lý tưởng cách mạng, qua đó giữ vững vị thế, vai trò là lực lượng tiên phong, nòng cốt, dẫn dắt và lãnh đạo nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.  

Vạch trần mưu đồ lừa phỉnh, kích động công nhân đình công, biểu tình

 

Lợi dụng tình hình khó khăn trong bảo đảm ổn định thu nhập, việc làm của một số doanh nghiệp xuất khẩu trong thời gian qua, trên mạng xã hội xuất hiện những bài viết kích động công nhân đình công, biểu tình.

Các bài viết này phủ nhận vai trò của Công đoàn Việt Nam, cho rằng Công đoàn Việt Nam không đấu tranh đòi tăng lương cho người lao động, và rằng chỉ có các tổ chức công đoàn độc lập với Công đoàn Việt Nam mới chăm lo tốt cho quyền lợi của người lao động. Đây là âm mưu nguy hiểm, với ý đồ muốn phá hoại ổn định chính trị, phá hoại môi trường đầu tư tại Việt Nam.

Thời gian qua, những khó khăn của tình hình thế giới tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, quan hệ lao động tại khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước, nhất là tại các doanh nghiệp thâm dụng lao động như: Da giày, dệt may, gỗ... Có ít đơn hàng xuất khẩu, nhiều doanh nghiệp buộc phải giảm việc làm, thậm chí cắt giảm lao động ngay vào thời điểm cuối năm 2022 và cận Tết Quý Mão năm 2023, làm ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập, đời sống của công nhân, người lao động.

Do kinh tế thế giới khá ảm đạm, lạm phát cao, nhu cầu tiêu dùng thấp nên theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), số người thất nghiệp năm 2022 có thể lên tới 207 triệu người. Như thế, bảo đảm việc làm, thu nhập cho người lao động đang là khó khăn chung của các nước trên thế giới.

Bất chấp thực tế khách quan đó, có quan điểm sai trái được lan truyền trên mạng cho rằng, Công đoàn Việt Nam hiện nay bỏ mặc, không còn quan tâm tới đấu tranh đòi quyền lợi, không đòi tăng lương cho người lao động, mà chỉ quan tâm kết nạp đoàn viên công đoàn.

Thực tế là vấn đề đấu tranh đòi tăng lương, yêu cầu bảo vệ quyền lợi cho người lao động luôn là mối quan tâm hàng đầu của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Thực tế là trong các cuộc họp của Hội đồng Tiền lương quốc gia, tiếng nói của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam luôn là tiếng nói đầy trọng lượng và rất quyết liệt. Mỗi lần họp bàn về tăng mức lương tối thiểu vùng, đại diện Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam luôn đưa ra một mức đề xuất cao nhất so với các ý kiến khác và đấu tranh quyết liệt với đại diện người sử dụng lao động để bảo vệ đề xuất ấy.

Để bám sát tình hình, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam yêu cầu các cấp công đoàn chỉ đạo công đoàn cơ sở chủ động tham gia với người sử dụng lao động trong quá trình xây dựng thang, bảng lương của doanh nghiệp theo quy định mới về mức lương tối thiểu.

Khi có tranh chấp lao động tập thể, ngừng việc tập thể, đình công tự phát, các cấp công đoàn đều chủ động phối hợp với UBND và các cơ quan chức năng trên địa bàn kịp thời giải quyết, bảo đảm quyền lợi của tập thể người lao động, không để xảy ra điểm nóng về an ninh trật tự.

Đồng thời cần khẳng định rằng, việc chăm lo, bảo vệ quyền lợi cho người lao động không phải chỉ là trách nhiệm của Công đoàn Việt Nam mà còn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa luôn quan tâm chăm lo, bảo vệ, đấu tranh cho quyền lợi của người lao động.

Khi dịch Covid-19 gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống kinh tế-xã hội, nhiều người lao động mất việc, cả hệ thống chính trị của Việt Nam đã quan tâm, hỗ trợ, giúp đỡ công nhân, người lao động, trong đó vai trò của Công đoàn Việt Nam rất nổi bật.

Vì thế, công nhân, người lao động phải có trách nhiệm cùng xây dựng để doanh nghiệp phát triển, từ đó mới có nguồn lực để tăng lương, bảo đảm đời sống. Xây dựng mối quan hệ gắn bó, bảo đảm quyền lợi hài hòa, cùng chia sẻ khó khăn giữa công nhân và người sử dụng lao động là một chủ trương đúng đắn của Công đoàn Việt Nam. Môi trường kinh doanh có ổn định thì các doanh nghiệp mới yên tâm đầu tư vào Việt  Nam. Do đó, việc kích động công nhân biểu tình, đình công tự phát là lừa phỉnh họ, xui họ làm điều sai trái, để rồi tự hủy hoại nồi cơm của chính mình.

Có thể khẳng định, từ khi ra đời cho tới nay, Công đoàn Việt Nam vẫn luôn là tổ chức có vai trò chính trị quan trọng, có uy tín cao, hiệu quả cao trong việc đấu tranh cho quyền lợi của công nhân, người lao động, chưa có tổ chức nào có thể thay thế vai trò của Công đoàn Việt Nam. Không sự bôi nhọ, xuyên tạc nào có thể phủ nhận được thực tế rõ ràng đó.

Phê phán quan điểm đòi “dân sự hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam

 

Hiện nay, trên không gian mạng xã hội đang lan truyền quan điểm “dân sự hóa” Quân đội, với những thủ đoạn che giấu tinh vi của các thế lực thù địch, đã khiến cho không ít người nhẹ dạ cả tin. Vì vậy, việc nhận diện kịp thời và phê phán sự phi lý, phản động của quan điểm “dân sự hóa” Quân đội là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Một số học giả nước ngoài đang ra sức tuyên truyền cho quan điểm “siêu giai cấp” của Quân đội, “dân sự hóa” Quân đội và đi đến kết luận: Quân đội là công cụ của toàn xã hội. Họ cho rằng, "sự tồn tại của Quân đội là cần thiết để bảo đảm cho hoạt động bình thường của bất kỳ hệ thống xã hội nào. Vì vậy, Quân đội là tổ chức đứng ngoài xã hội và không có bản chất giai cấp; là lực lượng vũ trang “trung lập về chính trị” và phải được “dân sự hóa” triệt để”. Thực chất của quan điểm trên nhằm thực hiện mưu đồ “vô hiệu hóa” quân đội ở các nước xã hội chủ nghĩa dẫn đến dao động về tư tưởng, mất phương hướng chính trị, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, hướng tới xóa bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Đây là một thủ đoạn nham hiểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động.

Bởi lẽ, phía sau chính phủ vẫn là một chính đảng đảng cầm quyền (hoặc chi phối chính sách của chính phủ). Các đảng cầm quyền vẫn can thiệp vào quản lý nhà nước về quốc phòng. Với tính cách là một hiện tượng chính trị-xã hội, bất cứ quân đội nào trong lịch sử cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc. Sự quyết định bản chất giai cấp của một quân đội là ở chỗ: Quân đội đó là chỗ dựa của chế độ chính trị-xã hội nào; hoạt động của quân đội đó bảo vệ lợi ích cho giai cấp nào và bản chất giai cấp của nó phụ thuộc một cách trực tiếp vào bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức ra quân đội đó. Bản chất giai cấp của quân đội còn được thể hiện trong quá trình xây dựng và tổ chức quân đội. Giai cấp thống trị bảo đảm sự vững mạnh về chính trị của quân đội, bảo đảm phương hướng phát triển và hoạt động của quân đội phù hợp với lợi ích của giai cấp đó. Để giữ vững phương hướng chính trị và tăng cường bản chất giai cấp cho quân đội, giai cấp thống trị tiến hành truyền bá hệ tư tưởng của nó cho quân đội bằng hệ thống giáo dục có tính chất áp đặt về tư tưởng cho binh lính; thực hiện triệt để đường lối tổ chức, phương hướng hoạt động và kiểm soát mọi hoạt động của quân đội.

Như vậy, sự ra đời, tồn tại và phát triển của quân đội luôn gắn với vai trò của giai cấp và nhà nước. Thực tế cho thấy, giai cấp và nhà nước luôn giữ vai trò quyết định đối với quân đội về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Về chính trị, giai cấp và nhà nước quyết định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và các chức năng, nhiệm vụ cơ bản của quân đội. Đồng thời, hệ tư tưởng của giai cấp đó luôn giữ vai trò thống trị đối với quân đội, chi phối đến đời sống tinh thần của quân đội. Về tổ chức, giai cấp và nhà nước quyết định đường lối, nguyên tắc tổ chức xây dựng quân đội; quyết định cơ chế lãnh đạo, thành phần chỉ huy và binh lính tham gia trong quân đội.

Bên cạnh đó, hoạt động của quân đội phụ thuộc vào chế độ chính trị-xã hội, chịu sự quy định của giai cấp và nhà nước tổ chức ra nó. Là một bộ phận của chỉnh thể xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng, quá trình phát triển của quân đội tất yếu chịu sự chi phối, tác động của các quy luật xã hội nói chung.

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến bản chất giai cấp của quân đội, yếu tố giai cấp luôn tác động trực tiếp, mạnh mẽ và quyết định nhất. Quân đội nào cũng do nhà nước tổ chức ra và chịu sự chi phối bởi đường lối chính trị của một giai cấp. Bài học xương máu của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cho thấy, khi đảng cộng sản mất vai trò lãnh đạo, sự biến chất của nhà nước là không tránh khỏi và hậu quả tất yếu của nó là làm cho quân đội mất phương hướng chính trị. Mặc dù năm 1991, Hồng quân Liên Xô có quân số hơn 3 triệu người nhưng đã không bảo vệ được chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ. Đó là bi kịch lớn của lịch sử!

Vì vậy, việc nhận diện kịp thời và phê phán sự phi lý, phản động của quan điểm “dân sự hóa” Quân đội là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Việc phát huy sức mạnh tổng hợp các tổ chức, các lực lượng trong phòng, chống luận điệu “dân sự hóa” Quân đội, góp phần tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, suy cho cùng cũng là bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐND Việt Nam.

Ngăn chặn âm mưu tác động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh

 

Hiện nay, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nguy cơ hết sức nghiêm trọng đối với sự tồn vong, vững mạnh của đất nước ta, diễn ra ở nhiều lĩnh vực, trong đó có quốc phòng, an ninh. Đây thực sự là một hiểm họa tiềm tàng, một loại kẻ thù giấu mặt, một thứ “giặc nội xâm” nguy hiểm, cần được nhận diện, ngăn ngừa, đấu tranh.

Lợi dụng những vấn đề liên quan đến quốc phòng - an ninh của đất nước, các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh nhiều hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc chống phá. Mục đích của họ là tuyên truyền, kích động nhằm làm lung lạc, suy giảm hoặc mất niềm tin của nhân dân đối với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về sự nghiệp an ninh, quốc phòng. Vì vậy, cần phải nhận diện và đề cao cảnh giác.

Người có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh có 3 mức độ, tăng dần về tính chất.

Ở mức độ biểu hiện đầu tiên, người có biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh có thái độ thiếu tin tưởng vào khả năng, sức mạnh quốc phòng, an ninh trong bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã viết nên những trang sử vẻ vang với bao chiến công chói lọi chống lại kẻ thù ngoại xâm. Nhưng đáng buồn thay, một số kẻ đã vội quên đi những chiến thắng oanh liệt được đánh đổi bằng hi sinh, xương máu của các thế hệ cha anh.

Nhìn lại sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 năm 2014, khi tình hình biên giới, biển, đảo có diễn biến phức tạp, nhạy cảm, những người này thể hiện sự bi quan, hoang mang. Một số quay sang phê phán đường lối xử lý của Đảng, Nhà nước ta. Thậm chí có quan điểm còn cho rằng, Việt Nam là nước nhỏ nên cần phải nhượng bộ, “chấp nhận” theo sự sắp đặt của các nước lớn. Những biểu hiện ấy dẫn đến sự lệch lạc trong nhìn nhận, xem xét các vấn đề về quốc phòng, an ninh; làm ảnh hưởng tới sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang và đối sách của Đảng, Nhà nước.

Ở mức độ tiếp theo, từ thiếu niềm tin, họ bắt đầu đòi hỏi phải có sự đổi mới nhưng theo hướng dựa vào bên ngoài, xa rời nguyên tắc độc lập, tự chủ. Họ muốn đi theo các nước lớn để nhận được sự giúp đỡ về vũ khí, trang bị kỹ thuật nhằm gia tăng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Đây là suy nghĩ phiến diện, một chiều, có thể gây ra mối nguy hại về lâu dài cho đất nước. Bởi lẽ, trên thế giới đã có việc nước nhỏ dựa vào nước lớn để trợ giúp về vũ khí, quân sự. Tuy nhiên, sự trợ giúp này không phải là “miễn phí”, mà còn kèm theo những yêu cầu, đòi hỏi từ nước lớn nên thường dẫn tới yếu tố gây mất ổn định chính trị, thậm chí nguy cơ xảy ra xung đột, chiến tranh.

Ở mức độ cuối cùng, họ xuyên tạc, công kích, chống đối đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Đây là mức độ biểu hiện, phản ánh rõ ràng tính chất trầm trọng và đặc biệt nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Nội dung thông tin và luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh hiện nay hết sức đa dạng, với nhiều biểu hiện khác nhau. Chủ yếu vẫn là: đòi phi chính trị hóa Quân đội và Công an, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang và sự nghiệp quốc phòng, an ninh; xuyên tạc mục đích của các hợp đồng mua bán vũ khí, trang bị cho Quân đội và Công an; xuyên tạc mục đích các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta tới các nước và nguyên thủ các nước tới thăm Việt Nam; xuyên tạc, bóp méo tình hình khiếu kiện, mất ổn định và cách giải quyết của lãnh đạo, chính quyền ở một số địa phương; xuyên tạc lịch sử và thực trạng tình hình biên giới, hiện trạng trên biển...

Mục đích của những thông tin và luận điệu xuyên tạc đó là làm xấu hình ảnh của Quân đội và Công an trước nhân dân và dư luận quốc tế; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo ra sự nghi ngờ, hoang mang trong nhân dân; làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo, cách thức giải quyết sự việc liên quan đến quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, truyền bá tư tưởng, đạo đức, lối sống phương Tây vào CAND, QĐND hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ, lơi lỏng nhiệm vụ, rơi vào lối sống thực dụng, từng bước tác động nhằm làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc và truyền thống tốt đẹp của CAND và QĐND.

Với vai trò là lực lượng vũ trang nhân dân, “thanh kiếm và lá chắn” bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, QĐND có vị trí đặc biệt quan trọng trong cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và vô hiệu hóa nhiều âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch; tổ chức có hiệu quả công tác đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, gương mẫu đi đầu trong thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng“Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”...

Để đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” nói chung và “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh nói riêng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị phải nhận diện chính xác những biểu hiện của “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa”; kiên quyết, kiên trì, chủ động ngăn chặn, phản bác những thông tin, luận điệu sai trái, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Là lực lượng tiên phong, gương mẫu đi đầu, cán bộ, chiến sĩ CAND cần không ngừng rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, quyết tâm giữ mình trong sạch; không sa ngã trước những cám dỗ; không để các thế lực thù địch lợi dụng, mua chuộc, lôi kéo, tác động.

Lối đi ngay dưới chân mình!

 

Còn nhớ, phiên toà xét xử bị cáo Lê Trọng Hùng diễn ra ngày cuối cùng của năm 2021, khi mà cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo trình tự tố tụng thì số cơ hội bên ngoài chờ sẵn để “ném đá” tạo sóng dư luận, lấy cớ đẩy vụ án sang hướng khác để chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Lời nói sau cùng của Lê Trọng Hùng trước toà, nội dung cho thấy bị cáo không ăn năn, hối cải mà vẫn ngoan cố chối tội, thậm chí còn mang tính kích động để những kẻ chống phá lấy cớ vu cáo. Bị cáo Lê Trọng Hùng ngô nghê nói rằng, lẽ ra đã “trở thành đại biểu Quốc hội”, việc bị phạt tù là “ngăn cản sứ mệnh của tôi trong 5 đến 10 năm” và “tôi ở trại giam tôi vẫn gào ra, tôi buộc các anh quản giáo cắt tóc thật đẹp để hôm sau tôi đi bầu cử, thể hiện tôi đang bảo vệ tính chính danh của Nhà nước”… Những lời nói này cho thấy kiểu giả bộ tâm lý có vấn đề để nhạo báng trước công đường.

Một thành phần cổ suý đưa lên trang cá nhân, viết “có những người đi đấu tranh chưa về”; tôn sùng bị cáo Lê Trọng Hùng là “một công dân gương mẫu, người khát khao xây dựng một xã hội dân chủ công bằng văn minh thượng tôn pháp luật”; biến tấu hành động tội lỗi của bị cáo thành “Lê Trọng Hùng vô tội, những việc làm của Hùng chỉ giúp ích cho đất nước và nhân dân”. Từ tháng 4/2020 đến tháng 9/2020, Lê Trọng Hùng đã tự làm, đăng tải phát trực tiếp 7 video clip lên mạng xã hội Facebook. Trong số đó, có 4 video clip chứa nội dung tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân. Bằng việc tung hô các đối tượng với danh hão như “nhà báo tự do”, “nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền”, “tù nhân lương tâm”, “công dân yêu nước”..., thực chất là thủ đoạn để các thế lực thù địch hợp thức hóa việc cung cấp tiền bạc cho những kẻ được họ tiếp tay hoạt động chống Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam. Đồng thời, thông qua đó nhằm tiếp tục cổ súy, lôi kéo các đối tượng khác hoạt động phục vụ âm mưu chống phá. Cùng với việc rêu rao vi phạm nhân quyền, các đối tượng nhằm tạo sóng dư luận, gây sự chú ý từ quốc tế để bôi nhọ, xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, qua đó lấy cớ để gây sức ép, can thiệp vào tình hình trong nước.

Điều này cũng diễn ra như đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang hay các phạm nhân được “vinh danh” giải thưởng nhân quyền năm 2021 của Mạng lưới nhân quyền Việt Nam - VNHRN (Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư…). Được các đối tượng rêu rao, cổ suý, “tôn vinh” thì thực chất chỉ như những con rối, quân cờ, ra toà lĩnh án rồi chấp hành hình phạt nhưng bị kẻ địch bên ngoài mượn tên để điều khiển, vì động cơ chống phá đất nước.

Nghĩ về những trường hợp lạc bước, sai đường, thật đáng trách khi có cả những người vốn có nhiều kinh nghiệm cuộc sống, có những cống hiến nhất định trong công tác trước đây. Như với Nguyễn Tường Thụy (sinh năm 1950 tại Nam Định). Nguyễn Tường Thụy cùng những cá nhân như Phạm Thành, Trần Đức Thạch vốn là “người quen” trên các trang viết chống phá Nhà nước, nhân dân.  Nhiều bài còn cổ suý với những câu từ xuyên tạc, xảo trá như: “Chính họ là những người hiểu hơn ai hết về chế độ cộng sản. Họ biết rõ ngày nào đất nước còn bị cai trị bởi một chế độ độc tài cộng sản thì người dân sẽ không bao giờ được hưởng các quyền căn bản của con người, và chủ quyền đất nước sẽ bị lâm nguy. Chính vì vậy mà họ đã hành động!”. Trên mạng, ông Thụy tung ra các bài viết, các luận điệu đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, câu kết với các tổ chức chống phá bên ngoài, gây bất ổn cho xã hội.

Bởi vậy, chớ nên nghe xúi bẩy từ đâu mà nghĩ khác, làm khác để tự cho mình là “tù nhân lương tâm”, kiếm tìm ảo vọng ở trời Tây. Chẳng có “thiên đường” nào, chẳng có giải thưởng nào từ các thế lực chống phá bên ngoài giúp phạm nhân “đến với tự do, dân chủ”. Muốn trở về với tự do, dân chủ như công dân bình thường, điều trước mắt và quan trọng nhất là trót bước lạc đường thì nay chấp hành án trong trại giam thật tốt, hãy ăn năn hối cải, biết nhận ra lỗi lầm để cải tạo tiến bộ, sớm tìm lại con đường về với gia đình, sống có ý nghĩa trên đất nước, quê hương mình.

Đường về ấy, có quê hương, có những người thân đang ngóng đợi và chẳng những đường về là sự bước về với chính bản thân mình mà còn là cái để cháu con, người thân nhìn vào đó không thấy ái ngại, không thấy xấu hổ.

Đường về ấy không có trong các mỹ từ mà những kẻ giảo hoạt đã, đang tung hô, không có sau cái gọi là “đấu tranh dũng cảm cho nhân quyền”, “giải thưởng nhân quyền”, “nhà hoạt động cải cách”…

Đường về ấy, lối đi ấy ngay dưới chân mình, hãy nhìn lại và hành động.

Cần hành động đúng đắn, tuân thủ luật pháp

 

Ở bất kỳ đất nước nào thì tiền đề, điều kiện để đảm bảo thực hiện tốt quyền con người đều phải gắn với pháp luật, vừa mang tính bảo vệ, vừa mang tính quản lý. Trong giai đoạn hiện nay, các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, quyền con người, quyền công dân là những quyền cơ bản được ghi nhận và thể hiện trong hiến pháp và pháp luật của các nước. Tuy nhiên, mang danh nghĩa “đấu tranh cho dân chủ” để xâm phạm đến khách thể là quốc gia, dân tộc, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân là thủ đoạn mà một số đối tượng đã, đang triệt để lợi dụng. Như trường hợp Bùi Tuấn Lâm đã tiến hành các hoạt động đăng tải bài viết, hình ảnh, video, livestream… có nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Ngày 9/9/2022 vừa qua, cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố Hà Nội ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối với Phan Sơn Tùng về hành vi tương tự. Rõ ràng, hành vi của các đối tượng trên là phạm pháp, tác động xấu đến an ninh, trật tự xã hội nên việc tiến hành các biện pháp khởi tố, bắt tạm giam để điều tra, xử lý là việc làm bình thường của cơ quan tiến hành tố tụng. Các hoạt động trên góp phần giữ gìn an ninh xã hội, đảm bảo tính nghiêm minh, góp phần làm cho người dân vững tin hơn vào pháp luật.

Việc kêu gọi trả tự do cho đối tượng vi phạm pháp luật là sai trái vì những lý do sau:

Trước tiên, chủ quyền quốc gia, quyền dân tộc tự quyết là những nguyên tắc cơ bản trong hợp tác quốc tế về bảo vệ và bảo đảm quyền con người. Hiến chương Liên hợp quốc (26/6/1945), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16/12/1966 đã để ở vị trí ưu tiên số một về quyền dân tộc tự quyết. Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị quyền con người châu Á (29/3 – 2/4/1993) và một nội dung cơ bản của hội nghị quốc tế về quyền con người tổ chức tại Viên (Áo) tháng 6/1993 đã khẳng định độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và quyền tự quyết dân tộc là nguyên tắc trong quan hệ quốc tế hợp tác giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền con người… Các quốc gia, tùy theo bối cảnh lịch sử, chế độ xã hội, điều kiện kinh tế, truyền thống văn hóa mà thực hiện những vấn đề có quan hệ tới quyền con người. Việc bắt giữ các đối tượng xâm hại khách thể được Điều 117, BLHS bảo vệ là hoạt động bình thường của cơ quan tiến hành tố tụng, tuân thủ luật pháp và làm vững chắc thêm sức mạnh, tính tôn nghiêm của luật pháp, phù hợp với điều kiện xã hội của Việt Nam, bối cảnh khu vực, quốc tế. Việc kêu gọi thả tự do cho đối tượng đang bị điều tra về hành vi phạm tội là trái với nguyên tắc trong quan hệ quốc tế, đồng thời là sự can thiệp vô lý đối với hoạt động tố tụng của một quốc gia.

Hơn nữa, hành vi của Bùi Tuấn Lâm và các đối tượng nêu trên là xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân, chế độ và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Việc HRW cũng như các tổ chức phản động, chống phá phản đối việc bắt giữ Bùi Tuấn Lâm, Đặng Đăng Phước và kêu gọi trả tự do ngay lập tức cho những đối tượng này dẫn đến sự vi phạm trong nguyên tắc giáo dục của pháp luật. Cụ thể, khi một người có hành vi phạm tội mà không bị xử phạt hoặc được sự bênh vực, hỗ trợ của cá nhân, tổ chức khác càng làm cho đối tượng ảo tưởng, cho rằng mình có thể đứng ngoài vòng pháp luật, thích làm gì thì làm mà chính quyền “không thể đụng tới”, từ đó gây khó khăn trong việc đảm bảo quyền con người. Đáng ra, HRW cần phải có các động thái khuyên răn, yêu cầu những ai phạm pháp thì phải từ bỏ, chấp hành luật pháp nhà nước sở tại thì mới phù hợp với ý nghĩa, nhân danh tổ chức hoạt động “vì quyền con người”. Ngược lại, khi HRW hay các tổ chức khác bất chấp sự thật, can thiệp sai trái cho đối tượng phạm pháp thì chính những tổ chức này đang vi phạm luật pháp quốc tế, vi phạm các nguyên tắc trong bảo đảm quyền con người. HRW và các tổ chức, cá nhân đang có quan điểm, hành động sai trái cần hành động đúng đắn, phù hợp các giá trị của văn minh, tiến bộ nhân loại.

Còn với những đối tượng phạm pháp, không nên chờ đợi từ sự cổ suý, can thiệp của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào. Chờ đợi sự cổ suý sẽ không làm họ tỉnh ngộ mà tiếp tục dấn sâu vào vết xe đổ, nối tiếp những sai lầm.

Đại úy Bác sỹ Phạm Thành Luân

 

Trời chập choạng tối nhưng tại phòng trực của Trung tâm Chẩn đoán và Điều trị Ung bướu, Bệnh viện Quân y 175, Đại úy, Bác sĩ Phạm Thành Luân vẫn đang trò chuyện, tư vấn cho người bệnh. Ban ngày, anh đang đi học cao học ngành ung thư tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh nên khoảng thời gian nào không học, anh dành để tiếp xúc, điều trị cho bệnh nhân tại trung tâm. Trò chuyện với Luân, chúng tôi cảm thấy vô cùng ấm áp ở ánh mắt hồn hậu chan chứa tình thương, nét nhân văn và y đức tỏa sáng của một lương y Bộ đội Cụ Hồ. Anh là một trong những bác sĩ được bệnh nhân tin tưởng và tìm đến nhiều nhất ở trung tâm này. Họ tìm đến anh không chỉ vì anh giỏi chuyên môn mà còn bởi cách anh tiếp xúc với bệnh nhân thật giản dị, ân cần, chu đáo và nụ cười luôn thường trực trên môi.

Điều trị ở trung tâm được vài tháng, cô Lê Liên Hương, ngụ ở quận 10, TP Hồ Chí Minh luôn dành tình cảm đặc biệt với bác sĩ Luân. Cô Hương tâm sự: “Bác sĩ Luân chăm sóc tôi và các bệnh nhân như người thân trong gia đình. Hễ gặp bác sĩ Luân, dẫu ai có đang đau cũng sẽ nở nụ cười. Bác sĩ Luân trẻ và rất thông minh, chịu khó học hỏi. Bất kỳ khi nào bệnh nhân có câu hỏi đột xuất thì bác sĩ Luân đều trả lời thấu đáo. Điều trị ở đây, tôi thấy bệnh tình đã tiến triển tốt. Bệnh tật thì không ai muốn nhưng vào trong này mới nhận ra, áp lực dành cho bác sĩ là quá lớn, nhất là với bệnh nan y, ung thư, sự sống càng mong manh hơn. Bác sĩ Luân đã tạo ra bầu không khí vui tươi, ai cũng như người nhà với nhau đã giúp bệnh nhân thêm lạc quan, tin tưởng vào cuộc sống”.

Có rất nhiều câu chuyện cảm động đáng để kể ra về Đại úy Phạm Thành Luân nhưng để hình thành nên phong cách, y đức của anh hôm nay chính là sự gắn bó sâu sắc với người bệnh. Anh kể, khi còn thực tập ở Bệnh viện K (Hà Nội), anh tình cờ gặp một nữ bệnh nhân rất đáng thương. Bệnh nhân này sáng sớm vẫn đi bán rau ngoài chợ rồi mới vào viện để truyền dịch. Gia cảnh khó khăn nên bà đi một mình, tự lo mọi chuyện vậy mà lúc nào cũng tươi cười, lạc quan. Bác sĩ Luân đã ân cần thăm hỏi, trò chuyện động viên và chăm sóc bà. Qua đó, bác sĩ Luân quen thêm và giúp đỡ nhiều bệnh nhân khác. Anh nói: “Qua những bệnh nhân này, tôi được hiểu thêm nhiều kiến thức, triệu chứng, tác dụng phụ mà sách vở đề cập chưa hết hoặc bài học chưa thể truyền tải. Hành trang sau khi tốt nghiệp của tôi có rất nhiều kinh nghiệm từ thực tiễn. Quan trọng hơn, tôi hiểu rằng, cần dành thời gian trò chuyện, tiếp xúc bệnh nhân ung thư nhiều hơn và tạo tiếng cười như là phương thuốc quý”.

Cách đây 5 năm, bác sĩ Luân gặp bà Trương Thị Liệu (80 tuổi, ngụ Đồng Nai) bị ung thư xoang hàm giai đoạn 4. Bà có bảo hiểm nhưng do sống một mình, bà gặp rất nhiều khó khăn trong đi lại cũng như chi phí điều trị. Cảm thương hoàn cảnh của bà, bác sĩ Luân đã trích một phần lương để giúp đỡ và dần dần kết nối được một nhà hảo tâm lo lắng, hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân. Cứ như vậy, định kỳ 3 tuần, một người cháu chở bà Liệu xuống trung tâm gửi lại bác sĩ Luân. Mỗi lần gặp nhau như bác sĩ Luân ân cần hỏi thăm bà, cười nói rôm rả. Bà Liệu dường như đã quên đi những cơn đau do bệnh tật.

Cục diện quan hệ quốc tế mới

 

“Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản của các thế lực thù địch nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự(1). Nhìn lại quá trình hình thành, phát triển của chiến lược “diễn biến hòa bình”, có thể thấy không những là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của các thế lực thù địch, mà còn chịu sự chi phối, tác động trực tiếp của cục diện quan hệ quốc tế qua các thời kỳ. Ngay từ những năm cuối thập niên 40 của thế kỷ XX, khi trật tự thế giới hai cực đối đầu dần hình thành, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” đã ra đời để hỗ trợ cho các đòn tiến công quân sự là chủ yếu, nằm trong chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” sự phát triển của chủ nghĩa xã hội. Theo thời gian, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” tiếp tục được điều chỉnh và đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, khi các nước xã hội chủ nghĩa gặp nhiều khó khăn, nội bộ phát sinh những vấn đề phức tạp, các thế lực thù địch nhận thấy “thời cơ lịch sử” đã đến và thời điểm này, “diễn biến hòa bình” được đẩy mạnh thực hiện, phát triển, chính thức trở thành một chiến lược - bộ phận quan trọng, chủ yếu trong chiến lược toàn cầu “vượt trên ngăn chặn”.

Hiện nay, thế giới đang chứng kiến nhiều sự thay đổi sâu sắc. “Do tác động của đại dịch COVID-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới”(2). Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, dưới nhiều hình thức mới, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Hợp tác, cạnh tranh, sự va chạm, cọ xát, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, các trung tâm quyền lực ngày càng gia tăng. Trong cách thức tiến hành, các nước lớn coi trọng sử dụng “quyền lực thông minh”, kết hợp giữa “quyền lực cứng” (chỉ huy, cưỡng bức, định đoạt dựa trên sức mạnh kinh tế, quân sự) với “quyền lực mềm” (khả năng thuyết phục, thu hút, tạo ảnh hưởng dựa trên sự hấp dẫn của giá trị) một cách uyển chuyển, khôn khéo. Trong bối cảnh quốc tế và các khu vực diễn biến phức tạp, khôn lường đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” dưới một bộ mặt mới, ngày càng bộc lộ rõ sự tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc.