Thứ Tư, 12 tháng 4, 2023

Về chủ nghĩa dân túy và đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện của nó ở Việt Nam hiện nay

 

Chủ nghĩa dân túy là hiện tượng phức tạp, được chú ý nhiều trong đời sống chính trị trên thế giới hiện nay. Bài viết phân tích nguồn gốc, đặc trưng của chủ nghĩa dân túy và những biểu hiện chính của nó trong thế giới đương đại; đồng thời phân tích những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay, mặc dù nó chưa trở thành trào lưu điển hình và chưa chi phối đời sống chính trị - xã hội nhưng đã xuất hiện và có nguy cơ tạo ra những hậu quả tiêu cực nếu chúng ta không nhận diện và đấu tranh, ngăn ngừa kịp thời.

Tư tưởng dân túy có từ xa xưa trong lịch sử, nhưng đến các thế kỷ XVII, XVIII và XIX mới phát triển mạnh mẽ trong các phong trào nông dân, thể hiện sự ủng hộ hoặc nhân danh nông dân, tìm mọi cách chống lại sự phát triển của sở hữu lớn tư bản chủ nghĩa, chống lại giai cấp tư sản trong quá trình cách mạng tư sản, hướng đến những phong trào đấu tranh mang tính không tưởng (không lấy chính sự phát triển hiện tại của những quan hệ kinh tế và xã hội, như cách nói của V.I. Lê-nin, làm tiêu chuẩn cho lý luận của mình, như ở các nước phương Tây, nhất là ở Anh, Mỹ, Pháp và sau đó ở Nga,...).

Ở Nga, vào cuối thế kỷ XIX, thuật ngữ “chủ nghĩa dân túy” được sử dụng để chỉ trào lưu xã hội theo chủ nghĩa không tưởng mang tính nông dân của tầng lớp thanh niên trí thức nước này. Những người sáng lập ra chủ nghĩa dân túy ở Nga là Ghéc-xen, Chéc-nư-sép-xki. Trong những năm 70 của thế kỷ XIX, những nhà tư tưởng tiêu biểu của chủ nghĩa dân túy Nga là Ba-cu-nin, Láp-rốp, Mi-khai-lốp-xki. Đặc trưng của chủ nghĩa dân túy ở Nga lúc này là tư tưởng dân chủ nông dân, mơ ước chủ nghĩa xã hội với hy vọng bỏ qua chủ nghĩa tư bản, cho rằng có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội bằng hình thức công xã nông thôn và lấy giai cấp nông dân (do trí thức lãnh đạo) là động lực chính của cách mạng. Trong những năm 1870 - 1880, chủ nghĩa dân túy có vai trò tích cực trong đấu tranh chống Nga hoàng, nhưng về sau nó gây trở ngại cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác vào Nga, vì nó chủ trương xây dựng chủ nghĩa xã hội dựa vào nông dân và công xã nông thôn, phủ nhận sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga, phủ nhận vai trò cách mạng và lãnh đạo cách mạng của giai cấp vô sản, khẳng định chủ nghĩa tư bản có thể đi vào đời sống nhân dân mà không làm cho nông thôn phá sản, không bóc lột nông dân lao động. Chủ nghĩa dân túy ở Nga khi đó đưa ra những chương trình cải cách nhỏ, không đụng chạm đến kinh tế của phú nông, coi mâu thuẫn giai cấp ở nông thôn là tầm thường, mà một nhà nước bình thường của dân cũng có thể dễ dàng khắc phục. Thực chất của chủ nghĩa dân túy ở Nga khi đó, như V.I. Lê-nin khẳng định, là thái độ thỏa hiệp với Nga hoàng, là từ bỏ cuộc đấu tranh chống chế độ Nga hoàng, hy vọng Chính phủ Nga hoàng đứng trên các giai cấp và có khả năng cải thiện đời sống của nông dân. Do đó, V.I. Lê-nin nhấn mạnh, muốn đem chủ nghĩa Mác kết hợp với phong trào công nhân Nga, muốn thành lập chính đảng mác-xít cách mạng Nga, nhất thiết phải đập tan ảnh hưởng của chủ nghĩa dân túy trong phong trào cách mạng Nga nói chung và trong phong trào công nhân Nga nói riêng. 

Ở Mỹ, thuật ngữ “chủ nghĩa dân túy” được sử dụng rộng rãi kể từ những năm 90 của thế kỷ XIX, khi phong trào dân túy của Mỹ thúc đẩy người dân sống ở nông thôn và Đảng Dân chủ chống lại những người theo Đảng Cộng hòa sống ở đô thị. Đến những năm 50 của thế kỷ XX, thuật ngữ “chủ nghĩa dân túy” được sử dụng một cách rộng rãi hơn trên thế giới, nhằm mô tả các phong trào chính trị khác nhau, từ chủ nghĩa phát-xít, chủ nghĩa cộng sản châu Âu, chủ nghĩa chống cộng đến chủ nghĩa phân biệt chủng tộc,... và có rất nhiều cách hiểu khác nhau về chủ nghĩa dân túy. 

Đến đầu thế kỷ XXI, như F. Đéc-cơ (F. Decker) và C. Mớt-đơ (C. Mudde) xác định, chủ nghĩa dân túy trên thế giới có thể được xem là một hệ tư tưởng, nhưng là một “hệ tư tưởng mỏng”, nhằm giải thích thế giới và biện minh cho những mục tiêu cụ thể; được xây dựng trên cơ sở đa số người dân chống lại tầng lớp tinh hoa quyền lực; không có hệ thống giá trị cụ thể, mà chỉ nhấn mạnh sự tương phản giữa đa số nhân dân và tầng lớp tinh hoa; hướng vào việc tranh giành lòng tin của quần chúng, lợi dụng người dân cho mục đích riêng với lời hứa suông và thiếu trách nhiệm(1). 

Chủ nghĩa dân túy, theo F. Phu-ku-y-a-ma, là thuật ngữ được sử dụng rất lỏng lẻo, nhằm mô tả một loạt các hiện tượng không nhất thiết dung hợp với nhau. Chủ nghĩa dân túy có các đặc điểm chính là: 1- Là chế độ chính trị theo đuổi những chính sách được dân chúng ủng hộ trong một giai đoạn ngắn; 2- Là việc lấy một số nhóm sắc tộc hoặc chủng tộc được coi là “nhân dân” làm nền tảng cho tính chính danh của chế độ; 3- Là phong cách của các nhà lãnh đạo, cầm quyền tự xưng là người đại diện trực tiếp của nhân dân, hướng niềm hy vọng (và cả sự phản kháng) của người dân vào những hành động tức thời(2). Còn theo Rô-nan F. Inh-gơ-hát (Ronald F. Inglehart) và N. Pi-pa No-rít (N. Pippa Norris), chủ nghĩa dân túy hiện nay có ba yếu tố chủ yếu: 1- Sự minh triết của nhân dân với tư cách số đông người; 2- Sự ưa thích các nhà lãnh đạo độc đoán; 3- Đề cao tinh thần bài ngoại, ưu tiên người bản địa(3).

Ngày nay, thậm chí đã xuất hiện những hình thức biểu hiện của chủ nghĩa dân túy mới, như chủ nghĩa dân tộc dân túy (populist nationalism), chủ nghĩa dân túy mới (neo-populism), với những thủ đoạn chính trị mang tính chất mị dân của một số giới chính trị tác động vào quan điểm, tâm lý của đám đông người dân (cử tri) để kêu gọi, tổ chức phong trào nhằm lôi kéo, tranh thủ quần chúng, giúp nhiều nhà dân túy giành được quyền lực, tạo ra những thay đổi lớn về tương quan lực lượng có lợi cho mình trên chính trường và làm thay đổi chính sách. 

Với tính cách là phong trào chính trị, phong trào dân túy thường nhấn mạnh đến đặc điểm văn hóa, tình cảm tự phát và nhất là lợi ích thường nhật, trước mắt của người dân. Các hoạt động của phong trào dân túy thường được diễn ra: Thứ nhất, thông qua các cuộc gặp gỡ trực tiếp, tìm hiểu và “lắng nghe”, “chia sẻ” ý kiến, nguyện vọng của số đông trong một nhóm dân cư bị thiệt thòi nhất định, hoặc các cuộc họp của dân chúng, trưng cầu dân ý hay các hình thức dân chủ trực tiếp, trong khi lại ít hoặc không cần quan tâm đến nguyện vọng, lợi ích chung của toàn xã hội; tập trung chú ý vào các quyền và lợi ích nhiều hơn là trách nhiệm và nghĩa vụ của các nhóm dân cư này. Thứ hai, thông qua hoạt động nghị trường ở các cơ quan dân cử với các tranh luận nghị sự, các sinh hoạt của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các cuộc mít-tinh, biểu tình,... Thứ ba, thông qua cá nhân các nhà dân túy - những người được “hâm mộ” với những phong cách chính trị có khả năng tạo “hình ảnh lớn” và “ấn tượng mạnh”, có các hình thức và thủ thuật “hùng biện chính trị” khi nêu chiến lược hay sách lược “đấu tranh” mang tính chất mị dân, nhằm lôi kéo, tranh thủ quần chúng để đạt được mục đích của họ.

Cho đến nay, các phong trào được coi là chủ nghĩa dân túy, như F. Phu-ku-y-a-ma xác định, còn có thể được khu biệt thành hai nhóm lớn: 1- Chủ nghĩa dân túy Cánh hữu (phổ biến ở khu vực Bắc Âu, bảo vệ các nhà nước phúc lợi nhưng không mở rộng dịch vụ, trợ cấp xã hội, dựa vào tầng lớp trung lưu, nhấn mạnh yếu tố sắc tộc và chống người nhập cư; những người thuộc tầng lớp lao động ở Mỹ ủng hộ Tổng thống Mỹ Đ. Trăm;...); 2- Chủ nghĩa dân túy Cánh tả (phổ biến ở khu vực Mỹ La-tinh và Nam Âu, được sự ủng hộ của người nghèo và hướng theo các chương trình xã hội tái phân phối lợi ích, khắc phục tình trạng bất bình đẳng về kinh tế; không nhấn mạnh vấn đề sắc tộc hoặc nhập cư)(4). Tuy nhiên, trong thực tế, thật khó phân định những người dân túy cánh tả hay cánh hữu một cách rõ ràng, bởi chủ nghĩa dân túy giống như một cách thức tìm kiếm quyền lực hơn là một lý tưởng chính trị. Những người dân túy thường có nét chung là có sức thu hút cá nhân, có tài hùng biện và thuyết phục số đông, nhất là những lúc người dân phải đối mặt với những khó khăn do suy thoái về kinh tế hay bất ổn về an ninh. Ngoài ra, lại có những nhóm, phong trào dân túy không thực sự thuộc nhóm nào trong hai nhóm nêu trên. Chẳng hạn, Phong trào Năm Sao ở I-ta-li-a, trong khi chống lại các thiết chế đã định hình và phản đối tầng lớp tinh hoa I-ta-li-a, nhưng khác với những người dân túy ở cả Nam Âu và Bắc Âu, khi nó dựa chủ yếu vào giai cấp trung lưu lớp giữa và lớp trên ở đô thị hơn là đặt nền tảng trên giai cấp lao động đang suy thoái.

Chủ nghĩa dân túy chứa đựng rất nhiều yếu tố phức tạp và cần được nhìn nhận từ nhiều cách tiếp cận khác nhau(5). Chẳng hạn, ở cách tiếp cận ý thức hệ, có thể thấy nguồn gốc tư tưởng của nó không thuần nhất; ở cách tiếp cận “kỹ thuật”, có thể xem nó như là những chiến lược, đối sách hay phong cách, phương pháp thu hút quần chúng, sức hấp dẫn cá nhân, tài hùng biện, thuyết phục đối với số đông dân chúng của các nhà dân túy. 

Từ những năm đầu thế kỷ XXI và nhất là từ năm 2016 trở lại đây, chủ nghĩa dân túy mới trỗi dậy ở nhiều nước với việc nhiều nhà dân túy giành được các vị trí lãnh đạo, gây ra những thay đổi trên chính trường quốc gia và quốc tế. Nguyên nhân làm xuất hiện chủ nghĩa dân túy rất đa dạng và phức tạp, từ kinh tế đến chính trị, từ xã hội đến văn hóa và ngày nay là vấn đề môi trường, cạn kiệt tài nguyên (Chẳng hạn, đó là sự bất bình đẳng kinh tế, phân biệt giàu - nghèo, bất mãn xã hội, phản ứng của các bộ phận dân cư từng chiếm ưu thế trước những thay đổi về các giá trị vốn đe dọa vị thế của họ, bất bình đẳng giới, bạo lực và buôn bán các trẻ em gái, phân biệt tôn giáo, chủng tộc, tư tưởng bài ngoại,...). Chủ nghĩa dân túy thường phát triển khi người dân trong xã hội phải đối mặt với những khó khăn do suy thoái hay khủng hoảng về kinh tế, bất ổn về xã hội, an ninh, môi trường và trước sự lúng túng, bị động, thất bại của các đảng cầm quyền, chính quyền hay sự suy thoái, nạn quan liêu, tham nhũng của công chức nhà nước; tình trạng bấp bênh của nền kinh tế trong bối cảnh các thay đổi về lực lượng lao động ở các xã hội hậu công nghiệp; những thay đổi về văn hóa và dân số;... Do vậy, dù với nội dung hay hình thức nào, về bản chất, chủ nghĩa dân túy cũng vẫn là một loại tư tưởng tiểu tư sản, duy tâm, phản khoa học, không tưởng, mị dân và thậm chí phản động.

Chủ nghĩa dân túy ngày nay có xu hướng trỗi dậy và hiện đang trở thành làn sóng trên thế giới, nhất là ở các nước châu Âu và châu Mỹ. Làn sóng chủ nghĩa dân túy có thể đưa đến những hệ quả bất ngờ và gây bất ổn cho nền chính trị các nước, các khu vực và thế giới, làm thay đổi đường lối, chính sách của các đảng cầm quyền và các chính phủ. Chẳng hạn, thắng lợi trong các cuộc bầu cử của Mặt trận Dân tộc Pháp, Đảng Độc lập Anh, Đảng Chọn lựa cho Đức, Phong trào Năm sao ở I-ta-li-a, Đảng Tự do Hà Lan, Đảng Tự do Áo, và nhất là kết quả trưng cầu dân ý của đa số cử tri Anh đồng ý việc nước này ra khỏi Liên minh châu Âu (Brexit); “cuộc chiến giai cấp” giữa những người hưởng lợi từ một thế giới toàn cầu hóa với những người cảm thấy bị bỏ lại phía sau; sự phản ứng của người dân trước những khó khăn hay thất bại trong các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của chính quyền, như Phong trào Áo Vàng ở Pháp hiện nay,... đã cho thấy rõ điều đó. Đặc biệt, chủ nghĩa dân túy cánh hữu đang có xu hướng thắng thế, mà hệ lụy của nó là có thể làm đảo ngược một số đường lối tích cực mà các quốc gia đang theo đuổi, như sự bình đẳng giới, bình đẳng kinh tế, sự hòa hợp giữa các dân tộc và xu hướng hợp tác quốc tế, chống chủ nghĩa độc quyền, bảo hộ. 

Có thể nói, chủ nghĩa dân túy là những thủ pháp, thủ thuật của giới hoạt động chính trị nhằm lôi kéo sự chú ý của người dân, thông qua nghệ thuật diễn thuyết với nội dung mơ hồ, khó thực hiện trong thực tế, nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó có tính chất ngắn hạn, nhất thời của người dân, nhất là của giới bình dân. Đặc điểm chung của chủ nghĩa dân túy là tách rời phát ngôn với hành động, chỉ làm thỏa mãn nhu cầu trước mắt của dân chúng hoặc một bộ phận dân chúng, nhanh chóng thay đổi quan điểm và không nhất quán một nguyên tắc nào. Hệ quả, thậm chí là hệ lụy của chủ nghĩa dân túy là nó thường gắn với chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, tinh thần quốc gia vị kỷ; chủ nghĩa bành trướng, bá quyền; sự ngạo mạn và chủ nghĩa biệt lập văn hóa, vấn đề di cư, nhập cư,... với những hình thái và mức độ biểu hiện khác nhau.

Hiện nay, chủ nghĩa dân túy đang có nguy cơ ảnh hưởng sâu và tiêu cực tới Việt Nam, mặc dù ở Việt Nam chủ nghĩa dân túy không có cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội để tồn tại dưới dạng “chủ nghĩa”, mà mới chỉ tồn tại với tính cách là quan điểm, tư tưởng, không thành hệ thống lý luận và chỉ biểu hiện ở phát ngôn, hành động của một số người. Những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam dù chưa điển hình và chưa trở thành trào lưu chi phối đời sống chính trị - xã hội, nhưng đã xuất hiện nguy cơ tạo ra những hậu quả tiêu cực. Mức độ và phạm vi ảnh hưởng tiêu cực của các quan điểm, tư tưởng và hành động của chủ nghĩa dân túy đang có nguy cơ tăng lên trong đời sống xã hội, có khả năng lan rộng và thấm sâu - trở thành mảnh đất màu mỡ cho những kẻ cơ hội, mị dân lợi dụng - nên rất cần nhận diện và đấu tranh phòng ngừa, xử lý kịp thời, có hiệu quả.

Từ thực tế, phải chăng, có thể thấy những nhóm biểu hiện chủ yếu và bước đầu của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay như sau: 

Thứ nhất, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, tôn thờ và chạy theo những lợi ích trước mắt, thực dụng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân - những biểu hiện manh nha của chủ nghĩa dân túy. Một số phần tử phản động và cơ hội chính trị ra sức tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ, vu cáo, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; “tầm thường hóa” lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cổ xúy mọi người chỉ theo đuôi thực tiễn, xem thường lý luận, làm cho mọi người không quan tâm và mất niềm tin, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; phủ nhận chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và khả năng đổi mới, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; xem nhẹ vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự sáng tạo của nhân dân trong công cuộc đổi mới đất nước.

Thứ hai, những phát ngôn và hành động của những phần tử cơ hội chính trị, nhất là những phát ngôn, những bài viết mang tính mị dân trên các phương tiện truyền thông đại chúng, các diễn đàn, các trang mạng xã hội,... thể hiện dưới dạng những thủ đoạn và nội dung như sau: 1- Có những phát ngôn và hành động trái với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước (đòi tự do, dân chủ không giới hạn, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa,...); 2- Lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân để kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, phá hoại đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước, âm mưu đẩy đất nước vào bất ổn, phá vỡ môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước; 3- Lạm dụng các quyền tự do, dân chủ để đưa ra những đòi hỏi phi lý, những chương trình hành động có tính mị dân, không đúng chính sách, pháp luật, thiếu tính khả thi, xa rời thực tế; tranh thủ dư luận xã hội với dụng ý xấu, động cơ không lành mạnh, từ đó gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ; 4- Lợi dụng tình hình đời sống và sản xuất còn có khó khăn, yếu kém để kích động, lôi kéo một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân không vững vàng đi theo, gây rối, chống phá, gây mất ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội; 5- Sử dụng công nghệ thông tin hiện đại để bịa đặt, tung tin thất thiệt, gây hoang mang trong dư luận xã hội; lợi dụng, thổi phồng những khó khăn, hạn chế, yếu kém, khuyết điểm trong lãnh đạo và quản lý, làm mất uy tín của Đảng và Nhà nước; xuyên tạc lịch sử. Lập các trang điện tử để đăng tin, bài với dụng ý xuyên tạc, bịa đặt, phản ánh sai lệch tình hình đất nước; công kích, làm mất uy tín của cán bộ lãnh đạo, kích động tâm lý bất mãn, phản đối; 6- Có những lời nói, việc làm “tạo tiếng vang”, sáo rỗng, không thực tế, thiếu trách nhiệm, lấy lòng đám đông, tạo cảm xúc, lợi dụng, kích động phản ứng của người dân trước những vấn đề bức xúc nhất định của xã hội với những dụng ý, động cơ thiếu trong sáng và vì lợi ích riêng; tạo tâm lý hoài nghi, bất mãn, dao động trên một số diễn đàn và nhất là trên các trang mạng xã hội; kêu gọi biểu tình, cổ vũ tụ tập đông người với những “khẩu hiệu” “bất tuân dân sự” gây sốc, làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ ba, xuất hiện những người cơ hội dưới dạng “theo đuôi quần chúng”, “chiều theo” ý kiến, nguyện vọng của một nhóm nhất định nhân danh “quần chúng” mà bỏ qua các nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; “lấy lòng quần chúng” để giành chức quyền, mưu lợi ích riêng; bám giữ “tư duy tiểu nông”, “tiểu tư sản” trong một số trí thức và người dân, gây bất mãn với Đảng, Nhà nước và chế độ; hô hào những người còn ngộ nhận, tự phát, bất mãn, vi phạm pháp luật, làm công cụ chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, xuất hiện một số cán bộ, đảng viên có quan điểm, lời nói, hành động không đúng với chủ trương, đường lối, nguyên tắc của Đảng, không đúng quy định pháp lý, thiếu tính khả thi, vượt quá giới hạn thẩm quyền; hứa suông, nói không đi đôi với làm, nói nhiều, làm ít, nói một đường, làm một nẻo; cơ hội, lợi dụng, tranh thủ phiếu bầu của những cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, thoái hóa, biến chất; “tư duy nhiệm kỳ”, đề cao lợi ích trước mắt, cục bộ, địa phương; đưa ra những tuyên bố “gây sốc” trong cộng đồng nhằm mị dân, lấy lòng đám đông trong việc giải quyết những vấn đề bức xúc trong xã hội, đề cao những lợi ích trước mắt của một bộ phận nhân dân; nhân danh “mối quan hệ trực tiếp với nhân dân”, “ý muốn của số đông”, “đại diện cho nhân dân”, hướng hành động của người dân vào việc làm phức tạp thêm những hạn chế, bất cập của chính quyền, kích động họ có những hành động tự phát, tức thời chống đối chính quyền, gây mất ổn định chính trị, xã hội và thiệt hại cho đất nước; tác động vào tâm lý đám đông để kêu gọi, tổ chức phong trào, lôi kéo, tranh thủ dư luận và đông đảo người dân; lợi dụng niềm tin của người dân để phục vụ mục đích cá nhân.

Nguyên nhân làm xuất hiện những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay là do: Một là, ảnh hưởng của những nhân tố quốc tế, như mặt trái của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, thông tin mạng toàn cầu; quá trình cá nhân hóa thông tin tăng nhanh, thông tin giả tràn lan, làm cho người dân hiểu không đủ, không rõ, không kịp nhiều vấn đề, dễ hoang mang, bị thông tin giả chi phối, dẫn dắt; sự lợi dụng, lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc và chống phá, can thiệp của các thế lực thù địch từ bên ngoài. Hai là, ảnh hưởng của những nhân tố trong nước, như những hạn chế, khó khăn trong phát triển đất nước; sự gia tăng tình trạng phân hóa giàu - nghèo, bất bình đẳng xã hội; sự suy thoái, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tình trạng “lợi ích nhóm”, vi phạm dân chủ, thái độ thờ ơ, vô cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên trước những khó khăn của người dân; sự thiếu công khai, minh bạch trong quản lý của một số tổ chức chính quyền... Ba là, công tác tuyên truyền, cung cấp thông tin chưa thật sự đầy đủ, chính xác và kịp thời, trong khi trình độ văn hóa, pháp luật và trình độ dân trí nói chung trong xã hội chưa cao, nhận thức của người dân vẫn còn những hạn chế, nhất là chưa phân biệt rõ giữa dân chủ và dân túy.

Nếu không đấu tranh, ngăn ngừa kịp thời những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay thì hậu quả của nó sẽ vô cùng nguy hiểm: Làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân; gây mất ổn định chính trị - xã hội, ảnh hưởng đến việc xây dựng môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước; làm giảm uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ của Việt Nam với các đối tác. 

Để phòng ngừa và ngăn chặn những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay, cần tạo sự chuyển biến trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về những tác hại của chủ nghĩa dân túy, đồng thời chỉ ra những biểu hiện cụ thể của nó. Theo đó, cần: 

Thứ nhất, đẩy mạnh việc nghiên cứu làm rõ khái niệm, nội dung, hình thức biểu hiện, tác hại và nguyên nhân phát sinh, phát triển của chủ nghĩa dân túy; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận biết được những nguy cơ, biểu hiện và tác hại của chủ nghĩa dân túy; kịp thời nhận diện và cảnh giác với những biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam; định hướng thông tin đúng đắn trên báo chí, tạo hiệu ứng truyền thông tích cực, liên tục nhằm tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái và những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy. 

Thứ hai, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, phòng, chống có hiệu quả tình trạng tham nhũng, tiêu cực; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, toàn tâm, toàn lực phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước, thực hiện đúng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm”, “việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh”, để củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ. 

Thứ ba, kiên định phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, giữ vững độc lập, chủ quyền trong quá trình hội nhập quốc tế; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với báo chí, truyền thông, nâng cao khả năng định hướng dư luận xã hội của báo chí, truyền thông. 

Thứ tư, phát hiện, xử lý và khắc phục kịp thời những biểu hiện và hậu quả của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam./.

Chủ nghĩa dân túy - một hiện tượng của nền chính trị thế giới -

Từ năm 2016, nền chính trị thế giới, lại xuất hiện và bùng lên một hiện tượng nổi bật, thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu: chủ nghĩa dân túy đang trỗi dậy.

Có thể thấy, chưa bao giờ cụm từ “chủ nghĩa dân túy” được nhắc nhiều đến như vậy trên chính trường và báo chí thế giới, đặc biệt nhân dịp các cuộc bầu cử, trưng cầu dân ý ở nhiều nước Âu, Mỹ. Ngay ở châu Á, nơi vốn được xem là “bình lặng” trong “cơn địa chấn dân túy” cũng đã có những chính trị gia đạt đến đỉnh cao quyền lực bằng và thông qua những phát ngôn và hành động dân túy. Rất nhiều hãng tin và tờ báo lớn đã giật những tít bài rất kêu trong phân tích tình hình chính trị thế giới năm 2016, 2017: “Khi chủ nghĩa dân túy lên ngôi”, “Chủ nghĩa dân túy và những cơn địa chấn”… Giới phân tích chính trị thì lo lắng sự thắng thế của làn sóng dân túy có thể dẫn đến những kết quả khó đoán, bất ngờ và tác động bất ổn đến nền chính trị các nước, các khu vực và thế giới.

Sự lo lắng đó là có cơ sở, vì cách mà các nhân vật này thực hiện những cam kết trong chiến dịch tranh cử của họ có thể hạn chế, thậm chí đảo ngược một số đường lối tích cực mà các quốc gia đang theo đuổi như: sự ổn định xã hội, bình đẳng giới, bình đẳng kinh tế, tự do thương mại, sự bao dung giữa các dân tộc, tôn giáo, xu hướng hợp tác quốc tế và toàn cầu hóa…

Góp phần nhận diện chủ nghĩa dân túy và nguyên nhân của nó

Hơn một thế kỷ trước vào năm 1890, thuật ngữ “chủ nghĩa dân túy” được sử dụng rộng rãi tại Mỹ trong phong trào thúc đẩy người dân nông thôn và Đảng Dân chủ chống lại những người Đảng Cộng hòa thường sống tập trung ở đô thị. Nó cũng được sử dụng để nói đến phong trào của các trí thức ở Nga tự ghét bỏ tầng lớp của mình và đồng cảm với giai cấp nông dân, ấp ủ mộng ước xây dựng những “công xã nông thôn” cho giai cấp nông dân dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng. Từ vai trò tích cực trong tập hợp nông dân đứng lên chống lại Nga hoàng, theo sự phát triển của lịch sử, nó lại trở thành trào lưu tư tưởng cản trở sự phát triển, là một trở ngại cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác vào nước Nga(1). Những sai lầm, bản chất phản động, đi ngược lại lý luận của chủ nghĩa Mác của phái này đã bị V.I.Lê-nin phê phán mạnh mẽ trong tác phẩm “Những người bạn dân là thế nào, họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao”.

Tuy nhiên, để xác lập một cách hiểu hoàn chỉnh, thống nhất về khái niệm có tính chất phức hợp như chủ nghĩa dân túy là một vấn đề khó. Thống nhất trong nhận định và đánh giá các biểu hiện trong thực tiễn xã hội, chính trị lại càng khó hơn. Những khái niệm như chủ nghĩa dân túy, phong trào dân túy, hành động dân túy, phát ngôn dân túy… được đưa ra trong những bối cảnh, hành động khác nhau có cách hiểu và tác động khác nhau.

Khoa học xã hội xem dân túy như một khuynh hướng tư tưởng và chính trị nhấn mạnh sự tương phản giữa “nhân dân” với tầng lớp “tinh hoa”, thể hiện trong những tuyên bố cho là mình đứng về phía “dân thường”(2). Nó như một phong cách chính trị cụ thể, một hình thức hùng biện chính trị hay chiến lược để đạt được quyền lực(3). Sự ra đời của nó được đánh dấu với những biểu hiện dường như “phi chính trị”, bằng sự từ chối giới tinh hoa, từ chối những tư tưởng “dòng chính” đang ngự trị để nói lên tiếng nói của người dân có vị trí xã hội thấp…

Có quan điểm xem dân túy như một ý thức hệ, nhưng chỉ là một “ý thức hệ mỏng”(4), không có hệ thống quan điểm riêng, không có nhân tố cấu thành cốt lõi tư tưởng của chính mình nhằm phân biệt với các hệ tư tưởng khác. Ý kiến khác lại xem dân túy là “một phong trào chính trị nhấn mạnh lợi ích, đặc điểm văn hóa và tình cảm tự phát của những người dân bình thường, trái ngược với những người của một tầng lớp đặc quyền”(5). Dưới góc độ phong cách ngôn ngữ và một phương thức hành động, dân túy “là chính sách của kẻ cơ hội tìm cách để giành được lòng tin của quần chúng”.

Trong ngôn ngữ hằng ngày ở châu Âu, châu Mỹ lẫn ở châu Á, dân túy thường dùng để chỉ trích một đảng phái, một vài chính trị gia nào đó đang tìm kiếm sự thu hút, ủng hộ của dân chúng và dư luận bằng những lời hứa êm tai nhưng trống rỗng, thậm chí thiếu trách nhiệm đối với tương lai chính trị của đất nước, mang nặng cảm xúc nhất thời, thiếu triết lý bền vững cho những mục tiêu chính trị lâu dài và giải pháp hiệu quả cho các vấn đề hiện tại.

Vì vậy, từ các cách tiếp cận trên, có thể nhìn nhận, khái niệm dân túy thường được dùng để nói về những thủ đoạn chính trị mang tính mị dân, đánh vào tâm lý của đám đông để kêu gọi, tổ chức phong trào nhằm lôi kéo, tranh thủ sự ủng hộ của dư luận và quần chúng nhân dân.

Một câu hỏi đặt ra, tại sao chủ nghĩa dân túy, phong trào dân túy, các cá nhân theo đường lối dân túy thời gian gần đây lại có xu hướng phục hồi, phát triển? Có thể tìm thấy lý do cho sự trỗi dậy ấy từ những nguyên nhân chủ yếu:

(1) Sự trì trệ về kinh tế, sự già hóa dân số và mức thu nhập không tăng đã làm cho đời sống người dân, nhất là của những người yếu thế không được cải thiện làm gia tăng sự bất mãn của người dân. (2) Toàn cầu hóa đã đưa đến nghịch lý: công nghệ sản xuất phần lớn được đưa từ các quốc gia phát triển sang các quốc gia chậm hay đang phát triển, và hàng hóa được chuyển theo chiều ngược lại. Do đó, lợi ích chủ yếu mang lại cho các công ty lớn hoặc đa quốc gia, trong khi đó những người lao động thiếu việc làm hoặc tay nghề thấp mất việc nhưng không có khả năng để tìm việc mới, gây bất bình trong người lao động. (3) Cách mạng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin đã thay đổi mọi mặt của đời sống, từ kinh tế đến quan hệ giữa con người; quá trình cá nhân hóa thông tin tăng cao, tin giả tràn lan, làm cho người dân hiểu không đủ rõ vấn đề, dễ hoang mang, bị thông tin chi phối, dẫn dắt. (4) Chính sách xã hội phải đối mặt với nhiều thách thức, chi phí cho chính sách an sinh đối với người già, tàn tật, thất nghiệp hay hưu trí càng tăng làm gia tăng đáng kể số nợ của chính phủ, theo đó, nợ nần luôn đè nặng lên đời sống vốn đã khó khăn của không ít người dân và của xã hội. (5) Sự quan liêu xa rời và thiếu gần gũi với nhân dân của giới quan chức cầm quyền đã tạo ra một khoảng cách lớn giữa lợi ích và tiếng nói của người dân hoặc của một số tầng lớp dân cư với giới chức cầm quyền hoặc những người có quyền lực trong xã hội. (6) Di dân và di tản toàn cầu, với nhiều lý do, thật sự là thách thức đối với các chính phủ, khoét sâu sự ngăn cách về tâm lý giữa người đến và người sở tại về những khó khăn trong giải quyết, tiếp cận cơ hội, việc làm và phát triển.

Tóm lại, tình hình biến đổi sâu sắc, tình trạng bất bình đẳng gia tăng, nhiều vấn đề kinh tế - xã hội chưa được giải quyết tốt, lợi ích chính đáng, hợp pháp của số đông người lao động chưa được quan tâm giải quyết hiệu quả… là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy ở các nước Âu, Mỹ hiện nay. Khi nhiều người dân bất mãn trong một thời gian dài, vượt quá giới hạn chịu đựng của họ, mà không có những giải pháp chính trị, kinh tế, xã hội thích hợp, thì đó chính là mảnh đất màu mỡ cho sự xuất hiện các khuynh hướng của chủ nghĩa dân túy, là “dư địa” để nó gây ra những cơn địa chấn mới.

GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC PHÒNG, CHỐNG CHIẾN TRANH LY KHAI Ở VIỆT NAM

 

         Chiến tranh ly khai đã và đang xảy ra ở nhiều khu vực, tác động rất lớn đến các quốc gia trên thế giới. Các cuộc chiến để lại hậu quả hết sức tàn khốc, biến các quốc gia này trở thành đống đổ nát; làm kiệt quệ nguồn tài chính, cơ sở hạ tầng đất nước bị tàn phá nặng nề, tỷ lệ đói nghèo ngày càng gia tăng; hàng triệu người dân phải trốn ra nước ngoài, sống lưu vong ở các quốc gia khác do sự khắc nghiệt của đời sống vật chất và tinh thần. Nguyên nhân chủ yếu là do các thế lực thù địch, phản cách mạng đứng đầu là chủ nghĩa đế quốc luôn có những âm mưu, phương thức chống phá các quốc gia độc lập dân tộc không đi theo quỹ đạo của chúng. Đặc biệt, chúng tập trung chống phá các quốc gia có xu hướng chính trị tiến bộ, các quốc gia do Đảng Cộng sản, đảng cánh tả lãnh đạo, cầm quyền. Chúng lợi dụng các vấn đề hội nhập quốc tế, viện trợ nhân đạo, các vấn đề về tôn giáo, dân tộc, nhân quyền để kích động nhằm làm phân rã, chia rẽ các dân tộc, các quốc gia, tạo nên các cuộc bạo loạn mang màu sắc chính trị, tạo cớ, tạo áp lực và lợi dụng danh nghĩa các tổ chức quốc tế (trong đó có Liên Hợp quốc) tạo nên chiến tranh ly khai lật đổ chính quyền, thành lập chính quyền tự xưng do chúng chỉ đạo.

Đối với nước ta, xuất phát từ vị trí địa - chính trị, vị thế của Việt Nam ngày càng tăng cao trên trường quốc tế; do vậy, các thế lực thù địch luôn thực hiện âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, hòng lập nên một thể chế chính trị đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa đế quốc và phương Tây điều khiển. Mặt khác, Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc, tôn giáo; mỗi dân tộc, tôn giáo có phong tục, tập quán và giáo lý, giáo luật riêng; đặc biệt đồng bào dân tộc thiểu số và có đạo sống ở vùng sâu, vùng xa đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế, có những vấn đề phức tạp do lịch sử để lại... Đây là những vấn đề hết sức nhạy cảm mà các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách lợi dụng để kích động, chia rẽ giữa các dân tộc, tôn giáo; kích động tính cực đoan, tự trị... (nóng bỏng nhất hiện nay là bốn vùng: Tây Bắc, Tây Nghệ An - Thanh Hóa, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ), nhằm phá hoại chính sách đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước ta, phục vụ ý đồ thâm độc của họ.

Trong thời gian qua, các thế lực thù địch lợi dụng quá trình hội nhập quốc tế, xây dựng và phát triển đất nước của Việt Nam; lợi dụng những khó khăn, yếu kém trong quản lý, trong thực hiện chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; lợi dụng sự thoái hóa, biến chất của một số cán bộ, đảng viên để thúc đẩy chiến lược “Diễn biến hòa bình” tạo nên “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trong lòng chế độ xã hội của ta, nhất là trong đội ngũ cán bộ cao cấp, làm cơ sở để kích động, gây rối, biểu tình, bạo loạn lật đổ; tạo ra các điểm nóng, vùng nóng gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, cản trở và chống lại công cuộc xây dựng và phát triển đất nước của nhân dân ta. Mặt khác, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền”, chống tham nhũng và bảo vệ chủ quyền biển đảo... để kích động bạo loạn chính trị, bạo loạn có vũ trang. Lợi dụng những vấn đề đó, các thế lực thù địch đang ngấm ngầm chuẩn bị lực lượng, đợi thời cơ; xây dựng kế hoạch, chỉ đạo các lực lượng, xây dựng tổ chức chính trị đối lập để tạo ngọn cờ, xây dựng lực lượng (nhất là lực lượng vũ trang), tiến hành các hoạt động phá hoại, có sự chi viện của các thế lực phản động bên ngoài; nhằm làm suy yếu Đảng, suy yếu chế độ ở các vùng có nhiều đồng bào dân tộc, tôn giáo sinh sống; xây dựng chính quyền phản động ly khai, chờ thời cơ tiến hành bạo loạn nhằm chia cắt đất nước, lật đổ chế độ Việt Nam xã hội chủ nghĩa theo ý đồ của chúng.

Để giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vấn đề cấp bách hiện nay là phải đấu tranh phòng, chống chiến lược “Diễn biến hòa bình” quyết liệt, có hiệu quả, có chủ trương và giải pháp cụ thể; kịp thời ngăn ngừa và làm thất bại mọi mưu toan bạo loạn vũ trang, chiến tranh ly khai dẫn đến chia cắt đất nước.

Để làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận, thực tiễn và  dự báo về chiến tranh ly khai; đặt ra những yêu cầu về phòng chống chiến tranh ly khai; quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, nguyên tắc, phương pháp phòng chống, giải pháp chiến lược phòng ngừa, ngăn chặn chiến tranh ly  khai ở Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Học viện Quốc phòng biên soạn và giới thiệu với bạn đọc cuốn sách  “Một số giải pháp chiến lược phòng, chống chiến tranh ly khai ở Việt Nam”.

Chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa yêu nước ở Việt Nam và một số vấn đề đặt ra

 

Trong nhiều thập niên qua, bàn về sự ra đời của dân tộc ở Việt Nam, nhiều người thường gắn nó với thời kỳ phong kiến và sự đô hộ của chủ nghĩa thực dân, với độc lập dân tộc và giải phóng đất nước. Khởi đầu, vấn đề này được đặt ra từ cuộc thảo luận “Sự hình thành dân tộc Việt Nam” vào những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, với sự chủ trì của giới sử học. Trong các cuộc thảo luận đó, một số ý kiến cho rằng, dân tộc Việt Nam hình thành sớm, thuộc loại hình dân tộc tiền tư bản chủ nghĩa, và sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Việt Nam bước vào quá trình hình thành dân tộc xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, có quan điểm khẳng định, dân tộc Việt Nam ra đời muộn hơn, song cụ thể vào giai đoạn nào thì khó chỉ ra(11).

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam đề cao chủ nghĩa yêu nước gắn với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước được phát huy cao độ, là động lực to lớn để đoàn kết mọi giai cấp, tầng lớp xã hội, tạo nên sức mạnh toàn dân tộc và là nguồn gốc của mọi thắng lợi. Vậy chủ nghĩa yêu nước có phải là chủ nghĩa dân tộc hay không? Trên thực tế, khái niệm chủ nghĩa dân tộc hầu như không được sử dụng trong diễn ngôn chính trị và học thuật của Việt Nam giai đoạn này. Tuy nhiên, sự thảo luận của nhiều học giả trên thế giới cho thấy, chủ nghĩa yêu nước (Patriotism) thực chất chỉ là một dạng thức của chủ nghĩa dân tộc hoặc luôn đan kết với chủ nghĩa dân tộc, bởi nói đến chủ nghĩa dân tộc, không thể không đề cập tới chủ nghĩa yêu nước(12). Nói cách khác, chủ nghĩa yêu nước là mặt tích cực của chủ nghĩa dân tộc.

Sau cuộc thảo luận “Sự hình thành dân tộc Việt Nam”, một số tác giả vẫn tiếp tục nghiên cứu về vấn đề dân tộc ở nước ta, nhất là trong tình hình mới. Giáo sư Phan Hữu Dật cho rằng, trong sự phát triển hơn nửa thế kỷ qua ở Việt Nam, đã hình thành một cộng đồng người mới, một dân tộc Việt Nam thống nhất trong quốc gia Việt Nam xã hội chủ nghĩa và gọi đó là cộng đồng quốc gia - dân tộc(13). Về ý thức dân tộc, tác giả Lê Thị Lan cho rằng, nó được hình thành từ thế kỷ III sau Công nguyên, gắn với việc truyền bá Nho giáo vào Việt Nam. Theo đó, tầng lớp tinh hoa theo Nho học có vai trò lớn trong xây dựng chủ nghĩa dân tộc, với ý thức về độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, sự tự hào về nền văn hóa riêng, tinh thần đoàn kết dân tộc và lòng yêu nước sâu sắc. Tác giả Lê Thị Lan còn gợi ý, ngày nay, vẫn có thể tiếp tục phát huy chủ nghĩa dân tộc trong xây dựng và bảo vệ đất nước(14). Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay, nên chú trọng đến việc xây dựng ý thức quốc gia - dân tộc.

Chủ nghĩa dân tộc có tính hai mặt và Việt Nam phải đối diện với nó trong bối cảnh thế giới đương đại. Về phương diện quốc tế, Việt Nam không tránh khỏi những tác động của chủ nghĩa dân tộc trên thế giới, nhất là với các nước trong khu vực đã dùng chủ nghĩa này như một công cụ cho phát triển kinh tế, quốc phòng - an ninh và đối ngoại của họ. Do đó, Việt Nam cần phát huy chủ nghĩa yêu nước - một di sản quý giá trong các cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, chủ nghĩa yêu nước không chỉ cần thiết cho công cuộc bảo vệ độc lập, tự chủ, trọng tâm là bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo của Tổ quốc, mà còn có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, nhất là đối với việc xây dựng thương hiệu và sử dụng hàng hóa Việt Nam. Để làm được như vậy, cần có chính sách và hành động thiết thực nhằm quy tụ, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong nước và kiều bào ở nước ngoài.

Để phát huy chủ nghĩa yêu nước và ngăn ngừa, phòng tránh mặt tiêu cực của chủ nghĩa dân tộc, cần xử lý tốt hai vấn đề phức tạp sau đây:

Một là, tránh nguy cơ nảy sinh chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Chủ nghĩa này dễ xuất hiện khi xảy ra mất đồng thuận trong quan điểm, phương thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh quốc gia. Thời gian qua, các thế lực thù địch lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân tiến hành kích động chống đối, biểu tình hay có phản ứng trái chiều trên mạng xã hội. Nếu tiếp tục để xảy ra những tình huống như vậy, sẽ gây phân tâm xã hội, không phát huy được chủ nghĩa yêu nước chân chính và là cơ sở làm nảy sinh chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Hai là, tránh nguy cơ tái phát và kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc ly khai. Lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay là kết quả lao động, sản xuất và đấu tranh qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, gắn với sự ra đời và phát triển của nhà nước dân tộc. Là nước có chủ quyền, với biên giới lãnh thổ được xác định và là thành viên của Liên hợp quốc, song các thế lực dân tộc cực đoan vẫn chưa từ bỏ âm mưu, hoạt động chống phá. Vì vậy, cùng với tăng cường các biện pháp để củng cố, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, khối đại đoàn kết toàn dân tộc là đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa ly khai.

Tóm lại, trong bối cảnh trỗi dậy mạnh mẽ của chủ nghĩa dân tộc trên thế giới hiện nay, Việt Nam không tránh khỏi bị ảnh hưởng. Để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của chủ nghĩa dân tộc, bên cạnh việc củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần có biện pháp hiệu quả để ngăn ngừa chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chủ nghĩa dân tộc ly khai./.

Sự trỗi dậy và tính hai mặt của chủ nghĩa dân tộc trên thế giới

 

Xem xét chủ nghĩa dân tộc ở khu vực Đông Nam Á, Đa-vít Brao (David Brown) cho rằng, nó có hai đặc điểm: Một là, chiều kích tộc người trong chủ nghĩa dân tộc. Theo đó, tộc người có vai trò quan trọng trong chủ nghĩa dân tộc ở các nước thuộc khu vực này. Hầu hết các nước đều có tộc người hạt nhân (Score), với vai trò tạo lập dân tộc. Tộc người hạt nhân gắn với vai trò văn hóa, và thường có dân số lớn nhất (đa số), còn các tộc người thiểu số thường có dân trí thấp hơn. Hai là, chiều kích công dân trong chủ nghĩa dân tộc. Trong quá trình xây dựng dân tộc, các quốc gia cũng hướng đến vấn đề công dân để thực hiện đoàn kết dân tộc(10).

Chủ nghĩa dân tộc có tính hai mặt. Ngay việc phân chia các loại hình của chủ nghĩa này như đã nêu, dựa trên sự nhìn nhận về cơ sở và đặc điểm của nó, cũng phần nào phản ánh điều đó. Mặt hạn chế, nguy hiểm nhất của chủ nghĩa dân tộc là tính hẹp hòi, cực đoan, sô-vanh. Trong các loại hình chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân tộc tộc người và chủ nghĩa dân tộc tôn giáo dễ dẫn đến hẹp hòi và cực đoan nhất. Trước và trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Đức Quốc xã thúc đẩy ý tưởng rất phản động về một dân tộc Đức thượng đẳng, đứng trên tất cả các dân tộc khác, có quyền tiến hành chiến tranh để “mở rộng không gian sinh tồn”, thanh lọc tộc người, tiêu diệt các dân tộc khác mà nạn diệt chủng người Do Thái là một ví dụ điển hình về tính tàn bạo và phi nhân tính của nó.

Chủ nghĩa dân tộc tộc người được hình thành trên cơ sở tộc người, tức đề cao bản sắc tộc người, lấy tộc người làm trung tâm, nhằm đạt được mục đích chính trị là xây dựng nhà nước dân tộc với tộc người chiếm ưu thế làm chủ thể, hoặc tộc người đó được tự trị trong một quốc gia - dân tộc. Trong thế kỷ XX, chủ nghĩa dân tộc tộc người bùng nổ ở nhiều nơi thuộc các châu lục Á, Phi, Mỹ La-tinh, chống lại chủ nghĩa thực dân và kiến tạo được nhiều quốc gia - dân tộc độc lập, với các thể chế chính trị khác nhau. Sau đó, chủ nghĩa này lại tiếp tục hồi sinh không chỉ ở ngay các quốc gia - dân tộc đã nêu mà còn xuất hiện tại các nước vốn đã từng là chính quốc xâm chiếm thuộc địa.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chủ nghĩa dân tộc tộc người càng có điều kiện mang tính xuyên quốc gia. Khi chủ nghĩa dân tộc trỗi dậy trên thế giới vào cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, nhân lõi của nó chính là chủ nghĩa dân tộc tộc người. Sự chia sẻ về văn hóa và nguồn gốc tổ tiên của tộc người là những yếu tố dễ dàng tạo sự kết nối trong huy động phong trào chính trị và tính thống nhất về chính trị. Song, nguồn gốc sâu xa của chủ nghĩa dân tộc tộc người không phải sự chia sẻ ấy, mà chính là sự bất bình đẳng về lợi ích và mâu thuẫn, xung đột xã hội tại các quốc gia. Cùng với đó, phải kể đến các thế lực bên ngoài kích động, hỗ trợ, chia rẽ để làm suy yếu các nước đối thủ cạnh tranh hoặc vừa mới giành được độc lập dân tộc.  Theo đó, chủ nghĩa dân tộc tộc người chỉ là phương tiện của các lực lượng chính trị để đạt mục đích.

Chủ nghĩa dân tộc tôn giáo lấy tôn giáo là yếu tố quan trọng để tạo nên bản sắc dân tộc, có sự liên kết giữa truyền thống tôn giáo với thiết chế xã hội; đồng thời, tôn giáo cũng được sử dụng như công cụ để đạt được những mục tiêu chính trị. Gắn với quá trình xây dựng quốc gia - dân tộc, chủ nghĩa dân tộc tôn giáo có sức mạnh bởi nó đan kết với đời sống chính trị, xã hội và văn hóa. Việc hiểu đơn giản về chủ nghĩa dân tộc thế tục, tức chỉ là sự tách biệt giữa nhà thờ với nhà nước, sẽ không phát huy được các yếu tố tích cực của tôn giáo và cũng không lường hết những phức tạp của tôn giáo. Từ những năm 70 thế kỷ XX đến nay, chủ nghĩa dân tộc tôn giáo trên thế giới rất phát triển, kể cả ở những quốc gia tuyên bố theo chủ nghĩa thế tục; nhiều cuộc xung đột lớn trên thế giới cùng sự bất ổn của một số nước có liên quan chặt chẽ với chủ nghĩa dân tộc tôn giáo, như ở I-xra-en, Pa-le-xtin, Mi-an-ma, Thái Lan hay Ấn Độ.

Có thể thấy rằng, chủ nghĩa dân tộc trên thế giới rất đa dạng và phức tạp. Chủ nghĩa dân tộc có vai trò tích cực khi gắn với lòng yêu nước và ý thức công dân trong bảo vệ, xây dựng cộng đồng quốc gia - dân tộc. Song, chủ nghĩa dân tộc sẽ có nhiều tác động tiêu cực nếu trở nên hẹp hòi và cực đoan, khi nó chỉ hướng đến trục lợi cho quốc gia - dân tộc hay nhóm tộc người, nhóm tôn giáo của mình mà chà đạp lên lợi ích của các quốc gia - dân tộc hay tộc người khác, tôn giáo khác; dẫn tới sự thoát ly của các nhóm tộc người, tôn giáo với cộng đồng quốc gia - dân tộc vì mưu cầu riêng.      

Nguồn gốc và các loại hình của chủ nghĩa dân tộc

 

Trước hết, để hiểu được nguồn gốc, loại hình của chủ nghĩa dân tộc, cần nhìn nhận về sự ra đời của dân tộc (Nation). Đến nay, trên thế giới có hai khuynh hướng lý thuyết liên quan đến vấn đề này. Những người theo thuyết khởi nguyên (Primordialism) hay thuyết truyền thống (Traditionalism) cho rằng, dân tộc xuất hiện từ trước thời kỳ hiện đại. Còn những người theo chủ nghĩa hiện đại (Modernilism) hoặc chủ nghĩa duy vật (Materialism) lại khẳng định, dân tộc chỉ ra đời ở thời kỳ tư bản chủ nghĩa. Về khái niệm dân tộc, nhiều học giả trên thế giới có chung quan điểm, đó là siêu cộng đồng dân cư, chỉ hình thành khi có nhà nước, với một lãnh thổ, cấu trúc kinh tế, xã hội và chia sẻ những giá trị văn hóa chung.

Theo Mai-cơn Hét-tơ (Michael Hechter), chủ nghĩa dân tộc là hành động tập thể hướng đến làm cho biên giới quốc gia trùng khớp với sự quản trị của quốc gia đó(1). Còn C-rai Ca-hun (Craig Calhoun) cho rằng, chủ nghĩa dân tộc không phải là học thuyết, mà hơn cả là cách trao đổi, suy nghĩ và hành động(2). Dưới góc nhìn văn hóa, Xờ-mít (Smith) nhận xét, chủ nghĩa dân tộc là loại hình của văn hóa, gồm tư tưởng, ngôn ngữ, huyền thoại, biểu tượng, ý thức trong sự tương liên với toàn cầu(3). Về thời điểm ra đời chủ nghĩa dân tộc, trong nhiều ý kiến được Craig Calhoun tổng hợp, phần lớn đều cho rằng, chủ nghĩa này trở nên phổ biến vào năm 1815 - thời điểm phát triển mạnh mẽ của phong trào giành độc lập dân tộc(4).

Xem xét cơ sở hình thành của chủ nghĩa dân tộc, E-ríc-sen (Eriksen) khẳng định, nó được khởi nguồn từ các nguyên tắc chính trị, như tình cảm hay phong trào, thậm chí có tính dị thường(5). Bê-sing-gơ (Beissinger) cho rằng, có màu sắc khác nhau ở chủ nghĩa dân tộc Đức thế kỷ XIX; chủ nghĩa dân tộc A-rập thế kỷ XX; chủ nghĩa dân tộc mới xuất hiện trong phong trào chống thực dân; chủ nghĩa dân tộc ở Đông Á. Sau khi mô hình chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, nhiều nhà nước chuyển sang chủ nghĩa dân tộc(6).

Về các loại hình của chủ nghĩa dân tộc, hiện có nhiều ý kiến khác nhau. Theo Michael Hechter, có bốn loại chủ nghĩa dân tộc: 1- Chủ nghĩa dân tộc nhà nước (State nationalism); 2- Chủ nghĩa dân tộc ngoại biên (Peripheral nationalism); 3- Chủ nghĩa dân tộc tái chiếm lãnh thổ (Irredentist nationalism); 4- Chủ nghĩa dân tộc thống nhất (Unification nationalism). Ở chiều cạnh thanh lọc tộc người (Ethnic cleasing) trong quá trình xây dựng quốc gia - dân tộc, Michael Hechter lại chia chủ nghĩa dân tộc thành hai loại hình là chủ nghĩa dân tộc dung nạp (Inclusive nationalism), và chủ nghĩa dân tộc loại trừ (Exclusive nationalism). Vẫn từ góc nhìn tộc người, Eriksen cho rằng, có hai loại chủ nghĩa dân tộc, đó là chủ nghĩa dân tộc tộc người (Ethnic nationalism) và chủ nghĩa dân tộc phi tộc người (Non-ethnic nationalism)(7); còn với Smith, có chủ nghĩa dân tộc tộc người, bao gồm chủ nghĩa dân tộc ly khai và chủ nghĩa dân tộc đòi lãnh thổ (Irredentist nationalism)(8). Từ góc độ tôn giáo, Bác-kơ (Barker) lại chia chủ nghĩa dân tộc thành chủ nghĩa dân tộc thế tục (Secular nationalism) và chủ nghĩa dân tộc tôn giáo (Religious nationalism)(9).

Một số giải pháp phòng, chống hiệu quả âm mưu và những thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên địa bàn Tây Nguyên

 

Hiện nay, tình hình kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh ở Tây Nguyên còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp; đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn; hệ thống chính trị cơ sở ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; vấn đề di cư tự do tác động tiêu cực đến sự phát triển bền vững; tư tưởng ly khai tự trị và ngộ nhận về “Nhà nước Đêga” vẫn tồn tại trong một bộ phận đồng bào các dân tộc thiểu số và sẵn sàng trỗi dậy khi bị kích động, v.v. Để phòng, chống hiệu quả âm mưu và những thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên địa bàn Tây Nguyên, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một làđẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động để mọi tầng lớp nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo hiểu rõ và nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về dân tộc, tôn giáo trong tình hình mới. Đây là giải pháp cơ bản nhằm đưa các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các luật, pháp lệnh, nghị định của Nhà nước về vấn đề dân tộc, tôn giáo vào cuộc sống. Đồng thời, làm cho nhân dân thấy rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động trong việc lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo hòng phủ nhận đường lối đổi mới của Đảng, kích động mâu thuẫn giữa nhân dân với cấp ủy, chính quyền các cấp, chia rẽ đồng bào các dân tộc và các tôn giáo. Từ đó, tạo cơ sở, niềm tin vững chắc cho đồng bào có đạo yên tâm làm tròn bổn phận “sống tốt đời, đẹp đạo”, “sống phúc âm giữa lòng dân tộc”; cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên chung sức, đồng lòng trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh ở địa phương và tạo sự thống nhất cao trong đấu tranh với hoạt động chống phá của thế lực thù địch, phản động.

Để đạt hiệu quả, cán bộ, đảng viên cần sát dân, tìm hiểu và nắm tâm tư, nguyện vọng của dân; kết hợp giữa tuyên truyền vận động tập trung với phân tán; tăng thời lượng các buổi phát thanh bằng tiếng dân tộc với nội dung đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ tiếp thu phù hợp với trình độ của đồng bào dân tộc thiểu số. Phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, các nhân sĩ trí thức là người dân tộc thiểu số và các chức sắc, chức việc tôn giáo tiến bộ cùng vận động, thuyết phục đồng bào các dân tộc có đạo nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương. Đồng thời, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; chủ động phát hiện và có biện pháp ngăn chặn kịp thời, hiệu quả tình trạng truyền đạo trái pháp luật, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến an ninh con người và an ninh quốc gia, nhất là đấu tranh ngăn chặn phát triển các tà đạo, từng bước xóa bỏ “Tin lành Đêga”.

Hai làchăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc, tôn giáo. Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng để vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề khó khăn trong đời sống của đồng bào để chống phá. Các cấp, các ngành cần triển khai có hiệu quả các chủ trương, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, xóa mù chữ; giải quyết tốt tình trạng tranh chấp đất đai, đẩy nhanh tiến độ giao đất, khoán rừng, tổ chức lại sản xuất cho đồng bào các dân tộc thiểu số, tạo việc làm ổn định, giúp đồng bào an cư lạc nghiệp. Đồng thời, đẩy mạnh cuộc vận động định canh, định cư, tăng cường cán bộ khuyến nông, khuyến lâm hướng dẫn đồng bào áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển đổi ngành nghề, phát triển chăn nuôi, trồng trọt, nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống để đồng bào yên tâm xây dựng cuộc sống lâu dài, nhất là ở các huyện miền núi, biên giới.

Ba làtăng cường và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về dân tộc, tôn giáo. Cấp ủy, chính quyền các địa phương cần tích cực nghiên cứu, đề xuất, bổ sung và ban hành kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật để lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức điều hành, hướng dẫn, giúp đỡ các tổ chức tôn giáo hoạt động đúng theo hiến chương, điều lệ của giáo hội và tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam. Thường xuyên chủ động, nắm chắc tình hình hoạt động của các tôn giáo, tạo điều kiện cho các chức sắc, chức việc, tín đồ hoạt động tôn giáo theo khuôn khổ pháp luật. Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện ở các cấp,  ban, ngành, đoàn thể để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các biểu hiện vi phạm pháp luật trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo. Xây dựng kế hoạch phân công các ban, ngành, đoàn thể bám sát cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động, giải quyết kịp thời, dứt điểm những vấn đề nổi cộm, bức xúc, những vụ việc phát sinh có liên quan đến vấn đề dân tộc, tôn giáo. Kiên quyết xử lý những đối tượng cầm đầu, tuyên truyền tà đạo, có biện pháp theo dõi, khống chế những đối tượng ngoan cố; tạo điều kiện hoạt động cho những cơ sở tín ngưỡng phù hợp với nguyện vọng tâm linh, truyền thống, bản sắc của đồng bào và đúng với quy định xây dựng đời sống văn hóa, chống hủ tục ở cơ sở, địa bàn; lưu giữ chứng cứ pháp lý để đấu tranh chống địch xuyên tạc, vu cáo ta “đàn áp tôn giáo”. Thực hiện nghiêm Quy chế Dân chủ cơ sở, tôn trọng và phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; không làm trái, làm sai gây dư luận bất bình trong nhân dân để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc, kích động, phá hoại.

Bốn làtiếp tục củng cố và xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, chính quyền cơ sở, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt là người dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo vững mạnh về mọi mặt. Để làm được điều đó, cấp ủy, chính quyền các địa phương cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên là người dân tộc thiểu số tại chỗ, nhất là ở cấp xã có đủ phẩm chất, năng lực đảm nhiệm chức vụ được giao; thường xuyên bám nắm cơ sở, thực sự sát dân, hiểu tâm tư, nguyện vọng của dân, phát huy sức dân đồng lòng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương. Đồng thời, tăng cường cán bộ có năng lực, phẩm chất đạo đức cho cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo, nhất là ở những địa bàn trọng điểm, v.v. Cán bộ công tác ở vùng dân tộc, tôn giáo phải biết tiếng dân tộc, am hiểu phong tục, tập quán, tôn giáo của đồng bào; thực hiện tốt phong cách dân vận “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân”; không quan liêu, tham nhũng. Quan tâm phát huy vai trò tích cực của các già làng, trưởng bản, người có uy tín trong các dân tộc, các chức sắc tôn giáo; đổi mới công tác dân vận ở vùng dân tộc, tôn giáo theo phương châm: chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc; sử dụng nhiều phương pháp phù hợp với đặc thù từng dân tộc, từng tôn giáo.

Năm làthường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Trong đó, tập trung xây dựng các khu vực phòng thủ “cơ bản, toàn diện, liên hoàn, vững chắc”; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trên địa bàn vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên vùng Tây Nguyên. Cùng với đó, cần chủ động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo gây bạo loạn, ly khai trên địa bàn; triển khai có hiệu quả các biện pháp chống biểu tình, bạo loạn; làm tốt công tác kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung hoàn chỉnh các phương án bảo vệ an ninh ở địa phương, cơ sở. Đồng thời, đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc, chủ động phòng, chống có hiệu quả các hoạt động tình báo, gián điệp của địch, củng cố trận địa an ninh nhân dân vững mạnh, làm cơ sở, chỗ dựa vững chắc cho đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào có đạo đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn gây bạo loạn, ly khai của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị.

Khi có xung đột về lợi ích giữa các dân tộc, giữa các bộ phận trong cộng đồng các dân tộc, cần giải quyết theo tinh thần hòa giải; chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Phát hiện kịp thời, đấu tranh vô hiệu hóa các hoạt động truyền bá, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, ly khai, tự trị; xử lý nghiêm các phần tử lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật, kích động chia rẽ các dân tộc, chia rẽ

nhân dân với Đảng, gây mất trật tự xã hội, xâm phạm lợi ích an ninh quốc gia. Chủ động đấu tranh với hoạt động của các thế lực thù địch chỉ đạo, hậu thuẫn số đối tượng bên trong đòi ly khai, tự trị; đấu tranh với các hoạt động quốc tế hóa vấn đề dân tộc và sự can thiệp từ bên ngoài. Cùng với đó, cần phát huy tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo và truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của đồng bào các dân tộc thiểu số; phối hợp chặt chẽ các tổ chức đoàn thể, lực lượng vũ trang; tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ, đồng tâm hiệp lực của đồng bào trong cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trên địa bàn. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong hệ thống chính trị phát huy vai trò, luôn sâu sát, nắm chắc tư tưởng của quần chúng, vận động họ tích cực thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương, nâng cao trách nhiệm công dân trong xây dựng và phát triển Tây Nguyên ngày càng giàu, mạnh.

Thời gian tới, các thế lực thù địch, phản động vẫn ráo riết lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá, gây mất ổn định chính trị, bạo loạn lật đổ, ly khai đối với Tây Nguyên. Vì thế, chúng ta cần nêu cao cảnh giác, dự báo đầy đủ, chính xác tình hình để kịp thời đề ra chủ trương, giải pháp phòng, chống thiết thực, hiệu quả, nhằm đánh bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trên địa bàn.

Nhận diện âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo gây bạo loạn, ly khai ở Tây Nguyên

 

Tây Nguyên gồm 5 đơn vị hành chính cấp tỉnh1, với diện tích 54.451,5km2, có đường biên giới với Lào và Cam-pu-chia; trên địa bàn có 54 dân tộc cùng sinh sống, dân số khoảng 5,7 triệu người, trong đó đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm 33%. Địa bàn Tây Nguyên có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng và an ninh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là một trong những trọng điểm các thế lực thù địch tập trung chống phá trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn, ly khai. Âm mưu cơ bản, lâu dài của chúng là tuyên truyền, lôi kéo, kích động đồng bào các dân tộc đòi ly khai, tự trị, thành lập cái gọi là “Nhà nước Đêga” hoặc “Nhà nước Đêga Mông-ta-nha” ở Đông Dương, tách Tây Nguyên ra khỏi đại gia đình các dân tộc và chủ quyền lãnh thổ Việt Nam; biến địa bàn Tây Nguyên thành khu vực mất ổn định, vùng “tự trị”, tiến tới thành lập “nhà nước độc lập”; tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số ở những khu vực khác hình thành nhiều “điểm nóng xung đột”, tạo cớ để chúng can thiệp, hòng làm mất ổn định chính trị, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Thực hiện âm mưu trên, chúng đã và đang tiến hành nhiều thủ đoạn hoạt động chống phá rất thâm độc và xảo quyệt, vừa công khai, vừa bí mật, cả trực tiếp và gián tiếp, hết sức ráo riết đối với Tây Nguyên. Đó là: (1). Thực hiện chính sách “chia để trị”, đòi thành lập “Nhà nước Đêga” độc lập; (2). Vu cáo, xuyên tạc, bóp méo tình hình dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở nước ta, kích động đồng bào chống đối chính quyền; (3). Lợi dụng chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta để tuyên truyền, phát triển đạo trái pháp luật, nhất là đạo “Tin lành Đêga” nhằm “tôn giáo hóa” các vùng dân tộc; (4). Lợi dụng hoạt động từ thiện, nhân đạo, đầu tư phát triển kinh tế xâm nhập vùng đồng bào dân tộc thiểu số để tuyên truyền, xây dựng lực lượng, hỗ trợ, chỉ đạo các hoạt động chống phá, gây mất ổn định, tạo cớ can thiệp; (5). Tuyên truyền, xuyên tạc những vấn đề lịch sử để lại để chia rẽ đồng bào các dân tộc thiểu số với người Kinh; (6). Tìm cách mua chuộc, lôi kéo những người có uy tín trong cộng đồng các tôn giáo, đồng bào các dân tộc thiểu số; cài cắm người vào hệ thống chính trị các cấp của ta để chống phá; (7). Triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại, internet và mạng xã hội để liên lạc, chỉ đạo trực tiếp, tuyên truyền, lôi kéo, kích động đồng bào, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

Vấn đề dân tộc trong mưu đồ hiểm độc của các thế lực thù địch chống Việt Nam

 

Trong đời sống xã hội, dân tộc và tôn giáo là những vấn đề tự thân vốn đã chứa đựng những phức tạp. Đặc biệt là vấn đề dân tộc trong bối cảnh những năm gần đây, trên thế giới mâu thuẫn, xung đột giữa các dân tộc, sắc tộc ngày càng tăng, trở thành nhân tố gây mất ổn định ở nhiều quốc gia. Sự từ bỏ các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin, thực hiện đa nguyên, đa đảng, dân chủ một chiều ở một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũng là điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi phục hồi và phát triển mà đỉnh cao là sự bùng nổ trào lưu ly khai, tự trị và các cuộc xung đột vũ trang. Lợi dụng ngay điều đó, các thế lực thù địch quốc tế đứng đầu là Mỹ đã triệt để lợi dụng và khai thác vấn đề dân tộc để thực hiện ý đồ toàn cầu hoá chính trị của mình. Cụ thể khi chiến tranh lạnh kết thúc, những người cầm đầu nhà trắng đưa ra hàng loạt các chiến lược và thực thi “Diễn biến hoà bình”, thực hiện ý tưởng đóng vai trò đứng đầu thế giới, xây dựng một nền kinh tế thị trường tư bản thuần khiết, xây dựng một định chế dân chủ kiểu Mỹ trên toàn cầu, xoá bỏ các quốc gia cộng sản, trong đó có Việt Nam. Đặc biệt Hoa Kỳ khoét sâu góc độ nhân quyền trong vấn đề dân tộc, coi đây là một cửa đột phá quan trọng để thực hiện mưu đồ của mình.

“Chiến lược an ninh quốc gia cho thế kỷ XXI” của Mỹ (tháng 1 năm 2000) đã xác định: “Xung đột sắc tộc… là thách thức lớn lao đối với các giá trị về an ninh của Mỹ”. Đây là một “hình thức vi phạm nhân quyền” mà Mỹ có thể “hành động quân sự tập thể” và dùng “áp lực đồng thời kinh tế - chính trị kết hợp với ngoại giao” để chặn đứng ở bất cứ quốc gia nào. Đối với Việt Nam, Mỹ xác định “cũng không làm ngơ” trước những “người miền núi anh em” (dân tộc thiểu số) đã từng “giúp đỡ Mỹ” trong chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương trước đây. Các “Báo cáo tình hình nhân quyền” hàng năm, mới đây nhất là “Báo có tình hình nhân quyền năm 2005” do Bộ Ngoại giao Mỹ công bố đã xuyên tạc, bóp méo sự thật về vấn đề dân tộc, tôn giáo của nhiều quốc gia, trong đó trắng trợ vu cáo Việt Nam “không có nhân quyền”, “đối xử không bình đẳng với các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, vu cáo “Việt Nam đàn áp dân tộc, tôn giáo”. Thâm độc hơn chính quyền Mỹ còn hỗ trợ cho các lực lượng phản động người dân tộc thiểu số Việt Nam sống lưu vong ở nước ngoài mà tập trung ở Mỹ, Pháp, Canađa để chống phá Nhà nước Việt Nam.

Chính quyền Mỹ thường xuyên đẩy mạnh hoạt động gây ảnh hưởng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam ở Mỹ thông qua các hoạt động văn hoá, xã hội, tôn giáo. Nước Mỹ là nơi tổ chức các cuộc gặp gỡ, lễ hội mang tính quốc tế của người Mông. Tổng thống Mỹ thường xuyên gửi thư chúc mừng các lễ hội này. Chính quyền Mỹ còn trực tiếp cử người điều hành “Trung tâm nghiên cứu Thái học Mỹ” do Bạc Thị Siểng cầm đầu. Nhiều chương trình hội thảo, hội nghị quốc tế liên quan đến các dân tộc thiểu số Việt Nam được tổ chức ở Mỹ và các nước khác đều do Mỹ chi phối. Mặt khác Mỹ tích cực hỗ trợ hình thành các hội nhóm của người dân tộc, hướng hoạt động cộng đồng dân tộc thiểu số lưu vong theo quỹ đạo của Mỹ. Sử dụng các tổ chức này tác động, kích động gây mất ổn định trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở phía Bắc và Tây Nguyên. Hiện có khoảng 100 tổ chức của người dân tộc thiểu số Việt Nam ở nước ngoài. Riêng ở Mỹ có 11 tổ chức của người Mông, 5 tổ chức của người Thái, 1 tổ chức của người Dao, 3 tổ chức của người Thượng Tây Nguyên. Đáng lưu ý là các tổ chức: “Trung tâm nghiên cứu văn hoá Mông”; “Trung tâm nghiên cứu Thái học Mỹ”;

“Nhóm hoạt động tôn giáo Tin Lành khởi xướng vấn đề Vua Vàng Chứ trong người Mông” ở át-lan-ta Mỹ: “Hội người Thái tị nạn tại Pháp” do Đèo Nạng Tọi, con gái Đèo Văn Long cầm đầu… Chính quyền Mỹ và một số thế lực ở Mỹ ngoài việc sử dụng đài VOA, đài “Châu á tự do” còn hỗ trợ ngân sách thành lập đài phát thanh, in ấn báo chí bằng tiếng dân tộc cho các tổ chức này để chống phá Việt Nam về mặt tư tưởng.

Với thủ đoạn vừa chia rẽ lôi kéo, tập hợp lực lượng trong dân tộc thiểu số, vừa âm mưu quốc tế hoá để can thiệp vào vấn đề dân tộc ở nước ta, chúng đã triệt để lợi dụng những vấn đề phức tạp do lịch sử để lại nhằm khởi dậy những mâu thuẫn, hận thù dân tộc, kích động tư tưởng đòi tự trị đồng thời lợi dụng những thiếu sót của Nhà nước ta trong việc thực hiện chính sách dân tộc cùng những khó khăn trong đời sống hiện tại của đồng bào dân tộc thiểu số để xuyên tạc, gây hoài nghi, làm mất lòng tin của đồng bào với Đảng và Nhà nước.
Bằng nhiều con đường khác nhau các thế lực thù địch chống Việt Nam tìm mọi cách nâng đỡ, tung hô những kẻ mang tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ly khai; lôi kéo những người có ảnh hưởng trong đồng bào dân tộc để nắm quần chúng, tạo dựng “ngọn cờ”. Trước đây trong chiến tranh ở Việt Nam, Mỹ lựa chọn trong tầng lớp trên, thì nay họ lại tập trung vào số người có uy tín là trí thức do cách mạng đào tạo. Đó là nét mới đáng lưu ý.

Nham hiểm hơn, các thế lực thù địch bằng phương thức tạo ra các xu hướng và lực lượng đối lập từ bên trong, làm điểm tựa để hỗ trợ đẩy mạnh hoạt động chống phá. Mặt khác chúng còn sử dụng khả năng quốc tế hoá vấn đề dân tộc để chống phá Việt Nam ở mức độ khác nhau như vấn đề Fulro ở Tây Nguyên với “Nhà nước Đề-ga”; vấn đề Khmer Nam Bộ, vấn đề người Mông. Từ đó cho thấy trong vấn đề dân tộc, sự câu kết giữa bọn phản động trong nước và ngoài nước ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ, chặt chẽ và tinh vi hơn, thích ứng với tình hình mới. Phân tích vấn đề “Nhà nước Đềga” ở Tây Nguyên ta càng thấy rõ điều đó.

Chính sách “chia để trị” nằm trong âm mưu thôn tính Việt Nam của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. ý đồ thành lập “Tây Nguyên tự trị” được chúng thực thi triệt để. Ngày 20/9/1964 lực lượng quân sự Fulro ra đời để phục vụ cho mưu đồ này.

Sau đại thắng mùa xuân 1975, ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, Fulro bị tan rã, một số quan chức cầm đầu chạy ra nước ngoài, số tàn quân thì ẩn náu trong rừng. Ta đã tập trung giải quyết. Tháng 10/1992, số Fulro còn lại trên đất Campuchia chính thức đầu hàng lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc - UnTac (tại tỉnh Monđônkiri - Campuchia) chấp nhận định cư tại California - Mỹ. Số Fulro di tản này đã tụ tập thành nhiều hội nhóm khác nhau. Sau này tập hợp lại để thành lập cái gọi là “Nhà nước Đề-ga” lưu vong ở Mỹ vào cuối năm 1999 do Ksor Kok cầm đầu. Mục tiêu của cái gọi là “Nhà nước Đề-ga tự trị” là đấu tranh đòi lại “đất nước Đề-ga” Tây Nguyên. Ksor Kok còn hoạch định phương thức, thủ đoạn đấu tranh của “Nhà nước Đề-ga tự trị” là đấu tranh chính trị bên ngoài để quốc tế thừa nhận giúp đỡ, kết hợp tuyên truyền tác động vào trong nước, chuyển hoá từng bước thành đấu tranh vũ trang để công khai hoá, hợp pháp hoá “Nhà nước Đề-ga” tại Tây Nguyên, kích động tụ tập đông người, tạo cớ gây sức ép, gây bạo loạn lật đổ chính quyền cách mạng. Ksor Kok điên cuồng đề ra phương châm khoét sâu hận thù dân tộc, từng bước đòi đất đai, đòi tự do tôn giáo, tách Tin lành người Thượng ra khỏi Tin lành người Kinh, lập tổ chức Tin lành người Đề-ga, tiến tới đòi dân tộc tự trị, thành lập “Nhà nước Đề-ga”. Mặt khác để thực hiện mưu đồ đen tối của mình Ksor Kok còn tìm những tên cầm đầu Fulro cũ có nợ máu với cách mạng giao giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy chống phá cách mạng của hắn như: Y Bhi KBuar, Ksor Bútt, Y Pưng B’Nơr…

Trước âm mưu thâm độc lợi dụng vấn đề dân tộc của chính quyền Mỹ và các thế lực thù địch quốc tế, các quốc gia đều rất cảnh giác. Với nước ta, Đảng và Nhà nước đã thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc của một quốc gia có 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số. Tạo sự bình đẳng, đoàn kết tương trợ, giúp nhau cùng phát triển. Tập trung đầu tư phát triển vùng miền núi, dân tộc, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ tri thức người dân tộc, góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Có thể thấy quyền bình đẳng giữa các dân tộc đã cơ bản được thực hiện trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội. Những thành tựu trong 20 năm đổi mới ở vùng miền núi, nơi các dân tộc thiểu số sinh sống đã khẳng định điều đó. Hiện nay các tỉnh miền núi, dân tộc tỷ lệ tăng trưởng bình quân hàng năm trên 10%. Nông nghiệp và các cây công nghiệp thế mạnh phát triển mạnh. Có 60-70% diện tích nông nghiệp được tưới tiêu. 95% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã, đời sống của người dân được cải thiện.

Mạng lưới y tế có hầu hết ở các xã, 90% trẻ em được tiêm chủng phòng bệnh. 90% địa bàn có đồng bào dân tộc được phủ sóng phát thanh và 70% số vùng được phủ sóng truyền hình. Hệ thống chính sách giáo dục được hoàn thiện. Chế độ cử tuyển ở bậc đại học, cao đẳng, trung học được thực hiện với hàng ngàn sinh viên, học sinh. Hàng trăm trường dân tộc nội trú do ngân sách quốc gia cấp hoạt động hiệu quả. Tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản ổn định, quốc phòng an ninh được giữ vững. Thực tế đó khẳng định: Trong khi vấn đề dân tộc ở nhiều nước trên thế giới diễn biến phức tạp đã và đang gặp nhiều khó khăn, thì kết quả thực hiện công tác dân tộc cùng những đổi thay to lớn trong đời sống xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ở Việt Nam là một minh chứng trước cộng đồng thế giới về sự đúng đắn trong đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam ta.

“LÀ CHỦ CỦA TƯƠNG LAI, THANH NIÊN KHÔNG THỂ KHÔNG CÓ LÝ TƯỞNG CAO CẢ. VÌ VẬY THANH NIÊN PHẢI CÓ CUỘC SỐNG CHÍNH TRỊ TÍCH CỰC VÀ CÁCH MẠNG”.

 

Câu trích trên là một phần nội dung trả lời phỏng vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Máccôm Samông (Malcolm Salmon) phóng viên Đông Nam Á của báo Australia Tribune và báo Guardian. Khi được hỏi: “Những hoạt động của các chính khách ở nhiều nước thường không cổ vũ gì lớp thanh niên muốn có một cuộc đời hoạt động chính trị. Xin Chủ tịch đặc biệt cho những độc giả thanh niên của chúng tôi biết ý nghĩa và giá trị của một cuộc đời hoạt động chính trị, cách mạng”, Người trả lời: “Tương lai thuộc về thanh niên. Tương lai là cách mạng luôn luôn tiến lên. Là chủ của tương lai, thanh niên không thể không có lý tưởng cao cả. Vì vậy thanh niên phải có cuộc sống chính trị tích cực và cách mạng”.

 

Qua câu hỏi và nội dung trả lời của Bác, chúng ta thấy Người nhìn nhận, đánh giá rất cao vai trò, tiềm năng của thanh niên nói chung, thanh niên Việt Nam nói riêng, nhất là trong bối cảnh đất nước đang có chiến tranh, bị chia cắt hai miền Nam - Bắc. Trong hoàn cảnh ấy, tương lai của đất nước Việt Nam là phải thống nhất hòa bình và lý tưởng cao cả của thanh niên là phải thấu hiểu nỗi đau non sông chia cắt, phải có hành động cách mạng thiết thực đóng góp cho sự nghiệp xây dựng miền Bắc, giải phóng miền Nam.    

 

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lớp lớp thanh niên trên cả hai miền Nam - Bắc đi vào cuộc đấu tranh cách mạng dưới ngọn cờ lý tưởng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với khí thế thấm đẫm tinh thần của sức trẻ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”, thể hiện quyết tâm cao độ giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất nước nhà. Một bộ phận đông đảo thanh niên trở thành “Bộ đội Cụ Hồ”, trực tiếp chiến đấu với quân thù, lập những chiến công oanh liệt, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân hoàn thành sự nghiệp vẻ vang chống Mỹ, cứu nước.

 Hiện nay, câu nói của Hồ Chí Minh trên đây vẫn nguyên giá trị. Tuổi trẻ - thanh niên Quân đội cần phải tiếp tục gương mẫu học tập, “rèn đức, luyện tài”, nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, với Tổ quốc; luôn có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, làm chủ bản thân, làm chủ khoa học kỹ thuật, vũ khí trang bị, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần đưa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đi đến thắng lợi.

Một số giải pháp cơ bản đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa hiện nay

 

  Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự phát triển của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hay những yếu tố bất ngờ như dịch bệnh COVID-19 vừa qua, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ gia tăng các hoạt động thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn, nhất là hoạt động tuyên truyền phá hoại trên không gian mạng. Trước tình hình đó, việc thấm nhuần quan điểm của Đảng về chống “diễn biến hòa bình”, nhất là trên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật”, kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách làm vũ khí lý luận sắc bén, góp phần làm thất bại âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ, chống phá thành quả cách mạng, là trách nhiệm hàng đầu của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam hiện nay. Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

          Một là, nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác, bám sát định hướng chỉ đạo, hướng dẫn trong các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đối với công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; gắn với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, để xây dựng các chương trình, kế hoạch, giải pháp công tác cụ thể; đưa công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đi vào nền nếp và đạt hiệu quả cao.

          Hai là, công tác tuyên truyền về đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa cần được thực hiện với chất lượng, hiệu quả tốt hơn. Tăng cường các chương trình, bài viết giàu sức thuyết phục, tính chiến đấu cao trên các phương tiện thông tin và truyền thông về chủ đề này. Bên cạnh đó, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin và tăng cường đối thoại với nhân dân; chủ động, linh hoạt giải quyết các vấn đề nóng, đang đặt ra của xã hội. Thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với các cơ quan chức năng, các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ tác động đến nhận thức để thay đổi hành vi của công chúng trong những vấn đề liên quan đến văn hóa.

Ba là, tăng cường vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp. Đây là giải pháp quan trọng bởi thực tiễn cho thấy thông qua những tấm gương người tốt, việc tốt, các mô hình, điển hình tiên tiến, công tác tuyên truyền mới thực sự có hiệu quả.

         Bốn là, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các bộ, ngành và tổ chức đoàn thể, đi đầu là sự phối hợp giữa Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tạo ra sức mạnh tổng hợp trong phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa. Xây dựng môi trường lành mạnh để phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước./.

Phản bác quan điểm “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế” Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay.

 

 Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã được hiến định trong Hiến pháp, văn bản pháp lý cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp cũng hiến định Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.

Trong đó có lĩnh vực kinh tế. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng không làm thay các cơ quan Nhà nước. Đảng lãnh đạo kinh tế bằng cách tạo ra bảo đảm chính trị cho hoạt động kinh tế, xác định phương hướng chính trị cho hoạt động kinh tế đúng đắn và lành mạnh .

Chăm lo dân sinh, nâng cao dân trí, bảo đảm dân quyền để thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ thực chất của nhân dân là định hướng mục tiêu lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để đạt được mục tiêu đó, Đảng chủ trương “phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm”. Lãnh đạo kinh tế của Đảng đã trở thành mắt xích chủ yếu, quan trọng, thiết thực và quyết định nhất trong toàn bộ đường lối lãnh đạo, trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, kinh tế Việt Nam trong thời gian qua đã vượt qua bao gian nan, thử thách, được cả thế giới ngưỡng mộ, đặc biệt là trong thời kỳ phải đối mặt với đại dịch Covid-19. Ngân hàng Standard Chartered mới đây đã đưa ra dự báo, nền kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi mạnh mẽ trong năm 2022, với tốc độ tăng trưởng 6,7%, tăng trưởng năm 2023 là 7% và Việt Nam tiếp tục có triển vọng tích cực trong trung hạn.

Trong bản Cập nhật kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 2, Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh khởi đầu năm 2022, nền kinh tế Việt Nam có nhiều tín hiệu tích cực. Fitch Ratings là một trong những tổ chức có cái nhìn lạc quan nhất về kinh tế Việt Nam với dự báo kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 7,9% trong năm nay và 6,5% vào năm 2023.

Báo chí quốc tế trong thời gian gần đây đã có nhiều bài đánh giá tích cực triển vọng kinh tế Việt Nam nhờ chính sách ứng phó linh hoạt với Covid-19, hoạt động sản xuất, kinh tế đang ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ. Chuyên trang tư vấn đầu tư ở châu Á Vietnam Briefing của công ty Dezan Shira nhận định, các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mới mà Việt Nam tham gia sẽ đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ tăng trưởng kinh tế khi Việt Nam mở cửa biên giới, tăng tốc phục hồi.

Các FTA không chỉ giúp phát triển kinh tế, mạng lưới sản xuất, mà còn góp phần nâng cao các tiêu chuẩn lao động. Tờ Reuters cũng có bài viết khẳng định: Nhờ các chính sách linh hoạt của Chính phủ Việt Nam, các hoạt động kinh doanh đã được khôi phục, đặc biệt là từ quý IV năm trước, nhờ đó, ngành dệt may Việt Nam đã hạn chế đáng kể sự gián đoạn chuỗi cung ứng, kỳ vọng tăng mạnh xuất khẩu trong năm nay.

Thực tiễn đã trả lời rõ ràng cho câu hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam có nên lãnh đạo kinh tế hay không. Thực tiễn cũng đã khẳng định những luận điệu tuyên truyền “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế" là xuyên tạc, kích động. Chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ quan điểm sai trái này.

QUYỀN LỰC VÀ THA HÓA QUYỀN LỰC

 

  Quyền lực “là quyền hành và thế lực mạnh, đủ để quyết định các công việc: nắm quyền lực trong tay - dùng quyền lực ép người ta phải nghe theo, làm theo”, hiểu khái quát đó là quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để bảo đảm việc thực hiện quyền ấy. Còn tha hóa là “1. Trở nên khác đi, biến thành cái khác…2. Trở thành người mất phẩm chất đạo đức, một cán bộ bị tha hóa”. Hiểu theo nghĩa chung nhất, đó chính là cái ban đầu được biểu hiện là cái khác, là hiện tượng làm biến tướng bản chất hoặc mục đích của sự vật, hiện tượng. Tha hóa quyền lực là căn bệnh của những người có chức, có quyền, vì thế cần phải phòng và chống sự tha hóa quyền lực bằng cách: “1. Kiểm tra, xem xét, nhằm ngăn ngừa những sai phạm các quy định… 2. Đặt trong phạm vi quyền hành và trách nhiệm”.

Tiếp cận từ góc độ “phạm vi quyền hành và trách nhiệm”, có thể nhận dạng sự tha hóa quyền lực ở một số biểu hiện cơ bản như sau: 1) Lạm quyền: chủ thể nắm quyền tự cho mình thêm những quyền mà họ không có được khi được trao quyền. Sự “tạo thêm” này là “dạng vượt quá giới hạn”, làm biến dạng quyền lực. 2) Lộng quyền: là sự liều của chủ thể của quyền lực khi “làm” mà không cần biết hậu quả xảy ra thế nào và cũng không sợ trách nhiệm mình phải gánh chịu. 3) Trục lợi từ quyền: hình thành dần trong quá trình thực thi quyền lực, do các chủ thể quyền lực có thể “tranh thủ” chi phối đối tượng để đòi hỏi các lợi ích vật chất và tinh thần cho mình. 4) Độc đoán, chuyên quyền: người được xã hội trao quyền muốn thâu tóm, khống chế quyền lực bằng một cơ chế tập trung quyền lực cao độ về mình; trấn áp tất cả các thế lực chống đối để tuyệt đối hóa quyền lực của mình. 5) Quan liêu: biểu hiện người nắm quyền không bám sát thực tế, không dựa trên những cơ sở thực tế để thực thi quyền lực công mà chỉ nhằm bảo vệ lợi ích ích kỷ của mình, nhóm mình, địa phương mình,v.v.. 6) Tuỳ tiện: người nắm quyền hoặc không biết rõ quyền lực của mình đến đâu hoặc cẩu thả trong thực thi quyền được trao mà không ý thức được hậu quả mình gây ra. 7) Tiếm quyền: là biểu hiện người nhận được quyền lực một cách không hợp pháp mà là sự “đoạt được” địa vị của người có quyền lực hợp pháp. 8) Vô trách nhiệm: là thờ ơ hoặc buông xuôi trước trước yêu cầu của việc thực thi quyền lực được trao; thường gây thiệt hại cho xã hội và cho chính người trao quyền. 9) Bất lực: thể hiện trong việc người nắm quyền lực dần mất đi thực quyền hoặc kém khả năng quyết đoán; chỉ có danh mà không có sức mạnh để thực thi ý chí của mình; thường bị thao túng bởi một thế lực nào đó. 10) Tham quyền cố vị: là biểu hiện người có quyền lực bằng mọi cách giữ lại địa vị vốn có mà không từ một thủ đoạn nào để loại trừ đối thủ. 11) Phân tán quyền lực: là sự biến tướng dưới dạng cục bộ địa phương, lợi ích cá nhân, chia bè kéo cánh; làm mất đi tính thống nhất về quyền lực nhà nước cũng như lợi ích của quốc gia, dân tộc,v.v..

Với một chính đảng đã cầm quyền, việc thực thi quyền lực và yêu cầu phải phòng, chống sự tha hóa quyền lực đối với tổ chức đảng, nhất là với các cán bộ, đảng viên được trao quyền giữ các chức vụ trọng yếu trong Đảng, các cơ quan công quyền, các tổ chức chính trị xã hội là nhằm đảm bảo cho hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành được vận hành hiệu lực, hiệu quả; đồng thời, ngăn ngừa và phòng, chống các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đảng cầm quyền ở đây hiểu theo nghĩa là Đảng lãnh đạo Nhà nước và “lãnh đạo” thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ những trọng trách trong tổ chức Đảng, các cơ quan Nhà nước, hệ thống chính trị. Do có quyền lực, người được trao quyền lực dễ bị tha hóa bởi tự coi mình trở thành “hiện thân” của quyền lực - đặt mình lên trên các nguyên tắc tổ chức của Đảng, dẫn đến từng bước vô hiệu hóa vai trò của tổ chức, làm mất đi tính tiên phong của Đảng cách mạng. Theo đó, người được trao quyền đã vượt quá "phạm vi quyền hành và trách nhiệm" của mình; đã sử dụng quyền lực để chiếm đoạt các giá trị vật chất, tinh thần của xã hội, xâm phạm tới lợi ích của các thành viên khác nhằm mưu cầu cho mình, người thân,v.v.. Tha hóa quyền lực biểu hiện ở nhiều sự việc: từ sự nhũng nhiễu, hạch sách, vòi vĩnh để “tham nhũng vặt” người dân; quan liêu, thờ ơ trước yêu cầu, bức xúc của nhân dân, chậm giải quyết các thủ tục hằng ngày cho người dân ở địa bàn cơ sở,v.v.. đến việc lợi dụng, lạm dụng quyền lực công vụ để mưu lợi ích, tham ô, “tham nhũng lớn” cho cá nhân, nhóm lợi ích… Ở chiều cạnh này, sự tha hóa quyền lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên không chỉ phản ánh sự suy thoái về phẩm chất và năng lực của người cán bộ, đảng viên mà còn phản ánh thực chất mức độ sự suy thoái quyền lực nhà nước mà đảng đang cầm quyền. Đặc biệt quan tâm vấn xây dựng Đảng, Hồ Chí Minh căn dặn trong Di chúc: “Đảng là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng. Phải thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

MƯU ĐỒ CHỐNG PHÁ CỦA “CHÍ PHÈO” THỜI HIỆN ĐẠI

 

 Nếu như “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao là những nạn nhân bị bần cùng hóa của một chế độ thực dân, phong kiến trước cách mạng tháng 8 năm 1945 thì “Chí Phèo” trong thời đại ngày nay là nạn nhân của chính bản thân mình trước những mưu toan, lợi ích thấp hèn và tự đặt biến mình thành một kẻ đi ngược lại lợi ích của dân tộc. Chí Phèo trong tác phẩm  của nhà văn Nam Cao được khắc họa qua những cơn say, còn những “Chí Phèo” thời nay, không cần có rượu, không cần say vẫn có thể chửi, vẫn có thể ăn vạ.

  Chúng ta có thể thấy họ là những con người quen thuộc trên các diễn đàn mạng xã hội, đến các vụ việc tập trung đông người biểu tình trước của cơ quan Đảng, Nhà nước hoặc cơ quan đai diện ngoại giao của nước ngoài gây rối trật tự công cộng, ngăn chặn xe cộ lưu thông  trên quốc lộ, ăn vạ... Họ luôn lấy lí do  “Vì lợi ích của dân tộc, vì lợi ích của Nhân dân”, họ có những lời nói, việc làm đi ngược lợi ích của toàn dân tộc. Họ lợi dụng các trang mạng xã hội đăng tải thông tin sai trái, không đúng sự thật, một số người làm thơ ca, hò vè, biếm họa, phim ảnh, tiểu thuyết nói xấu chế độ, vu cáo Nhà nước Việt Nam là độc tài, đảng trị, không có dân chủ, nhân quyền, không có tự do ngôn luận, tự do tôn giáo... Từ đó, họ lập ra các hội như: “Dân oan”, “Nhà báo độc lập”, “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Hội bầu bí tương thân”... để tập hợp lực lượng đối lập, kêu gọi sự can thiệp từ nước ngoài vào Việt Nam, đòi thay đổi thể chế chính trị đấu tranh đòi đa nguyên, đa đảng, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, nhằm tạo ra sự bất ổn về chính trị - xã hội. Cách nhận biết những con người đó chính là những câu từ “chửi bới”, những chiêu trò gây rối thu hút sự chú ý của người dân hiếu kỳ và truyền thông nước ngoài. Họ chửi từ chính sách đối ngoại của đất nước đến các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cả những người dân lên tiếng phản đối bất chấp hay phủ nhận những thành tựu về kinh tế, chính trị, đối ngoại mà Việt Nam đã đạt, đã được quốc tế ghi nhận trong thời gian qua. Khi lực lượng chức năng vận động, thuyết phục và giải thích việc làm của họ đang gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự công cộng, đến cuộc sống thường ngày và sự vận chuyển hang hóa giao thông vận tải thì họ lại lấy quyền tự do ngôn luận, quyền phản biện xã hội, quền con người ra bao biện, vu không lực lượng chức năng, nhà nước Việt Nam vi phạm quyền con người.

          Trên tinh thần xây dựng đất nước, rõ ràng, mỗi người Việt Nam đều có quyền bày tỏ lòng yêu nước của mình, góp ý, phản biện những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... Thế nhưng “Chí Phèo” thời nay lại lấy việc phát ngôn tự do, vô lối, xuyên tạc, kích động gây rối, đập phá tài sản, vi phạm pháp luật là những hành động góp ý, tự do ngôn luận, phản biện xã hội, thậm chí là đe dọa, chửi bới những người không cùng  quan điểm với họ. Họ ngụy tạo bức tranh sai lệch về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quyền con người tại Việt Nam, phát tán tin giả, dựng chuyện về số “Chí Phèo” đội lốt các nhà “dân chủ”, “nhân quyền”, “người bất đồng chính kiến” bị chính quyền đàn áp, tra tấn nhằm tạo tâm lý bất bình cho cộng đồng, làm xáo trộn đời sống xã hội, gây nghi ngờ, mâu thuẫn giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước ta.     Phải thừa nhận rằng, ở bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng luôn tồn tại những hạn chế, yếu kém nhất định, bên cạnh sự tiến bộ, phát triển, do chế định của điều kiện cụ thể. Vấn đề là mỗi quốc gia sẽ có sự nhìn nhận, khắc phục những mặt hạn chế đó một cách kịp thời, thấu đáo, toàn diện, quyết liệt,... Tại Việt Nam, qua những sự việc gấy rối an ninh, trật tự gần đây của số “Chí Phèo” trên có thể thấy rằng, người dân cũng cần phải có một cái nhìn thấu đáo về “tự do ngôn luận”, “phản biện xã hội” một cách đúng đắn, xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, biết phân biệt đúng - sai, tốt - xấu, xây dựng - phá hoại,... để từ đó tự trang bị, bảo vệ mình trước những kẻ “Chí Phèo” lợi dụng lòng yêu nước, lợi dụng bức xúc của nhân dân để kích động chống phá. Tự do không có nghĩa là tùy tiện, vô lối, muốn làm gì thì làm, tự do ngôn luận, phản biện xã hội đích thực phản ánh năng lực nhận thức và khả năng tự chủ bản thân cả về mặt phát ngôn và hành động. Suy cho cùng, hành động đúng đắn mới là thước đo chính xác về giá trị đích thực của tự do ngôn luận, phản biện xã hội và quyền con người. Không thể nói “tự do nguôn luận”, “phản biện xã hội”, “yêu nước” bao biện cho các hành động lại phá hoại tự do của người khác, tự do xã hội theo kiểu của “Chí Phèo” được.

          Từ chỗ là một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới, Việt Nam đã phát triển vượt bậc, trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp, với GDP đầu người đạt khoảng 2.800 USD năm 2019, hơn 45 triệu người thoát nghèo; là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và năng động nhất trong khu vực. Tính theo quy mô tổng sản phẩm quốc nội, Việt Nam là nền kinh tế đứng thứ 46 trên thế giới. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), GDP của Việt Nam hiện nay ước đạt hơn 340 tỷ USD, vượt Singapore, Malaysia, đứng thứ tư trong khu vực.. Chính vì lẽ đó. Tại phiên khai mạc Đại hội XIII của Đảng sáng 26/1/2021, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định "Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta..." Một lần nữa khẳng định con đường đúng đắn đi lên Chủ nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam và những thành tựu của Việt Nam đã đạt được./.

CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN MỞ ĐẦU CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MÙA XUÂN NĂM 1975

     Mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định chọn Tây Nguyên là hướng tiến công chủ yếu, đánh Buôn Ma Thuột là trận mở đầu, đồng thời là trận then chốt quyết định của chiến dịch. Đó là quyết định đúng đắn, sáng suốt của Bộ Tư lệnh chiến dịch.   

Để cơ động lực lượng, phương tiến lớn xuống phía Nam Tây Nguyên, chiến dịch đã tổ chức hoạt động tác chiến tạo thế, nghi binh. Ngày 04/3/1975, chiến dịch bắt đầu tổ chức cắt Đường số 19, Đường 21, Đường 14 cô lập Buôn Ma Thuột. Ngày 10/3/1975, ta nổ súng tiến công, đánh đòn "điểm huyệt" thị xã Buôn Ma Thuột. Bằng cuộc tiến công hiệp đồng binh chủng của các đơn vị, ta nhanh chóng tiêu diệt sở chỉ huy sư đoàn 23 và sở chỉ huy tiểu khu Đắc Lắc của quân ngụy Sài Gòn.

Tiếp đó, ta nhanh chóng đập tan cuộc phản đột kích bằng đổ bộ đường không của Quân đoàn 2 địch hòng tái chiếm Buôn Ma Thuột, diệt trung đoàn 44 và trung đoàn 45, thuộc sư đoàn 23. Thắng lợi của trận then chốt thứ 2 khiến địch càng hoảng loạn, đẩy chúng từ sai lầm về chiến dịch tới sai lầm lớn về chiến lược: Rút bỏ Tây Nguyên theo Đường số 7 về giữ các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ. Cuộc truy kích của quân và dân ta trên Đường số 7 đã tiêu diệt và làm tan rã một tập đoàn lớn của địch, giải phóng một địa bàn chiến lược rộng lớn. Đến ngày 24/3/1975, Chiến dịch Tây Nguyên kết thúc thắng lợi. 

Với thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên, ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực địch, giải phóng địa bàn có ý nghĩa chiến lược, làm rung động toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch ở phía Bắc, phá vỡ và cắt đôi thế bố trí chiến lược của địch, làm cho quân địch phải co cụm và bị động đối phó trên các chiến trường, mở ra thời cơ của cuộc tổng tiến công chiến lược. 

Chiến thắng Tây Nguyên đã đẩy đối phương vào thế bị động, lúng túng, tác động đến tinh thần binh sĩ địch trên khắp chiến trường; cổ vũ, động viên mạnh mẽ tinh thần và khí thế tiến công của quân, dân ta ở tiền tuyến và hậu phương, củng cố quyết tâm chiến đấu và lòng tin của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vào thắng lợi cuối cùng./.

TỰ CHỦ, GIỮ VỮNG CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO

 

 Đã qua nhiều thế hệ, bao nhiêu công sức và sự hy sinh nhằm gìn giữ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, Việt Nam là quốc gia độc lập, có đường lối ngoại giao độc lập, không lệ thuộc vào bất cứ quốc gia nào khác, ngoại giao của Việt Nam luôn lấy độc lập dân tộc, lợi ích dân tộc là cái bất biến, để dĩ vạn biến, linh hoạt, quyết đoán.

Gần đây, Trung Quốc thông báo thành lập cái gọi là “quận Tây Sa” (tức quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) và “quận Nam Sa” (tức quần đảo Trường Sa của Việt Nam) tại “thành phố Tam Sa. Ngày 19/4 Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng, phát biểu: "Việt Nam đã nhiều lần mạnh mẽ khẳng định Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lập trường nhất quán của Việt Nam là phản đối mạnh mẽ việc thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” và các hành vi có liên quan vì đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, không có giá trị và không được công nhận, không có lợi cho quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia và gây thêm phức tạp tình hình Biển Đông, khu vực và thế giới. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, hủy bỏ các quyết định sai trái liên quan đến những việc làm đó và không có những việc làm tương tự trong tương lai".

Bộ Ngoại giao Mỹ đã có các tuyên bố về các hành động phi pháp của Trung Quốc tại Biển Đông, trong đó phía Mỹ nhắc đến hai trường hợp, một là trường hợp tàu Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam, hai là trường hợp Trung Quốc đặt trạm nghiên cứu trái phép tại Hoàng Sa. Một số người đã đưa ra quan điểm rằng: “Kẻ thù của kẻ thù là bạn”, ở đây, trong góc nhìn của một số người Việt, Mỹ coi Trung Quốc là kẻ thù và ngược lại, nếu theo lý thuyết trên, Mỹ hoàn toàn có thể là một người bạn của Việt Nam trong cuộc chiến đấu đòi lại chủ quyền lãnh thổ. Thực tế, phía Mỹ đưa ra tuyên bố như vậy, không hề khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, phía Mỹ đã lồng ghép khéo léo yếu tố “gây bất lợi cho các nước Đông Nam Á”, có mục đích ngầm khẳng định rằng đây là vùng biển “tranh chấp quốc tế”, tuyên bố như vậy tức là đã phủ quyết chủ quyền hợp pháp của Việt Nam tại hai quần đảo này.

Chúng ta, cần phải hiểu biết sâu sắc rằng, chỉ có bằng thực lực của chính chúng ta, đấu tranh trên mọi lĩnh vực, nhất là đấu tranh ngoại giao và tranh thủ sự ủng hộ của các nước trên thế giới, linh hoạt, không phụ thuộc vào bất kỳ nước lớn nào, đó là quan điểm giữ vững mục tiêu chủ quyền của chúng ta ở biển đông.

Việt Nam chọn công lý và lẽ phải

 

Lợi dụng cuộc chiến Ukraine hiện tại, Việt Tân ra sức truyền bá thông điệp sai lầm rằng để có tương lai cường thịnh thì Việt Nam phải vứt bỏ quan hệ với các nước như Nga, Trung Quốc và “về phe” hoàn toàn của Mỹ và phương Tây.

 

Việt Tân vừa có bài viết nhằm mục đích so sánh quan hệ Nga – Ukraine và Trung Quốc – Việt Nam. Họ cố gắng vẽ ra hình ảnh Nga và Trung Quốc giống nhau, là những nước lớn và “thích” đi xâm lược, trong khi Việt Nam và Ukraine là những nước nhỏ và “chắc chắn” sẽ bị xâm lược, từ đó kết luận là Việt Nam nhất định phải tránh xa hai nước này. Để luận điệu này thêm phần thuyết phục, họ viện dẫn những lập luận “nhảm nhí” của ông tiến sỹ Nguyễn Ngọc Chu về việc “dứt khoát phải chọn phe” trong cuộc chiến Nga – Ukraine hiện tại để làm “vui lòng truyền thông thế giới”. Việt Tân cho rằng nay đã là “cơ hội” để Việt Nam quay sang chọn phe phương Tây, Mỹ, Nhật… để có tương lai tươi sáng hơn.

 

Những người biết rõ về Việt Tân tất yếu sẽ tự hỏi vì sao họ đột nhiên “tốt bụng” như vậy. Lâu nay, tổ chức này chuyên dựng chuyện xuyên tạc, chống phá các chính sách của Việt Nam. Họ thậm chí còn là một tổ chức với quan điểm khủng bố, chuyên đào tạo và lên kế hoạch cho các hoạt động phá hoại tại Việt Nam, vậy vì sao họ lại muốn Việt Nam có tương lai tươi sáng hơn? Phải chăng vì bất lực với các kế hoạch chống phá hiện tại nên họ đổi ý muốn đóng góp cho đất nước? Hay thực chất, cái “tương lai tươi sáng” mà họ đang vẽ ra chỉ là “cái bả chuột” mà thôi.

 

Việt Nam đang ở vị thế một đất nước trung lập, có quan hệ từ đối tác toàn diện đến chiến lược với cả 3 cường quốc Mỹ, Nga, Trung, và mỗi một quốc gia trong số này đều có thể giúp đỡ Việt Nam cũng như cân bằng ảnh hưởng của những nước còn lại. Đây là kết quả của một thời gian dài thực hiện chính sách ngoại giao đa dạng hóa, đa phương hóa. Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh từng nói ngoại giao và đối ngoại thời bình là phải biết tìm bạn mà chơi, thậm chí chơi được cả với những “kẻ địch” để giữ hòa bình cho mình. Chúng ta luôn tăng cường nội lực của đất nước nhưng “Luyện quân tốt để không phải đánh, mua vũ khí hiện đại để không phải bắn”.

 

Xung quanh chiến sự giữa Nga – Ukraine hiện tại có khá nhiều ý kiến tranh luận, và rất lạ là những quan điểm như của Việt Tân không hề hiếm. Nó đến từ hiểu biết hết sức hạn hẹp của những “chuyên gia cõi mạng”, đơn cử như ông võ sư Đoàn Châu hay ông tiến sỹ làm toán Nguyễn Ngọc Chu. Những người này ra sức xúi giục Việt Nam “chọn phe”, mà không hề biết gì về hậu quả của việc chọn phe. Gruzia trước năm 2008 hay Ukraine trước năm 2014 thì đất nước vẫn bình yên, lãnh thổ toàn vẹn, nhưng chỉ sau quyết định “chọn phe” quyết liệt thì họ bị rơi vào vòng xoáy của những cuộc chiến chưa bao giờ dứt. Hay tương tự là câu chuyện Philippines từng muốn chọn phe theo Mỹ ở biển Đông, dùng mọi biện pháp để đối địch với Trung Quốc. Kết quả là chính sách đó thất bại đến mức Tổng thống mới được bầu sau đó của họ là Rodrigo Duterte nhận ra sai lầm và quay ngoắt 180 độ trong chính sách.

 

Tương lai của đất nước cần những tiếng nói đóng góp có trách nhiệm, thấu tình, đạt lý, chứ không phải là những phát ngôn và quan điểm hồ đồ. Một nước Mỹ bỏ mặc Ukraine đối mặt với cuộc chiến và không có gì khác ngoài những ủng hộ tinh thần, trong khi trước đó chính họ xúi giục người Ukraine chọn phe. Một nước Mỹ và phương Tây từng ra sức ủng hộ chiêu bài “tự do, dân chủ”, khuyến khích và thậm chí trao giải thưởng cho các đối tượng vi phạm pháp luật của Việt Nam như Phạm Đoan Trang, Cù Huy Hà Vũ…Và một nước Mỹ với kinh nghiệm lâu năm về việc phá tan hoang các quốc gia khác như Lybia, Syria, Afganishtan. Đây có phải là quốc gia mà Việt Nam nên “chọn phe” hay không?

 

Rõ ràng, chỉ có một “phe” duy nhất nên chọn, đó là lợi ích quốc gia và lợi ích dân tộc, không lạ gì khi cả Việt Tân lẫn những trí thức ngáo ngơ như ông Đoàn Bảo Châu, Nguyễn Ngọc Chu không hề muốn chọn.