Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2024

Không thể phủ nhận chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam

Sự nghiệp đổi mới từ năm 1986 đến nay do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trong đó có chính sách an sinh xã hội. Tuy nhiên, các thế lực thù địch không ngừng bóp méo, xuyên tạc những thành quả đạt được. Trước thực tiễn đó, đấu tranh phản bác lại những luận điệu sai trái không chỉ khẳng định chủ trương, chính sách đúng đắn, nhân văn của Đảng và Nhà nước mà còn góp phần bảo vệ những giá trị, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá Thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động rêu rao nhiều luận điệu xuyên tạc nhằm phủ nhận những thành quả và nỗ lực của Việt Nam trong công tác bảo đảm an sinh xã hội. Trong đó, chúng cố tình rêu rao rằng “bức tranh kinh tế trong nước rất ảm đạm”, “bỏ mặc dân nghèo tự lo”, “an sinh xã hội là trách nhiệm của Nhà nước, chứ không phải là trách nhiệm của người dân”; rồi xuyên tạc rằng “Nhà nước rũ bỏ trách nhiệm lo an sinh cho dân”; “chế độ an sinh xã hội ở Việt Nam có chiều hướng thụt lùi”. Ngoài ra, chúng lợi dụng các vấn đề xã hội dễ gây bức xúc, đời sống một bộ phận người dân gặp khó khăn, tình trạng tham nhũng, tiêu cực của một số lãnh đạo, cán bộ, công chức... để cố tình công kích, xuyên tạc các chính sách về an sinh xã hội; cho rằng chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước ta không đủ nguồn lực để thực hiện an sinh xã hội. Mục tiêu của các hoạt động chống phá nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước, năng lực điều hành của chính quyền các cấp; từ đó gây chia rẽ nội bộ, kích động các hoạt động gây rối, chống phá; sâu xa hơn là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; sự quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện chính sách xã hội của Nhà nước và vai trò của nhân dân trong tham gia bảo đảm an sinh xã hội. Đối với Việt Nam, bảo đảm an sinh xã hội là chủ trương nhất quán và xuyên suốt của Đảng và Nhà nước, là chính sách cơ bản để giảm nghèo, bảo đảm đời sống của nhân dân, thực hiện công bằng, tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh đất nước. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Chính sách an sinh xã hội là việc chăm lo cuộc sống, sức khỏe cho các tầng lớp nhân dân từ nông dân, công nhân, thương nhân, công chức, binh lính đến thanh niên, trẻ em, phụ nữ và những người yếu thế trong xã hội như người tàn tật, ốm đau, người già, trẻ nhỏ. Do đó, năm 1946, bốn ngày sau khi cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kết thúc thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng chẳng làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ. Chúng ta phải làm ngay, làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành”. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng ta phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân”. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn chủ trương xây dựng, thực hiện và không ngừng hoàn thiện chính sách an sinh xã hội. Bởi đó là thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ và sự tiến bộ, công bằng xã hội, hướng về con người, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển. Suy cho cùng, có độc lập, tự do, nhân dân mới được hưởng ấm no, hạnh phúc, xã hội an sinh. Ngược lại, người dân có cuộc sống hạnh phúc, xã hội ổn định, an sinh là nền tảng cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao vị thế đất nước. Theo đó, ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1946) đã ghi nhận những điều khoản quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành hệ thống quy phạm và chính sách về an sinh xã hội. Điều thứ 13 ghi nhận: “Quyền lợi các giới cần lao, trí thức và chân tay được bảo đảm”. Điều thứ 14 khẳng định: “Những người công dân già cả hoặc tàn tật, không làm được việc thì được giúp đỡ. Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng”. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001), thuật ngữ “An sinh xã hội” lần đầu tiên được ghi trong Văn kiện. Nghị quyết số 15-NQ/TƯ ngày 01-6-2012 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020” khẳng định: Tiếp tục cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người có công, bảo đảm gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư trên địa bàn. Đến năm 2020, cơ bản bảo đảm an sinh xã hội toàn dân, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông, góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân. Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Chính phủ xây dựng Chương trình hành động với mục tiêu đến năm 2020 cơ bản hình thành hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân nhằm bảo đảm việc làm, thu nhập tối thiểu của mỗi người dân; tăng số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội; trợ giúp cho những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; bảo đảm để người dân tiếp cận được với các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (tháng 01-2016) nhấn mạnh: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội”, đồng thời đề ra nhiều chủ trương mới trong lĩnh vực bảo đảm an sinh xã hội như: Mở rộng đối tượng và nâng cao hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội đến mọi người dân; chuyển từ hỗ trợ nhân đạo sang bảo đảm quyền an sinh xã hội của công dân; đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng tập trung, hiệu quả và tiếp cận phương pháp đánh giá theo chuẩn nghèo đa chiều nhằm bảo đảm an sinh xã hội và dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo; phát triển đa dạng các hình thức từ thiện, đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia giúp đỡ những người yếu thế. Kết quả đạt được là sự phản bác đanh thép nhất Thực tiễn cho thấy, trên cơ sở chủ trương, chính sách được ban hành, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, chăm lo bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, coi đây là vấn đề trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước, bởi việc chăm lo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân là một trong những mục tiêu cao nhất của sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chính phủ Việt Nam luôn đẩy mạnh thực hiện các chính sách an sinh xã hội; mở rộng diện đối tượng hưởng trợ cấp xã hội; các chương trình, đề án, chính sách trợ giúp xã hội được tiếp tục thực hiện hiệu quả, nhất là chính sách hỗ trợ, chăm lo đời sống người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Hệ thống an sinh xã hội ngày càng đồng bộ và hoàn thiện với diện bao phủ không ngừng được mở rộng. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. Nhiều chương trình mục tiêu vì người nghèo nhận được sự quan tâm chỉ đạo và phối hợp chặt chẽ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, lãnh đạo các bộ, ngành liên quan và thu được những kết quả thiết thực. Tiêu biểu như chương trình “Cả nước chung tay vì người nghèo”; phong trào thi đua “Vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”; “Cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo” do Thủ tướng Chính phủ phát động; phát động Tháng cao điểm “Vì người nghèo”... đã góp phần chăm lo giúp đỡ người nghèo, người yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn. Điểm sáng nổi bật cho thấy hiệu quả của các chính sách an sinh xã hội tại Việt Nam là kết quả giảm nghèo. Theo chuẩn nghèo đa chiều mới, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm từ 9,88% năm 2015 xuống còn 2,75% năm 2020. Không dừng lại ở kết quả đó, những năm gần đây, bất chấp tác động của đại dịch Covid-19 khiến nền kinh tế tổn thất nặng nề, Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn thực hiện linh hoạt các giải pháp hỗ trợ người dân thoát nghèo với chủ trương “cho người dân cần câu, không cho người dân con cá”. Việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội ở khắp các địa phương cũng luôn được chú trọng, tăng cường với nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Tính đến cuối năm 2023, 100% số đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ cấp hằng tháng; 100% số người dân bị thiệt hại do thiên tai, thiếu đói được trợ giúp kịp thời, không để ai bị đói; hơn 90% số người khuyết tật khó khăn được trợ giúp xã hội, chăm sóc, phục hồi chức năng; hơn 90% số người cao tuổi khó khăn được trợ giúp xã hội, phụng dưỡng, chăm sóc. Việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chăm sóc sức khỏe người dân, cung cấp nước sạch, điện… trong phạm vi cả nước được chú trọng triển khai thực hiện với những kết quả tích cực. Cùng với đó, Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến đối tượng người có công, gia đình chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số. Hằng năm, đều dành hơn 30.000 tỷ đồng để thực hiện chính sách trợ cấp, ưu đãi, chăm sóc sức khỏe, tặng quà… các đối tượng chính sách, gia đình người có công, chỉ đạo toàn dân tích cực tham gia các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, chăm sóc các gia đình thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng, bảo đảm gia đình người có công đạt mức sống bằng hoặc cao hơn mức trung bình của dân cư nơi cư trú. Các cấp, ngành, địa phương cũng tích cực thực hiện các chính sách ưu tiên, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số... Trong bài viết nhân kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/2024), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Phát triển kinh tế đã giúp đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm 80 và cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% theo chuẩn cũ năm 1993 của Chính phủ xuống còn 2,93% theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước) năm 2023. Như vậy, bảo đảm an sinh xã hội để thúc đẩy, bảo vệ, bảo đảm quyền con người đã được cụ thể hóa trong các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Những thành tựu đạt được trong công tác an sinh xã hội là thành quả về sự chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân. Đồng thời, đó là những minh chứng rõ nét bác bỏ một cách đanh thép, thuyết phục mọi luận điệu xuyên tạc, sai trái, những tiếng nói lạc lõng của các thế lực thù địch nhằm phủ nhận chính sách an sinh xã hội cùng những nỗ lực chăm lo, nâng cao đời sống nhân dân của Đảng, Nhà nước ta. Nói cách khác, dù các thế lực thù địch không ngừng chống phá, nhưng chính sách an sinh xã hội đúng đắn của Đảng và Nhà nước, cùng những kết quả to lớn đạt được đã đập tan mọi âm mưu, luận điệu xuyên tạc./. Báo Nhân Dân

Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2024

❤️NỮ TƯỚNG XỨ DỪA!🌴

 Giữ gìn truyền thống nếp ngàn xưa

Công của chị em nói chẳng thừa

Gánh vác việc nhà lo việc nước

Thân cò đâu quản nắng hay mưa

Tiếng cồng xung trận vọng chiềng Nưa

Đồng khởi Bến Tre đất xứ dừa

Vương nữ oai hùng vang một thuở

Để giờ kể chuyện vẫn say sưa

Ầu ơi giọng hát tiếng thoi đưa

Hồn mẹ Âu Cơ trải rộng vừa

Ấm máu tiên rồng nuôi dũng khí

Trung trinh ngời sáng nếp ngàn xưa.

ST

CHỨC TƯỚC CHỈ LÀ PHÙ VÂN

 Khi ông ấy là ủy viên trung ương Đảng mà vẫn rụt rè gửi người bạn học hồ sơ xin việc cho con, dù bằng cấp, trình độ đào tạo của con mình hoàn toàn đầy đủ. Rồi ngay cả khi con không được tiếp nhận, ông vẫn khiêm nhường cảm ơn, thậm chí cáo lỗi với người bạn được nhờ.

Khi ông ấy là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội nhưng về thăm ngôi trường cấp 3 Nguyễn Gia Thiều, ông vẫn xin được đứng sau khi chụp ảnh, nhường ghế ngồi hàng đầu cho các thầy cô, bạn học lớn tuổi hơn.

Khi ông ấy là người đứng đầu Thủ đô vẫn lặng lẽ một mình đi xe máy về thăm Trường Đại học Tổng hợp trong sự ngỡ ngàng của cô thầy bè bạn. Không xe đưa rước, không trống rong cờ mở, không võng lọng nghênh ngang, chỉ là một người đàn ông cao tuổi tự đi xe về trường.

Khi ông ấy là Chủ tịch Quốc hội, đám cưới con gái ông ấy hầu như không ai biết. Sau đó một số bạn bè thân lắm mới nhận được thiếp báo hỷ mà thôi.

Khi ông ấy là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, đi dự gặp mặt lớp cũ ông ấy đã nói: Xin cho em, cho tôi bỏ mọi chức tước bên ngoài căn phòng này. Em đến đây mãi mãi là học trò của các thầy các cô ngày nào. Tôi đến đây mãi mãi là bạn học của các bạn... Chức tước như phù vân.

Hôm vừa rồi có bạn đồng nghiệp nói với tôi về chị N, con ông ấy, tôi hỏi mãi mới ra, chị ấy giờ cũng chỉ là cán bộ bình thường ở một tạp chí.

Đấy chẳng phải đâu xa, ông ấy là một vị quan đương chức đang hiển hiện trước mắt chúng ta. Một người đàn ông gần 80 tuổi có gương mặt hiền hòa, mái tóc trắng tinh thường mặc chiếc áo rét màu cánh gián đã cũ rất nhiều năm.

Các quan chức bây giờ hãy nhìn ông ấy mà soi lại bản thân mình. Cảnh giới cao nhất của đạo làm quan không phải là lên xe xuống ngựa, trống giong cờ mở, kính gửi kính thưa, một vâng hai dạ... mà chính là xóa nhòa khoảng cách với nhân dân. Nghĩ cho cùng núi cao phải có đất bồi, núi chê đất thấp núi ngồi ở đâu?

Ông ấy chính là một "vị quan" biết con đường để tu dưỡng của mình, vì đạo đức của ông quan ảnh hưởng lên cuộc đời của nhiều người khác./.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân phẩm, nhân quyền hiện nay

 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân phẩm, nhân quyền hiện nay

       Thứ nhất, vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa nhân phẩm, nhân quyền theo hướng: nhân quyền vừa mang tính phổ quát của nhân phẩm, vừa mang tính đặc thù của điều kiện xã hội tạo nên nhân phẩm. Nhân quyền không giới hạn chỉ ở khía cạnh thực thể tự nhiên – xã hội, mà mang bản chất “tổng hòa các quan hệ xã hội” (C.Mác), trước tiên là quan hệ pháp lí, của nhân phẩm và được biểu hiện ở nhân cách văn hóa.

       Thứ hai, vận dụng tư tưởng về mối quan hệ qua lại giữa bảo đảm quyền dân tộc – quốc gia với tôn trọng, bảo vệ, thực hiện quyền lợi của các cá nhân và các cộng đồng trong nước.Thực tế sự nghiệp đổi mới đã giải quyết khá tốt nhưng lại chưa thấy hết được giá trị của mối quan hệ biện chứng này. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay phải nhận thức và thường xuyên ý thức được việc thực hành, giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng đó; trong đó việc tôn trọng, bảo vệ, thực hiện quyền của người dân và các cộng đồng lớn nhỏ chính là cơ sở bảo đảm quyền độc lập, tự do, hạnh phúc của đất nước.       

Thứ ba, vận dụng tư tưởng về “trăm điều phải có thần linh pháp quyền” nhằm “sửa sang thế đạo kinh dinh nhân quyền” (cái biến xã hội để thực thi nhân quyền). Kết quả vận dụng chính là việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Tuy nhiên, vẫn còn hạn chế trong xây dựng, hoàn thiện thể chế thực hiện thể chế của dân, do dân, vì dân. Chẳng hạn, mới chỉ quan tâm đến xây dựng thể chế pháp quyền của bộ máy nhà nước, mà chưa đồng thời quan tâm xây dựng, phát triển thể chế pháp quyền của công dân trong quan hệ với Nhà nước và xã hội với tính cách là nền móng và mục đích của thể chế Nhà nước pháp quyền XHCN do Nhân dân là chủ – làm chủ.

        Do đó, cần tiếp tục thể chế hóa trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở cả 3 phương diện: trách nhiệm của cơ quan, tổ chức; trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; trách nhiệm của văn bản quản lí hành chính nhà nước. Đồng thời coi trọng thực thi Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022, trước hết nhằm thúc đẩy bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở cơ sở và nâng cao năng lực phản biện, giám sát xã hội của các tổ chức xã hội, nhất là của báo chí và mạng Internet. Hiện còn không ít cơ quan và doanh nghiệp chưa quan tâm thích đáng đến việc thực hiện Luật này ngay tại địa phương, lĩnh vực hoạt động của mình. Từ đó thiếu sự sự phối hợp thực hiện dân chủ một cách thống nhất, đồng bộ giữa cán bộ, người dân ở cấp xã với cán bộ, viên chức ở cơ quan, doanh nghiệp.

      Đặc biệt trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, với thế và lực mới, cần khắc phục ngay hạn chế trong vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân phẩm, nhân quyền. Đó là:

 Tránh nhầm lẫn tư tưởng Hồ Chí Minh về phê phán nhân quyền dưới chế độ tư sản, thực dân phong kiến trong giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc với quyền là chủ, làm chủ trong giai đoạn đi lên CNXH; 

 Chú ý đúng mức tính sáng tạo trong bảo đảm nhân quyền phù hợp với điều kiện của đất nước;

 Coi trọng đúng mức việc bảo đảm “tài quyền” gắn với nhân quyền và dân quyền như Nghị quyết của quốc dân Đại hội Tân Trào (16-17/8/1945) đã xác định.

        Mặc dù đến nay, Việt Nam đã thực hiện khá tốt các quyền xóa đói giảm nghèo, sản xuất, kinh doanh, khởi nghiệp,… nhưng vẫn chưa quan tâm đúng mức việc giải quyết hiệu lực, hiệu quả các vấn đề quyền sở hữu gắn với quyền chiếm hữu, sử dụng, quản lí đất đai, nhà ở và bất động sản khác với vai trò là nền tảng của quyền kinh tế. Hệ quả là nhiều vấn đề kinh tế, đặc biệt đất đai, nhà ở và bất động sản khác, thường gây ra những hệ lụy cho nhiều vấn đề nhân quyền, dân quyền và gây tổn thất về kinh tế cho Nhà nước, người dân. Cùng với đó, vẫn còn tình trạng chưa chú ý làm rõ, vận dụng và phát triển sáng tạo mối quan hệ giữa xây dựng đạo đức mới, văn hóa mới với bảo đảm quyền con người, (trong khi Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng, là gốc của người cách mạng); chưa coi trọng đúng mức việc cụ thể hóa việc tôn trọng, bảo vệ, thực hiện thể chế về bảo đảm quyền của từng giai tầng xã hội (công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân,…) cho phù hợp với tình hình phân hóa giàu nghèo, phân hóa xã hội theo cơ chế thị trường định hướng XHCN.       

        Trong bối cảnh nhận thức về quyền con người ngày càng nâng cao, việc bảo đảm, thúc đẩy các quyền công dân cần gắn với quyền con người theo đúng quan điểm, chủ trương của Đảng và tinh thần của Hiến pháp 2013 “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân quyền

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân quyền là tư tưởng nhân sinh quan đạo đức gắn với pháp quyền nhằm bảo đảm quyền “là người và làm người” của tất cả mọi người, trước hết là người lao động, gắn với quyền dân tộc – giai cấp, thông qua thực hành bảo đảm nhân quyền nhằm góp phần cải tạo thế giới theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Trên cơ sở nhân phẩm truyền thống “người ta là hoa của đất” và “trọng dân”, Hồ Chí Minh vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng của Lênin (1870-1924) về quyền dân tộc tự quyết dưới chủ nghĩa xã hội (CNXH); tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của Cách mạng tư sản Pháp năm 1789; tư tưởng “Tam dân” (dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc) của Tôn Trung Sơn (1866-1925) và tư tưởng về quyền tự nhiên của mỗi cá nhân trong luật nhân quyền quốc tế – thành quyền độc lập, tự do, hạnh phúc gắn CNXH của mỗi người và dân tộc Việt Nam trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin. Đây là tư tưởng – lí luận để Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam vận dụng, phát triển sáng tạo trong thời kỳ đổi mới.

Thành phố Hồ Chí Minh nhanh chóng phục hồi và tăng trưởng; Giữ vững vị trí đầu tàu kinh tế

 Thành phố Hồ Chí Minh nhanh chóng phục hồi và tăng trưởng; Giữ vững vị trí đầu tàu kinh tế

Với sự quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân thành phố, cùng sự đồng hành của các doanh nghiệp, kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh nhanh chóng phục hồi và tăng trưởng trở lại mạnh mẽ và vững chắc hơn trong năm 2022. Tuy nhiên, sự tác động tiêu cực từ bên ngoài một lần nữa khiến đầu tàu kinh tế vùng trọng điểm phía nam gặp nhiều sóng gió. Tăng trưởng quý I năm 2023 của thành phố chưa đến 1% so với cùng kỳ tiếp tục làm chậm lại tốc độ phát triển của thành phố.

Nhưng chính trong khó khăn ấy, thành phố mang tên Bác đã phát huy truyền thống đoàn kết, năng động, sáng tạo đưa ra nhiều giải pháp phù hợp để vượt qua trở ngại, đạt những kết quả tích cực, góp phần thực hiện mục tiêu chặn đà suy giảm tăng trưởng chung của cả nước. Quý I năm 2024, dù tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường, nhiều yếu tố thuận lợi và thách thức đan xen đã tác động trực tiếp đến nước ta nói chung, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, cấp ủy, chính quyền thành phố đã bám sát chủ trương, nghị quyết của Trung ương, chấp hành nghiêm chỉ đạo của Chính phủ, các cơ quan trung ương; triển khai kịp thời, thực hiện quyết liệt các nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách về phát triển kinh tế-xã hội, góp phần tạo sự chuyển biến tích cực ngay từ đầu năm. GRDP của thành phố quý I tăng hơn 6,54% (cao nhất từ năm 2020 đến nay và cao hơn nhiều so với cùng kỳ 2023).

Nhiều lĩnh vực sản xuất và dịch vụ phát triển khả quan, nhất là các nhóm ngành công nghiệp trọng yếu; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 5,1% – cao nhất trong 4 năm qua. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 12,2% – cao nhất từ năm 2021 đến nay…Những nỗ lực “vượt con gió ngược” đã giúp Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu phát triển, tạo niềm tin vững chắc trong lòng người dân thành phố.

Truyền thống đoàn kết, năng động, sáng tạo luôn là động lực để thành phố vượt qua những thử thách, khó khăn, đạt nhiều thành tựu to lớn qua từng chặng đường phát triển.

Với truyền thống năng động, sáng tạo, các thế hệ lãnh đạo và người dân thành phố đã xây dựng nên một đô thị hiện đại, với sứ mệnh và tầm vóc lớn lao trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Thành phố Hồ Chí Minh đã vươn lên mạnh mẽ, trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, khoa học công nghệ, môi trường đầu tư ngày càng được cải thiện.

Báo chí cách mạng Việt Nam đang ngày càng phát triển mạnh mẽ

 Không có quốc gia nào ủng hộ tự do báo chí nếu đi ngược lại lợi ích của cộng đồng, xã hội.

Hệ thống các quy định pháp luật của nước ta luôn tương thích với các quy định quốc tế trong vấn đề tự do báo chí. Nền báo chí cách mạng Việt Nam đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, góp phần vào công cuộc xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước. Do đó, những luận điệu xuyên tạc, thiếu thiện chí nhằm bôi nhọ, bịa đặt tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, hay các bảng xếp hạng thiếu căn cứ của một số tổ chức, cá nhân không thể phủ nhận, bóp méo những thành tựu to lớn mà báo chí cách mạng Việt Nam đạt được.

Một thực tế không thể phủ nhận

 Một thực tế không thể phủ nhận là ở Việt Nam, không người nào bị kết án tù vì thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Những trường hợp bị xử lý hình sự đều do thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của Nhà nước, cũng như các tổ chức, cá nhân, gây bất bình trong dư luận.

Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân nhằm thúc đẩy bảo đảm dân chủ, dân quyền

 Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân nhằm thúc đẩy bảo đảm dân chủ, dân quyền và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

      Hiện nay, việc bảo đảm quyền dân tộc gắn với bảo đảm dân chủ, dân quyền đứng trước yêu cầu phải nắm bắt, điều tiết được những thách thức mới đang đặt ra ngày càng lớn khi vấn đề nhân quyền được đề cập ngày càng nhiều hơn thay vì chỉ được giới hạn trong quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như trước đây. Do đó, để bảo đảm quyền dân tộc phải “phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện tốt hơn quyền làm chủ của Nhân dân” thông qua các giải pháp:

1.Triển khai mạnh mẽ Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 nhằm thực hiện có hiệu quả trên thực tế cơ chế: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

 2. Tạo động cơ khuyến khích cho người dân tham gia thực hành dân chủ trực tiếp ở cơ sở. Mặc dù pháp luật Việt Nam không cho phép bỏ phiếu đại diện, song trên thực tế hiện tượng này khá phổ biến. Từ đó gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền công dân, nhất là của phụ nữ và thanh niên trong gia đình. Muốn vậy cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể thức bầu cử dân chủ theo hướng không chạy theo thành tích để hạn chế tối đa hoặc xóa bỏ những hiện tượng này. Mặt khác, cần mở rộng các hình thức tiếp xúc cử tri của các đại biểu HĐND cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội. Bên cạnh đó, cần tăng cường vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể, báo chí. Tổ chức Đảng phải coi trọng việc thường xuyên giám sát, quản lý cán bộ, đảng viên trong thực hiện dân chủ ở cơ sởDo vậy, cần khuyến khích việc tạo thêm các kênh tiếp xúc giữa cử tri với đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND tỉnh, thành phố thông qua các đường dây nóng, mạng xã hội (Zalo, Facebook,..) nhằm tăng cường sự tham gia đối thoại và lòng tin của người dân.

    3. Tăng cường sự tham gia của cơ quan, doanh nghiệp trong thực hiện dân chủ ở cơ sở: Hiện nay, nhiều cơ quan và doanh nghiệp chưa quan tâm thích đáng đến việc thực hiện Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022. Đây là một hạn chế không nhỏ, dẫn đến việc không đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của Luật này để có sự tham gia tích cực của người dân trong việc thúc đẩy thực hiện dân chủ ở cơ quan, doanh nghiệp như trong công tác tiếp dân, tiếp cận thị trường… Do vậy, cần phối hợp thực hiện dân chủ ở cơ sở một cách đồng bộ, cả ở cấp xã lẫn tại cơ quan, doanh nghiệp.

Tăng cường hợp tác với truyền thông quốc tế

 Trên cơ sở hành lang pháp lý được quy định rõ ràng, cụ thể, thực tiễn hoạt động của báo chí Việt Nam những năm qua rất sôi động với nhiều thành tựu nổi bật. Báo chí đã thể hiện vai trò xung kích trên nhiều lĩnh vực, góp phần định hướng dư luận, giữ ổn định chính trị, biểu dương kịp thời những tấm gương người tốt, việc tốt trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội, đẩy lùi nạn tham nhũng, tiêu cực…

Báo chí thật sự là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp; là diễn đàn của nhân dân. Đảng, Nhà nước ta luôn tạo điều kiện thuận lợi để quyền tự do báo chí của nhân dân được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông cho thấy, đến năm 2023, cả nước có 6 cơ quan truyền thông đa phương tiện chủ lực, 127 cơ quan báo, 671 cơ quan tạp chí, 72 cơ quan Đài phát thanh, truyền hình. Nhân sự hoạt động trong lĩnh vực báo chí có khoảng 41.000 người, tăng gấp 6 lần so với năm 2000.

Với sự hỗ trợ của công nghệ, hệ thống báo điện tử đang hoạt động ngày càng mạnh mẽ, tạo ra sự tương tác tích cực đối với bạn đọc. Hợp tác quốc tế trong truyền thông cũng đang được tăng cường.

Thiết lập quan hệ bình đẳng giữa công dân với Nhà nước và xã hội bằng thể chế pháp quyền

  Để thiết lập quan hệ bình đẳng giữa công dân với Nhà nước và xã hội bằng thể chế pháp quyền cần thực hiện các giải pháp sau:

    Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp quyền của Nhà nước, đặc biệt thể chế hóa nghĩa vụ của Nhà nước trong bảo đảm công lí, quyền con người, quyền công dân. Qui định đầy đủ, cụ thể và rõ ràng hơn về quyền và nghĩa vụ của các cơ quan Nhà nước, của các chức danh, chức vụ của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, nhất là hoàn thiện thể chế bảo đảm và những ràng buộc pháp lí về chế độ chịu trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trước công dân, nhất là khi có hành vi gây thiệt hại cho công dân trong thi hành công vụ, ở cả 3 phương diện: cơ quan, tổ chức; cán bộ, công chức, viên chức; và văn bản quản lý hành chính của cơ quan, tổ chức. Hoàn thiện thể chế pháp quyền về phản biện xã hội, giám sát xã hội, nhằm tăng cường vai trò của các tổ chức xã hội, nhất là tổ chức thông tin đại chúng (báo chí, mạng Internet), trong việc kiểm tra, giám sát các cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, để phát hiện những vi phạm trong các mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân và giữa công dân với Nhà nước, nhằm góp phần bảo đảm công lý, công bằng xã hội, quyền con người, quyền công dân.

Tăng cường giáo dục, nâng cao ý thức trách nhiệm trước công dân cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Đề cao trách nhiệm bảo đảm các quyền con người, quyền công dân và thái độ dám chịu trách nhiệm trong thi hành nhiệm vụ, công vụ; chống hiện tượng khi phải chịu trách nhiệm lại tìm cách “chạy trách nhiệm”, né tránh, đùn đẩy. Yêu cầu về giám chịu trách nhiệm phải được đề cao thành một “Danh dự công vụ”.

Đề cao vai trò, trách nhiệm của các tổ chức Đảng và đảng viên trong lãnh đạo xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân và giữa công dân với Nhà nước. Tăng cường công tác kiểm tra của ủy ban kiểm tra Đảng các cấp đối với các cơ quan nhà nước, với đảng viên giữ chức vụ trong các cơ quan nhà nước. Xử lý nghiêm minh đối với đảng viên vi phạm qui định của Đảng và pháp luật nhà nước về quan hệ giữa Nhà nước với công dân (trong và ngoài nhà nước) và giữa công dân (trong và ngoài nhà nước) với Nhà nước.

         Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp quyền của công dân. Một nhiệm vụ quan trọng hiện nay là phải thể chế hóa các quyền hiến định của công dân trong Hiến pháp năm 2013 trên cả 2 tư cách: quyền con người và quyền công dân, để các quyền này thực sự được bảo đảm trong thực tế cuộc sống theo hướng: Các cá nhân cũng như pháp nhân của luật, tức là cả trong và ngoài Nhà nước,đều bình đẳng trước pháp luật; đều có thể đối lập tranh cãi một cách bình đẳng với các quyết định của cơ quan công quyền. Tạo lập sự gắn kết hữu cơ giữa quyền tự do dân chủ của công dân với chủ nghĩa hợp hiến. Muốn vậy, hệ thống qui phạm pháp luật phải được thực thi sao cho công dân cả trong và ngoài Nhà nước đều phải có trách nhiệm với Nhà nước; đồng thời Nhà nước phải thực hiện nghĩa vụ bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong cả hoạt động của Nhà nước và trong cả hoạt động của xã hội. Hoàn thiện và cụ thể hóa các qui phạm pháp luật về quyền con người, quyền công dân theo hướng công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm. Từ đó xác định cụ thể quyền và nghĩa vụ của công dân trong quan hệ với Nhà nước, cả với tư cách người dân và cả với tư cách cán bộ, công chức, viên chức nhà nước.

     Xây dựng và thực hiện cơ chế trách nhiệm qua lại giữa Nhà nước và công dân theo nguyên tắc pháp quyền. Trước đây, việc thực hiện cơ chế trách nhiệm qua lại giữa Nhà nước và công dân thông qua pháp chế XHCN; còn hiện nay đã chuyển sang thể chế pháp quyền. Điểm tương đồng giữa pháp chế XHCN và thể chế pháp quyền là: Đòi hỏi Nhà nước phải có một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn chỉnh. Pháp chế XHCN yêu cầu Nhà nước và công dân, kể cả công dân là cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, phải tuân thủ nghiêm túc pháp luật. Thể chế pháp quyền nhấn mạnh nguyên tắc mọi cơ quan nhà nước phải được đặt dưới pháp luật. Cả hai đều yêu cầu bảo vệ nghiêm ngặt pháp luật, đấu tranh chống tình trạng vi phạm pháp luật và coi trọng hệ thống định chế tư pháp để xét xử các hành vi vi phạm.

Trong việc bảo đảm quyền công dân và nhân quyền thì thể chế pháp quyền, một mặt, nhấn mạnh vai trò và nghĩa vụ của hệ thống hành pháp, tư pháp nhiều hơn là nhấn mạnh vai trò của cơ quan lập pháp như trong pháp chế XHCN, bảo đảm sự phản biện của người dân với tư cách là “đối trọng” không thể thay thế, trước những qui định không công bằng của Nhà nước. Chỉ như vậy mới “bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, vừa là công cụ để Nhân dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước”.

PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CÔNG TÁC CÁN B

Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam dù là trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc hay trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta luôn quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Do đó, công tác cán bộ cũng luôn được Đảng xác định là khâu “then chốt” trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Nhờ những chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng về cán bộ và công tác cán bộ, công tác cán bộ ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Quy trình công tác cán bộ ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch và ngày càng dân chủ hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu cũng không tránh khỏi việc còn tồn tại một số các hạn chế, yếu kém. Để đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định cần thiết phải triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp cụ thể như sau: Tiếp tục hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo trực tiếp, hoàn thiện công tác cán bộ đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền về công tác cán bộ; tăng cường kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ đặc biệt là đối với người đứng đầu cấp ủy, chống chạy chức, chạy quyền; hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ, tiêu chuẩn, chức danh, tiêu chí, cơ chế đánh giá cán bộ; xây dựng, hoàn thiện cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, hành động quyết liệt vì những lợi ích chung; xử lý nghiêm minh, đồng bộ giữa kỷ luật Đảng với kỷ luật Nhà nước cũng như xử lý bằng pháp luật đối với những cán bộ vi phạm kể cả khi cán bộ đó đã chuyển công tác hoặc đã nghỉ hưu; đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo động lực cho cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc được giao; thực sự coi trọng và thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ đồng thời kiên quyết phòng, chống các biểu hiện bè phái, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ và việc lợi dụng các loại hình phương tiện truyền thông đại chúng để xuyên tạc sự thật về công tác cán bộ nhằm mục đích kích động, chia rẽ làm mất đoàn kết nội bộ… Cần phải nhận thức rõ một thực tế là: không phải ngẫu nhiên một trong các trọng tâm các thế lực thù địch, phản động tập trung chống phá là công tác cán bộ bởi “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”; Công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”. Điều này đồng nghĩa với việc nếu sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với công tác cán bộ không được ngăn chặn, phản bác kịp thời và hiệu quả sẽ nguy cơ gây rối loạn chính trị-xã hội, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Do đó, kịp thời nhận diện và đấu tranh phản bác có hiệu quả những luận điệu sai trái, xuyên tạc về công tác cán bộ của Đảng là góp phần không nhỏ trong cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ./. Dịu Đào

HÃY THỂ HIỆN LÒNG YÊU NƯỚC ĐÚNG CÁCH

Suy nghĩ của cá nhân tôi về lòng yêu nước đơn giản lắm không có gì cao siêu cả. Yêu nước cũng như ta yêu gia đình ta, cho dù ngôi nhà của gia đình ta có nhỏ bé, có nghèo ta vẫn yêu thương, vẫn tự hào vì được sinh ra lớn lên từ dòng sữa ngọt ngào của Mẹ, công lao biển trời của Cha, luôn biết ơn không bao giờ xem thường, so sánh với gia đình khác. Lòng yêu nước là tình cảm thiêng liêng của mỗi người giành cho quê hương đất nước, có lòng tự tôn tự hào dân tộc. Yêu nước chủ yếu nằm trong hành động ý thức của mỗi người. Yêu nước trước hết phải là một công dân tuân thủ luật pháp, yêu gia đình, yêu làng xóm, yêu sông, yêu núi, yêu thương người dân sống trên mảnh đất quê hương mình. Yêu nước thì phải biết trân trọng những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, làm gì cũng tâm niệm ích nước, lợi nhà, trong cái riêng luôn nghĩ đến cái chung, tình yêu nước hòa quyện với yêu Đảng, yêu chế độ, chỉ đơn giản như vậy thôi thì cũng là một công dân tuyệt vời rồi. Mỗi người là một hạt nhân tốt xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc, gia đình là tế bào của xã hội, gia đình yên ấm thì xã hội bình yên đất nước phồn vinh, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh . Tuy nhiên tôi thấy một số bộ phận trên MXH thể hiện lòng yêu nước một cách cực đoan. Tuy rằng về mặt tư tưởng, tình cảm họ vẫn yêu nước, yêu Đảng, yêu chế độ, nhưng tư tưởng, tâm lý và hành động không thống nhất. Họ nói một đường làm một nẻo. Việc làm của họ thường chống lại hoặc làm biến thái các nghị quyết, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Còn có một số nhỏ thiếu lòng yêu nước, thâm thù với chế độ đã có những hành động tiếp tay cho các thế lực thù địch chống phá làm rối loạn xã hội Việc đấu tranh và nhận diện về lòng yêu nước vô cùng quan trọng, hãy yêu nước bằng trái tim nóng và cái đầu lạnh, hãy thể hiện lòng yêu nước đúng cách và thể hiện thế nào cho đúng thì mọi ngành, mọi cấp, mọi nhà, mọi người phải có một cách nhận thức thống nhất. Dịu Đào

Báo chí Việt Nam và những đóng góp quan trọng

 Những năm qua, sự phát triển mạnh mẽ, sôi động của hệ thống báo chí, truyền thông trong nước đã phản ánh rất rõ những thành tựu đáng ghi nhận của Việt Nam trong bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Báo chí đã có những đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là tiếng nói của mọi tầng lớp nhân dân.

CẠNH TRANH LÀNH MẠNH

Trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng cần có sự cạnh tranh, đó chính là động lực để tồn tại để phát triển, nhưng phải là sự cạnh tranh lành mạnh, còn cái kiểu bất chấp đúng sai để đạt được mục đích, cố tình vùi dập hạ bệ người khác để nâng cao giá trị bản thân, để ngoi lên thì vô cùng hèn hạ, cũng không thể bền vững lâu dài. Cuộc sống luôn có quy luật của nó, cái gì cũng có cái giá của nó, cuối cùng thì sự thật vẫn là sự thật, rồi mọi thứ cũng trở về quỹ đạo của nó không thể khác được. Con người sống chân thành lòng dạ trong sáng, thì tâm tư sẽ thoải mái đâu óc mới minh mẫn sáng suốt. Người có tài năng thực sự họ sẽ đi lên bằng đôi chân khối óc của họ, bạn cố tình hạ bệ cũng không ăn thua đâu, chỉ chứng tỏ bạn là người vô dụng xấu tính bất tài . Khi ta sống bằng những toan tính hại người, giả dối, lọc lừa thì lúc nào lòng dạ cũng bất an, ai nói gì chẳng liên quan cũng tự vơ, cũng giật mình thon thót, như vậy sẽ rất mỏi mệt. Sống mà toan tính, mưu mô, xảo trá thì lúc nào cũng tìm cách để che đậy, tìm cách để đối phó, bởi vì cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, giấy không gói được lửa, luôn sợ người khác phát hiện, rất mất thời gian và hại não. Muốn bản thân vui vẻ hạnh phúc thì đừng cố tình làm hại ai, nhìn lên để phấn đấu, học hỏi những điều tốt đẹp ở người khác, đừng để mọi thứ không liên quan ảnh hưởng đến cảm xúc bản thân. Không cần, không quan tâm ai nói gì, lắng nghe dư luận để nhìn nhận lại bản thân, chẳng cần thiết phải chạy theo đuôi vuốt ve dư luận, ai hiểu rõ bằng chính người trong cuộc, ai hiểu rõ bạn bằng chính bạn, không có tòa án nào bằng tòa án lương tâm, nếu có tấm lòng thẳng ngay thì cứ an yên mà sống./. Dịu Đào

Hà Nội tổ chức Lễ Tuyên dương 100 “Công nhân giỏi Thủ đô” năm 2024 nhân dịp kỷ niệm 134 năm Ngày sinh nhật Bác

 

Chào mừng kỷ niệm 134 năm Ngày sinh nhật Bác (19/5/1890 – 19/5/2024) và hưởng ứng Tháng Công nhân, tối 17/5, Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội tổ chức Lễ Tuyên dương 100 “Công nhân giỏi Thủ đô” năm 2024.

Chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội Phạm Quang Thanh cho biết, thời gian qua, phong trào thi đua “Lao động giỏi”, phấn đấu đạt danh hiệu “Công nhân giỏi Thủ đô” đã được các cấp Công đoàn và công nhân lao động tích cực triển khai, hưởng ứng, duy trì và phát triển, đến nay thực sự đi vào chiều sâu và có ý nghĩa, trở thành phong trào hành động quan trọng của tổ chức Công đoàn.

Qua 16 năm triển khai thực hiện, hàng trăm nghìn tấm gương “Công nhân giỏi” hiện hữu trên mọi lĩnh vực, ở tất cả các lứa tuổi được tôn vinh xứng đáng. Họ là những công nhân trực tiếp lao động, sản xuất tại các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có nhiều sáng kiến sáng tạo, góp phần cùng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả, xây dựng Thủ đô giàu đẹp, văn minh.

Năm 2024, toàn thành phố có 62.520 “Công nhân giỏi” cấp cơ sở; 2.230 “Công nhân giỏi” cấp trên cơ sở. Trong đó, riêng khu vực doanh nghiệp FDI chiếm 35%; công nhân bậc 3 – 4 – 5 chiếm trên 60%; công nhân có trình độ tay nghề bậc 6 – 7 chiếm trên 35%; một số công nhân đạt các giải cao tại Hội thi tay nghề toàn quốc, ngành và địa phương. Từ những tấm gương điển hình tiên tiến cấp cơ sở và cấp trên cơ sở, UBND thành phố Hà Nội tặng Bằng khen cho 100 “Công nhân giỏi Thủ đô”.

Thời gian tới, để phong trào thi đua “Lao động giỏi”, phấn đấu đạt danh hiệu “Công nhân giỏi Thủ đô” đạt hiệu quả cao hơn, các cấp Công đoàn cần tiếp tục chủ động tham mưu với cấp ủy Đảng, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền đồng cấp triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 34 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng” trong tình hình mới; tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước, đặc biệt là phong trào: “Lao động giỏi”, “Lao động sáng tạo”, “Xanh – Sạch – Đẹp, bảo đảm An toàn vệ sinh lao động”, thi đua phấn đấu đạt danh hiệu “Công nhân giỏi Thủ đô”…

Chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội Phạm Quang Thanh yêu cầu, các phong trào thi đua tập trung vào hướng khắc phục, tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động. Từ đó, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp; xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Thủ đô vững mạnh; thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu về phát triển kinh tế – xã hội năm 2024 và những năm tiếp theo.

Giải pháp phát huy vai trò nhân dân trong điều kiện cách mạng 4.0

 Giải pháp phát huy vai trò nhân dân trong điều kiện cách mạng 4.0 nhằm tiếp tục phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

Tích cực, chủ động thiết lập hệ thống thông tin nhằm giải quyết hiệu quả những vấn đề về quan hệ giữa quyền con người, quyền cộng đồng và quyền dân tộc mới nảy sinh trong thực tiễn quản trị của Nhà nước và xã hội.

Về cung cấp thông tin. Do thông tin là cơ sở để tăng cường mối quan hệ giữa chính quyền và công dân, nên chính quyền có thể cung cấp thông tin bị động hoặc thông tin chủ động cho công dân; và có thể sử dụng các sản phẩm thông tin qua kênh trực tiếp và có kiểm soát hoặc các kênh độc lập để cung cấp thông tin.

Về tham vấn công dân. Chính quyền gửi yêu cầu về việc lấy ý kiến và tiếp nhận ý kiến đóng góp của công dân đối với các nội dung liên quan đến hoạch định chủ trương, chính sách công. Việc tham vấn công dân tạo ra mối quan hệ hai chiều giữa chính quyền và công dân. Thông tin phản hồi từ các công dân có thể chứa đựng những thông tin có giá trị cho chính quyền và xã hội, ví dụ các kiến nghị chính sách mới hoặc những điều chỉnh chủ trương, chính sách công

Về tham gia tích cực của tổ chức, cá nhân công dân. Công dân giữ vai trò đề xuất các phương án về chủ trương, chính sách công, còn việc chịu trách nhiệm về xây dựng chủ trương, chính sách công và quyết định cuối cùng thuộc về chính quyền hoặc tổ chức xã hội. Thu hút công dân tham gia vào hoạch định chủ trương, chính sách công là mối quan hệ hai chiều giữa chính quyền, xã hội và công dân dựa trên nguyên tắc đối tác. Nhà nước, tổ chức xã hội căn cứ vào tình hình thực tế và mục tiêu thu hút sự tham gia của công dân trong hoạch định chủ trương, chính sách công để lựa chọn một trong ba cấp độ nêu trên

CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 134 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH (19/5/1890-19/5/2024)

CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 134 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH (19/5/1890 - 19/5/2024) Ngày 19-5 là ngày ghi dấu nhiều sự kiện đặc biệt đối với lịch sử đất nước và dân tộc. Đó là ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân Việt Nam, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới. Ngày sinh nhật Bác Hồ kính yêu, mỗi người dân Việt Nam chúng ta đều nhớ đến, trong tim luôn trào dâng một cảm xúc bồi hồi khó tả khi hướng về Thủ đô Hà Nội, hướng về Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh - trái tim của cả nước với tấm lòng trân trọng, biết ơn và thành kính. Người đã hiến dâng trọn cuộc đời mình cho độc lập của Tổ quốc và tự do, hạnh phúc của nhân dân.

Đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân quyền

  Một điểm đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân quyền là chú trọng thực hành mối quan hệ biện chứng giữa quyền con ngườiquyền cộng đồng và quyền dân tộc; trong đó tôn trọng, bảo vệ, thực hiện và thúc đẩy quyền con người là cơ sở bảo đảm quyền cộng đồng, quyền dân tộc, bởi “nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Thực tế trong thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay) cho thấy, việc thực hành quan điểm này của Hồ Chí Minh đã tạo cơ sở dân chủ, dân quyền cho việc xem xét, giải quyết đúng đắn mối quan hệ qua lại giữa việc tôn trọng, bảo vệ, thực hiện và thúc đẩy quyền bình đẳng, tương trợ, đoàn kết của mọi người và của các cộng đồng lớn nhỏ (giới, dân tộc, tôn giáo…) với việc bảo đảm quyền dân tộc Việt Nam theo hướng hài hòa giữa đổi mới, ổn định và phát triển.

Mở rộng hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm công nghệ cao

 Mở rộng hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm công nghệ cao

Việc mở rộng hợp tác về hoàn thiện pháp luật trong phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao giữa Việt Nam và các nước Liên minh châu Âu thời gian qua vẫn tồn tại một số khó khăn sau:

Thứ nhất, hiện nay chưa có một điều ước quốc tế toàn cầu, cũng như các cơ chế, thiết chế hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao.

Thứ hai, hệ thống pháp luật trong nước, đặc biệt là pháp luật về phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao chưa theo kịp với những biến chuyển nhanh chóng của tình hình tội phạm với phương thức, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu, rộng.

Thứ ba, công tác tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế còn chưa được quan tâm đúng mức; công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về phòng, chống tội phạm, trong đó có tội phạm về sử dụng công nghệ cao chưa được tiến hành thường xuyên, gây khó khăn trong đánh giá hiệu quả hợp tác quốc tế cũng như đánh giá khả năng hợp tác của Việt Nam với các nước thuộc EU.

Thứ tư, việc không tương đồng trong hệ thống pháp luật và các qui định của Việt Nam với các nước thuộc EU đôi khi cũng là rào cản trong quá trình triển khai các điều ước quốc tế.

Trên cơ sở các qui định hiện hành của pháp luật Việt Nam và pháp luật các nước EU, cần nghiên cứu một số phương hướng để hoàn thiện pháp lý tạo thuận lợi cho hoạt động hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, cụ thể gồm:

Một là, thống nhất về nhận thức và hành động chung đối với vấn đề tội phạm sử dụng công nghệ cao, tiến tới xây dựng các khuôn khổ pháp lý chung tạo thuận lợi cho việc phối hợp, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này; trước mắt hoàn thiện các vòng đàm phán xây dựng Công ước toàn diện của Liên hợp quốc về chống sử dụng công nghệ thông tin vào mục đích phạm tội cơ quan này đang chủ trì xây dựng.

Hai là, xây dựng kế hoạch, lộ trình trao đổi, hợp tác, thống nhất nhận thức về tội phạm sử dụng công nghệ cao với các nước EU (do còn có sự khác biệt với pháp luật của Việt Nam) để đưa hoạt động điều tra tội phạm sử dụng công nghệ cao đi vào chiều sâu và hiệu quả.

Ba là, đề xuất thúc đẩy đàm phán, ký kết thỏa thuận hợp tác chuyên ngành về phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao với các cơ quan thực thi pháp luật của các nước EU để hoạt động bảo đảm an ninh mạng, phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đi vào chiều sâu và hiệu quả.

Bốn là, nghiên cứu xây dựng kế hoạch chung hoặc chương trình hành động chung với các nước EU để phối hợp triển khai các văn bản, hiệp định, thỏa thuận song phương, đa phương trên thực tế; định kỳ rà soát, sơ kết, tổng kết để nghiên cứu sửa đổi, bổ sung tùy tình hình thực tế và nhu cầu của hai bên.

Năm là, đề nghị các nước EU hỗ trợ đào tạo cho cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật của Bộ Công an Việt Nam nhằm đi trước một bước trong công tác dự báo xu hướng, diễn biến của tội phạm sử dụng công nghệ cao phục vụ công tác hoàn thiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực này./.

Pháp luật Việt Nam về tội phạm sử dụng công nghệ cao

 Pháp luật Việt Nam về tội phạm sử dụng công nghệ cao

Hiện nay, luật pháp của nhiều nước trên thế giới đã có định nghĩa về tội phạm sử dụng công nghệ cao, như: tội phạm công nghệ cao (high-tech crime), tội phạm máy tính (computer crime), tội phạm liên quan đến máy tính (computer-related crime), tội phạm mạng (cybercrime).

Trong những năm qua, Việt Nam đã tích cực sửa đổi, bổ sung một số qui định pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý hoàn thiện hơn trong công tác phòng, chống tội phạm nói chung, tội phạm sử dụng công nghệ cao nói riêng.  Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định số 25/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07/4/2014 qui định: “Tội phạm sử dụng công nghệ cao là hành vi nguy hiểm cho xã hội được qui định trong Bộ luật Hình sự có sử dụng công nghệ cao”. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có nhiều điều luật qui định về tội phạm có sử dụng công nghệ cao, trong đó có thể chia thành các nhóm: nhóm các điều luật qui định trực tiếp các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông; nhóm các điều luật qui định cụ thể sử dụng công nghệ thông tin, viễn thông là tình tiết định tội, định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự và Nhóm khác (các điều luật không qui định cụ thể sử dụng công nghệ thông tin, viễn thông nhưng có thể xảy ra trong các tội phạm) cụ thể là: (i) Nhóm các điều luật qui định các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông: bao gồm 09 Điều, từ Điều 285 đến Điều 294 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bỏ Điều 292 về tội cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông); (ii) Nhóm các điều luật qui định sử dụng công nghệ cao là tình tiết định tội, định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự như: Điểm e khoản 2 Điều 155 (Tội làm nhục người khác), Điểm e khoản 2 Điều 156 (Tội vu khống), Điểm c khoản 2 Điều 321 (Tội đánh bạc), Điểm c khoản 2 Điều 326 (Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy), Điều 344 (Tội vi phạm qui định về hoạt động xuất bản)…

Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) đã qui định dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ và qui định các biện pháp thu thập, bảo quản chứng cứ điện tử. Một số văn bản pháp luật khác liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đã được ban hành, như: Luật An toàn thông tin mạng năm 2015; Luật Giao dịch điện tử năm 2015… Đối với những hành vi vi phạm hành chính, việc xử phạt được áp dụng theo qui định của Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan.

ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC HÌNH ẢNH LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Thời gian qua, trên nhiều trang mạng xã hội đã xuất hiện nhiều thông tin, hình ảnh phản cảm được gán ghép cho là của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Việt Nam trong chiến tranh giải phòng và trong hòa bình, nhất là trong dịp lễ kỷ niệm 70 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

Đây là sự ngụy tạo trắng trợn của các thế lực thù địch, nhằm xuyên tạc truyền thống tốt đẹp của lực lượng vũ trang Việt nam, chia rẽ tình đoàn kết gắn bó máu thịt giữa cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang với nhân dân. Để thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, thời gian qua các thế lực thù địch không từ bất cứ một thủ đoạn nào… Thế nhưng, có thể nói những chiêu trò nham hiểm đó nhằm “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nói chung và Quân đội Việt Nam nói riêng đã bị vô hiệu hóa.

Trải qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đã luôn khẳng định là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Ngày nay, trong điều kiện và hoàn cảnh mới lực lượng vũ trang Việt nam tiếp tục được giáo dục, rèn luyện, huấn luyện theo hướng cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại. Đặc biệt, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng xây dựng Quân đội và Công an vững mạnh về chính trị, lấy đó làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu. Do vậy, lực lượng vũ trang luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào lực lượng vũ trang nhân dân luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Cần phải nhận thức rõ rằng, hành vi lợi dụng các mạng xã hội để đưa những thông tin, hình ảnh sai trái nhằm bôi nhọ danh dự của các lực lượng vũ trang là hành vi vi phạm pháp luật. Đây là loại tội phạm trên không gia ảo, nhằm làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào Quân đội và công an; chia rẽ khối đại đoàn kết, tạo sự hoài nghi, ngờ vực trong xã hội…Trước tình hình trên, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần phải hét sức cảnh giác, tẩy chay những thông tin độc hại, không tiếp tay cho kẻ xấu để tuyên truyền những thông tin ảo. Để vô hiệu hóa những chiêu trò này, mỗi chúng ta cần nâng cao khả năng đề kháng, không mơ hồ, chủ quan, mất cảnh giác, cần hết sức tỉnh táo để nhận rõ tính ngụy tạo, xuyên tạc của những tài liệu, hình ảnh đó…

Cách tốt nhất để giúp nhân dân và cán bộ, chiến sĩ lực wlwongj vũ trang tỉnh táo và nhận rõ sự thâm hiểm đằng sau những chiêu trò này là phải thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, phổ biến, trang bị cho mọi người những kiến thức cần thiết. Nhận diện rõ, có kiến thức cũng là cách giúp chúng ta luôn chủ động, nhạy bén, tích cực tham gia đấu tranh, vạch trần tính chất phản khoa học, vô căn cứ trong những âm mưu thâm hiểm của các thế lực thù địch. Thông qua công tác dân vận, cần tạo môi trường thuận lợi để những phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và phẩm chất người Công an cách mạng ngày càng tỏa sáng trong điều kiện mới. thông qua những việc làm, hành động cao đẹp, đem lại hiệu quả thiết thực để tăng cường, củng cố niềm tin của nhân dân đối với lực lượng vũ trang nhân dân trong điều kiện hiện nay./.

.ankhe.18

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CHO RẰNG “TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH KHÔNG PHẢI LÀ SỰ VẬN DỤNG SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN” VÀO VIỆT NAM


Hiện nay, ở Việt Nam các thế lực thù địch, phản động đang tuyên truyền nội dung hết sức sai trái cho rằng: “tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và pháttriển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện Việt Nam”. Cần khẳng định rằng về bản chất quan điểm tuyên truyền sai trái nói trên nằm trong mưu toan phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nguồn gốc tư tưởng, lý luận chủ yếu, quyết định là chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, từ đó làm suy yếu, tiến tới phủ định chính tư tưởng Hồ Chí Minh. Do vậy, mọi sự xuyên tạc, lừa bịp của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội về tư tưởng Hồ Chí Minh đều không có cơ sở khoa học và không có giá trị. Dưới đây, chúng tôi xin đưa ra hai luận điểm chính nhằm minh chứng cho những nhận định nói trên.
Thứ nhất, Hồ Chí Minh đã trải qua một quá trình khảo cứu, phân tích và lựa chọn con đường cứu nước Việt Nam và đã lựa chọn con đường cách mạng vô sản - con đường của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước trên con tàu Đô đốc Latútsơ Tơrêvin, từ bến cảng thành phố Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh). Từ năm 1911-1917, Người qua nước Pháp và nhiều thuộc địa châu Phi, châu Mỹ, sau đó về sống ở nước Anh. Trải qua quá trình bôn ba tìm và lựa chọn con đường cứu nước đáp ứng yêu cầu của dân tộc Việt Nam thì cuối cùng, Người tìm được và đã quyết định đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 của Lênin - lãnh tụ của giai cấp vô sản thế giới, Người đã kế thừa và phát triển di sản vĩ đại của Mác - Ănghen. Do đó, Hồ Chí Minh kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Thứ hai, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Với quan điểm thực tiễn, quan điểm lịch sử và phương pháp luận biện chứng mácxít, ngay từ khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã thấy sự khác biệt giữa các nước tư bản ở châu Âu mà C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin đã nghiên cứu so với thực tiễn Việt Nam - một nước thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, kinh tế kém phát triển… Người đã đề xuất bổ sung về “cơ sở lịch sử phương Đông”, để gắn với lịch sử ở phương Đông và Việt Nam. Người đưa ra luận điểm rất quan trọng về cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không hoàn toàn phụ thuộc vào cuộc cách mạng “chính quốc”, nhân dân thuộc địa có thể chủ động đứng lên tự giải phóng mình. Hồ Chí Minh có quan điểm sáng tạo trong giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa quốc tế. Hồ Chí Minh đã phát triển sáng tạo về xây dựng Đảng cộng sản ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, đó là quy luật hình thành Đảng bằng kết hợp của nghĩa Mác- Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước (trong chủ nghĩa Mác – Lênin chưa đặt vấn đề phong trào yêu nước).
Cần khẳng định chắc chắn rằng, về thực chất, quan điểm cho rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện Việt Nam” hoàn toàn không phải là sự ca ngợi, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh. Trái lại, điều đó nằm trong mưu toan phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nguồn gốc tư tưởng, lý luận chủ yếu, quyết định là chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, từ đó làm suy yếu tiến tới phủ định chính tư tưởng Hồ Chí Minh. Do vậy, mọi sự xuyên tạc, lừa bịp của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội về tư tưởng Hồ Chí Minh đều không có giá trị./.
Sáng mãi niềm tin

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ TẠI VIỆT NAM


Những năm qua, sự phát triển mạnh mẽ, sôi động của hệ thống báo chí, truyền thông trong nước đã phản ánh rất rõ những thành tựu đáng ghi nhận của Việt Nam trong bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Báo chí đã có những đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là tiếng nói của mọi tầng lớp nhân dân.
Việt Nam đã, đang tham gia và nghiêm túc thực hiện các cam kết của mình về vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí theo Hiến chương Liên hợp quốc và các nghị định, hiệp ước quốc tế, khu vực liên quan.
Tuy nhiên, một số cá nhân và tổ chức thù địch, phản động vẫn luôn tìm cách để bịa đặt, xuyên tạc tình hình tự do báo chí như một chiêu bài trong chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.
Không có gì đáng ngạc nhiên, vào đầu tháng 5/2024, theo thông lệ, tổ chức “Phóng viên không biên giới” (RSF) lại công bố báo cáo thường niên về “Chỉ số tự do báo chí năm 2024”.
Tổ chức này xếp Việt Nam đứng thứ 174 trong số 180 quốc gia về tự do báo chí - thuộc nhóm các nước “có nền báo chí tồi tệ nhất thế giới”.
Đây không phải là lần đầu RSF đưa ra những nhận định hoàn toàn phiến diện, thiếu khách quan, thiên kiến và quy chụp về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, bất chấp thực tế đời sống báo chí ở nước ta ngày càng phát triển chuyên nghiệp, sôi động và hiệu quả.
Giống như mọi lần, những quy kết vô căn cứ trong báo cáo của tổ chức này không đưa ra được bất cứ bằng chứng có tính xác thực nào ứng với các tiêu chí được chính họ đưa ra là “thực hiện các hoạt động giúp thúc đẩy tự do báo chí của thế giới” mà chỉ dựa vào những thông tin thiếu khách quan từ một nhóm người có định kiến với nhà nước sở tại về quan điểm, đường hướng hoạt động báo chí hoặc một số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, có hành vi vi phạm pháp luật, âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, gây mất ổn định chính trị.
Những nội dung mang tính bịa đặt trong bản báo cáo đã tạo cơ hội cho những phần tử thù địch, cực đoan trong và ngoài nước công kích, chống phá Việt Nam.
Thực tiễn đã chứng minh, trong suốt tiến trình phát triển của đất nước, việc bảo đảm tự do báo chí, tự do ngôn luận là mục tiêu nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, được khẳng định và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp và các quy định của pháp luật, phù hợp với các quy định của quốc tế, được nhân dân đồng tình ủng hộ.
Cụ thể tại Điều 25, Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.
Điều 13, Luật Báo chí 2016 quy định: Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình.
Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng.
Trên cơ sở hành lang pháp lý được quy định rõ ràng, cụ thể, thực tiễn hoạt động của báo chí Việt Nam những năm qua rất sôi động với nhiều thành tựu nổi bật. Báo chí đã thể hiện vai trò xung kích trên nhiều lĩnh vực, góp phần định hướng dư luận, giữ ổn định chính trị, biểu dương kịp thời những tấm gương người tốt, việc tốt trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội, đẩy lùi nạn tham nhũng, tiêu cực...
Báo chí thật sự là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp; là diễn đàn của nhân dân. Đảng, Nhà nước ta luôn tạo điều kiện thuận lợi để quyền tự do báo chí của nhân dân được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông cho thấy, đến năm 2023, cả nước có 6 cơ quan truyền thông đa phương tiện chủ lực, 127 cơ quan báo, 671 cơ quan tạp chí, 72 cơ quan Đài phát thanh, truyền hình. Nhân sự hoạt động trong lĩnh vực báo chí có khoảng 41.000 người, tăng gấp 6 lần so với năm 2000.
Với sự hỗ trợ của công nghệ, hệ thống báo điện tử đang hoạt động ngày càng mạnh mẽ, tạo ra sự tương tác tích cực đối với bạn đọc. Hợp tác quốc tế trong truyền thông cũng đang được tăng cường.
Các nhà báo quốc tế được Chính phủ Việt Nam tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác nghiệp. Công tác đào tạo, trao đổi, hợp tác về báo chí trong và ngoài nước ngày càng được quan tâm. Không chỉ vậy, mạng xã hội cũng là một kênh thông tin tham gia mạnh mẽ vào môi trường truyền thông.
Mọi công dân đều được quyền phát ngôn, thảo luận các vấn đề của đời sống. Đây là những minh chứng rõ ràng, thuyết phục nhất cho vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam được bảo đảm.
Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, tự do báo chí không có nghĩa là bất chấp mọi quy định pháp luật. Tự do phải trong khuôn khổ luật pháp quốc gia. Không chỉ riêng báo chí mà bất kỳ lĩnh vực nào khác của đời sống cũng phải hoạt động theo tinh thần thượng tôn pháp luật.
Luật Báo chí 2016 quy định: “Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân” (Điều 13, khoản 2).
Đồng thời tại khoản 3, Điều 25 về Quyền và nghĩa vụ của nhà báo, Luật Báo chí quy định, nhà báo có nghĩa vụ thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân; phản ánh ý kiến, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân; tuân thủ quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo.
Như vậy, có thể thấy, tự do báo chí ở Việt Nam lấy mục tiêu cao nhất là phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Người làm báo luôn gắn trách nhiệm với cộng đồng, xã hội, không phải là tự do tùy tiện theo ý chí cá nhân.
Do đó khi thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, mọi công dân đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ chế độ xã hội, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, không làm ảnh hưởng hay xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Thực chất thủ đoạn xuyên tạc tình hình nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận của Việt Nam không phải là mới. Đây là kịch bản cũ thường xuyên được RSF và một số tổ chức nhân danh dân chủ, nhân quyền áp dụng, rêu rao để vu khống, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, hòng can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Mặt khác, qua đó kích động, tuyển lựa hỗ trợ các thành phần chống đối trong nước tiến hành những hoạt động công kích Đảng, Nhà nước, cơ quan công quyền dưới vỏ bọc “nhà báo độc lập”, “nhà báo tự do” nhằm phục vụ cho mục đích đen tối của mình.
Một thực tế không thể phủ nhận là ở Việt Nam, không người nào bị kết án tù vì thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Những trường hợp bị xử lý hình sự đều do thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của Nhà nước, cũng như các tổ chức, cá nhân, gây bất bình trong dư luận.
Việc bắt giữ, xử lý hình sự một số đối tượng nhân danh “tự do ngôn luận” để chống phá Đảng, Nhà nước, gây mất ổn định chính trị là cần thiết và đúng với quy định pháp luật. Tuy nhiên các thế lực thù địch đã lợi dụng những vụ việc này để rêu rao vấn đề nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí hòng chống phá Việt Nam.
Chúng cố tình gắn mác cho những đối tượng cực đoan, chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc là “nhà báo độc lập”, hay “nhà báo tự do”, cho dù các đối tượng này không hề làm việc cho một cơ quan báo chí nào ở Việt Nam, không được Bộ Thông tin và Truyền thông ở Việt Nam cấp thẻ theo luật định.
Từ đây các đối tượng ra sức bóp méo tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, kêu gọi các tổ chức quốc tế lên án Việt Nam.
Có thể thấy rằng, cái gọi là “tự do báo chí” mà những phần tử thù địch muốn tuyên truyền, cổ xúy thực chất là đề cao quan điểm cá nhân nhưng không đi kèm với trách nhiệm xã hội, khuôn khổ pháp luật và đạo đức, bất chấp những hậu quả xảy ra với cộng đồng, quốc gia, dân tộc.
Đây là điều không thể chấp nhận được bởi trong một xã hội tiến bộ, tự do ngôn luận, tự do báo chí không thể nằm ngoài lợi ích của quốc gia, dân tộc. Mọi hành vi phá hoại đất nước, gây mất an ninh trật tự xã hội nhân danh tự do ngôn luận, tự do báo chí đều phải bị ngăn chặn và loại bỏ.
Cựu Tổng Thư ký Liên hợp quốc, ông Ban Ki-moon từng khẳng định: “Tự do ngôn luận được bảo vệ khi nó được sử dụng vào mục đích công lý và cộng đồng... Khi một số người sử dụng quyền tự do này để khiêu khích hoặc sỉ nhục các giá trị niềm tin của người khác thì hành động đó sẽ không được bảo vệ”.
Trước đó, trong Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 cũng nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.
Rõ ràng sẽ không có quốc gia nào ủng hộ tự do báo chí nếu đi ngược lại lợi ích của cộng đồng, xã hội. Như tại Pháp, pháp luật về tự do ngôn luận cũng đưa ra các giới hạn, chế tài nghiêm khắc, trừng trị hành vi lạm dụng quyền tự do ngôn luận làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm việc bảo vệ nhân phẩm con người, chống lại việc vu khống, bôi nhọ; chống phân biệt chủng tộc, tôn giáo; chống kích động bạo lực, gây hận thù (Luật Tự do báo chí, năm 1881); chống lại việc xâm phạm đời tư (Bộ luật Dân sự); cấm xuất bản một số tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia (Luật Hình sự); đồng thời, việc bày tỏ quan điểm cá nhân trên internet cũng chịu sự điều chỉnh của Luật Tự do báo chí.
Hệ thống các quy định pháp luật của nước ta luôn tương thích với các quy định quốc tế trong vấn đề tự do báo chí. Nền báo chí cách mạng Việt Nam đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, góp phần vào công cuộc xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước.
Do đó, những luận điệu xuyên tạc, thiếu thiện chí nhằm bôi nhọ, bịa đặt tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, hay các bảng xếp hạng thiếu căn cứ của một số tổ chức, cá nhân không thể phủ nhận, bóp méo những thành tựu to lớn mà báo chí cách mạng Việt Nam đạt được./.
Báo Nhân Dân