Thứ Bảy, 22 tháng 1, 2022

TRINITY HỒNG THUẬN LÀ AI? CÓ VỊ TRÍ NÀO TRONG TỔ CHỨC VIỆT TÂN?

     Hồng Thuận là ai, và là người như thế nào, và tại sao lại được tổ chức phản động Việt Tân xem như là “Ngọn cờ ” trong tiến hành các hoạt động chống lại Đảng và Nhà nước, sau đây là những thông tin về hoạt động của Trinity Hồng Thuận:

Khi các bạn xem những hình ảnh về Trinity Hồng Thuận, điều đầu tiên các bạn nhìn thấy là một người trẻ trung, xinh đẹp và rất bắt mắt. Và lại còn cuốn hút hơn khi thấy những hình ảnh gợi cảm có phần khoe hàng của Hồng Thuận. Đó là một nhan sắc biết bao nhiêu người ao ước có được, và muốn sở hữu nó, nhờ có vẻ đẹp đó mà Hồng Thuận đã có nhiều thuận lợi trong các công việc cá nhân, cũng như các mục đích khác. Điều này cho thấy vẻ đẹp có lợi thế trong khi giải quyết các công việc. Tuy nhiên, người ta thường nói “Cái đẹp nó đè bẹp cái nết” câu nói này đúng hoàn toàn với Hồng Thuận khi nhan sắc thì có nhưng Hồng Thuận lại có những hành động với quê hương, đất nước, với nhân dân không hề có một chút nết nào cả.

Vậy Hồng Thuận là ai, và là người như thế nào, và tại sao lại được tổ chức phản động Việt Tân xem như là “Ngọn cờ ” trong tiến hành các hoạt động chống lại Đảng và Nhà nước, sau đây là những thông tin về hoạt động của Trinity Hồng Thuận:


Họ tên: Phạm Trinnity Hồng Thuận Đắc, tên gọi khác là Phạm Hồng Thuận, Phạm Trinity, tên đảng trong tổ chức Việt Tân: Lý Như Tâm; Sinh ngày: 15/01/1988, quê gốc trước khi bỏ trốn khỏi Việt Nam tại tỉnh Khánh Hòa, hiện nay Hồng Thuận là Bí thư chi bộ tổ chức khủng bố Việt Tân, Facebook: Trinity Hồng Thuận; Bloger Hồng Thuận

 

  Phạm Hồng Thuận tham gia chống đối từ rất sớm. Năm 2005 khi mới 17 tuổi Trinity Hồng Thuận đã tham gia biểu tình phản đối chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng Phan Văn Khải. Trinity Hồng Thuận được biết đến và nổi lên từ đó, được bọn phản động để ý và có các hành động cổ vũ. Hai năm sau, năm 2007 Phạm Hồng Thuận gia nhập và được tổ chức phản động Việt Tân kết nạp, ngay sau đó Phạm Hồng Thuận liền có hành động chống đối khi đọc “Bản tuyên bố phản đối Việt Nam trở thành thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc” tại buổi sinh hoạt Cộng đồng người Việt tại Nam California. Phạm Hồng Thuận còn đại diện cho Cộng đồng người Việt tại Nam California tiếp xúc với Đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền”, vi phạm tự do tôn giáo.

Sau những hành động đó, Phạm Hồng Thuận được biết đến nhiều hơn dần dần được tổ chức phản động Việt Tân giao cho nhiều trọng trách tiến hành các hoạt động chống đối không chỉ ngoài nước mà còn tìm cách núp bóng các tổ chức Phi Chính phủ vào nước ta để hoạt động phản động, cụ thể:

Trinity Hồng Thuận được giao phụ trách chương trình “thế kỷ của chúng ta” của đài “Chân trời mới” một cơ quan ngôn luận của tổ chức phản động Việt Tân, là thành viên “Đoàn thanh niên Phan Bội Châu” và “Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đường” (tổ chức ngoại vi của “Việt tân”). Cùng với đó còn tích cực tham gia vào các cuộc biểu tình trái pháp luật đòi trả tự do cho Nguyễn Quốc Quân, phản đối Trung Quốc chiếm Hoàng Sa - Trường Sa

Năm 2009 Trinity Hồng Thuận nhập cảnh Việt Nam cùng với số sinh viên trường ĐH Hà Nội tổ chức các hoạt động xã hội tại thôn Dy, huyện Ba Vì, Tp. Hà Nội và lôi kéo số sinh viên trên thành lập “Liên hội sinh viên chống tệ nạn buôn người” trái phép hoạt động như một tổ chức NGO để thông qua đó chúng có thể tập hợp, lôi kéo lực lượng vào tổ chức phản động của chúng. Điển hình đó là việc nghệ sĩ Thành Lộc một nghệ sĩ khá nổi tiếng của Việt Nam đã có những dính lứu liên quan đến hoạt động củaTrinity Hồng Thuận và tổ chức Việt Tân. Gần đây nhất trên trang Facebook cá nhân của mình Trinity Hồng Thuận luôn đăng những tin bài có nội dung bênh vực cho những kẻ phạm pháp như: Trần Thị Nga, Nguyễn Văn Đài, Vũ Quang Thuận, Nguyễn Văn Điền....

 Tại sao Trinity Hồng Thuận lại được tổ chức phản động Việt Tân giao nhiểu hoạt động chống đối như vậy ???

Cùng với Hà Đông Xuyến là hai thành viên nữ nổi bật nhất của tổ chức khủng bố Việt Tân, Trinity Hồng Thuận ngày càng được những nhân vật cốt cán của tổ chức này ưu ái và tín nhiệm. Có lẽ do ngoại hình khá bắt mắt, Trinity Hồng Thuận luôn được có mặt trong những buổi họp báo, tiệc tùng với các thành viên Trung ương của Việt Tân và một số nhân vật trong chính giới Mỹ./.




Yêu nước ST.

KỶ LUẬT 32 CÁN BỘ CAO CẤP LIÊN QUAN ĐẾN THAM NHŨNG!

      Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư xử lý kỷ luật nhiều cán bộ cấp cao liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, trong đó có 32 trường hợp thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý.

Con số trên được Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cập khi chủ trì phiên họp thứ 21 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng (PCTN), tiêu cực, diễn ra sáng 20/1.

Tổng bí thư đánh giá công tác PCTN, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả rõ rệt, có mặt cao hơn năm trước. Điều này khẳng định quyết tâm mạnh mẽ của Đảng, Nhà nước trong PCTN với tinh thần “không ngừng”, “không nghỉ”, không vì chống dịch mà chùng xuống, không xử lý.


KỶ LUẬT 618 ĐẢNG VIÊN

Cơ chế phát hiện, xử lý sai phạm trong quá trình kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được thực hiện nghiêm đi kèm với việc xử lý nghiêm minh nhiều cán bộ, đảng viên sai phạm, theo Tổng bí thư, đã tạo bước đột phá mới trong công tác phát hiện và xử lý tham nhũng, tiêu cực.

Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã tăng cường kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đối với 618 đảng viên tham nhũng, cố ý làm trái (tăng 132 đảng viên so với năm 2020). 

Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã xử lý kỷ luật nhiều cán bộ cấp cao vi phạm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, trong đó có 32 trường hợp thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý (tăng 15 trường hợp so với năm 2020).

Qua thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị xử lý tài chính, thu hồi hơn 81.000 tỷ đồng và 811 ha đất; kiến nghị xử lý hành chính 2.286 tập thể và 6.132 cá nhân; nhất là đã hoàn thành thanh tra chuyên đề diện rộng việc sử dụng quỹ bảo hiểm y tế, mua sắm trang thiết bị y tế và vật tư, đấu thầu thuốc chữa bệnh; việc chấp hành pháp luật trong quản lý và sử dụng đất đai tại 3 tập đoàn, tổng công ty.

Qua kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, các cơ quan đã chuyển cơ quan điều tra xem xét, xử lý hơn 330 vụ việc có dấu hiệu tội phạm (tăng hơn 3 lần so với năm 2020). Cơ quan tiến hành tố tụng đã kịp thời cung cấp thông tin, chuyển tài liệu sai phạm của nhiều cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý đến Ủy ban Kiểm tra Trung ương để xem xét, kiểm tra, xử lý theo quy định của Đảng.

Tổng bí thư cho biết công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án chuyển biến tích cực, các cơ quan chức năng đã thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, ngăn chặn giao dịch tài sản có giá trị trên 15.000 tỷ đồng và nhiều tài sản có giá trị lớn.

Riêng các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo từ năm 2013 đến nay đã thu hồi được hơn 31.000 tỷ đồng (đạt tỷ lệ 33,33%); trong đó, năm 2021 đã thu hồi được trên 9.000 tỷ đồng (tăng hơn 7.100 tỷ đồng so với năm 2020), nhất là đã thu hồi được số tiền gần 2,7 triệu USD và 127.000 đôla Singapore của Phan Sào Nam ở nước ngoài.


10 VỤ TRỌNG ÁN ĐƯỢC XÉT XỬ

Trong năm 2021, cả nước đã khởi tố, điều tra 390 vụ án với 1.011 bị can về các tội liên quan hành vi tham nhũng, lợi dụng chức vụ.

“Điểm nổi bật là đã khởi tố mới nhiều vụ án lớn, nghiêm trọng, phức tạp; tiếp tục mở rộng điều tra, kiên quyết, kiên trì đi sâu làm rõ bản chất tham nhũng, tiêu cực trong nhiều vụ án, khởi tố thêm nhiều bị can là cán bộ cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu, sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang, trong đó có 10 trường hợp cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”, Tổng bí thư nêu.

Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, tiêu cực cho biết các cơ quan đã xét xử kịp thời 10 vụ án trọng điểm theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo:

1) Vụ án Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí; Vi phạm các quy định về quản lý đất đai xảy ra tại Bộ Công Thương và Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) liên quan đến dự án 2-4-6 Hai Bà Trưng, quận 1, TP.HCM.

2) Vụ án Buôn lậu; Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng; Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Công ty Nhật Cường và một số đơn vị liên quan.

3) Vụ án Đưa hối lộ; Môi giới hối lộ; Nhận hối lộ liên quan đến Phan Văn Anh Vũ (Vũ "Nhôm").

4) Vụ án Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ xảy ra tại Công ty CP Hóa dầu và Nhiên liệu sinh học dầu khí Ethanol Phú Thọ và Tổng công ty Xây lắp dầu khí Việt Nam.

5) Vụ án Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng; Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí xảy ra tại dự án cải tạo và mở rộng sản xuất giai đoạn 2 - Công ty Gang thép Thái Nguyên.

6) Vụ án Vi phạm các quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng, Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ xảy ra tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội.

7) Vụ án Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại dự án đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi.

 Vụ án Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại dự án đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, liên quan đến các quân nhân thuộc Bộ Quốc phòng.

9) Vụ án Tham ô tài sản; Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí xảy ra tại Công ty TNHH MTV Phát triển công nghiệp Tân Thuận (IPC), Công ty Phát triển Nam Sài Gòn (Sadeco) và các đơn vị liên quan.

10) Vụ án Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí; Tham ô tài sản; Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn./.

Ảnh: Phiên họp thứ 21 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực.

Môi Trường ST.

ĐOÀN CÔNG TÁC CỦA BỘ QUỐC PHÒNG KIỂM TRA, CHÚC TẾT TẠI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ NHÀ GIÀN DK1!

         Ngày 21-1, Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu đoàn công tác của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng kiểm tra, chúc Tết quân và dân trên huyện đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1.

Đi cùng đoàn còn có Trung tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Trung tướng Nguyễn Văn Nghĩa, Phó tổng Tham mưu trưởng; Trung tướng Thái Đại Ngọc, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 5.

Đến kiểm tra và chúc Tết tại xã đảo Song Tử Tây, đoàn công tác đã ghi nhận những kết quả thực hiện nhiệm vụ mà quân và dân trên đảo đã đạt được. Qua kiểm tra cho thấy, đơn vị đã quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên; cán bộ, chiến sĩ nắm chắc nhiệm vụ, có ý chí quyết tâm cao, khắc phục khó khăn, đoàn kết thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Đặc biệt, quân và dân trên đảo đã nỗ lực khắc phục hậu quả của cơn bão số 9; làm tốt công tác cứu hộ, cứu nạn, giúp đỡ ngư dân vươn khơi bám biển; phòng, chống dịch Covid-19…

Tại thị trấn Trường Sa, đoàn công tác của Bộ Quốc phòng đã tổ chức lễ dâng hương tại Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và dâng hương tại chùa Trường Sa.

Tại đây, Thượng tướng Nguyễn Tân Cương bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với công lao, sự hy sinh to lớn của các anh hùng liệt sĩ trong sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng an ninh và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc; tổ chức kiểm tra nội dung chào cờ, công tác trực sẵn sàng chiến đấu và thăm hỏi nhân dân trên đảo.

Phát biểu trước cán bộ, chiến sĩ và bà con nhân dân tại thị trấn Trường Sa, Thượng tướng Nguyễn Tân Cương biểu dương cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đã nỗ lực khắc phục mọi khó khăn, xác định tốt nhiệm vụ, luôn đoàn kết, thống nhất, quyết tâm giữ vững chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc.

Thượng tướng Nguyễn Tân Cương yêu cầu trong thời gian tới, đơn vị cần tiếp tục quán triệt đầy đủ và nhận thức sâu sắc hơn nữa về vị trí chiến lược của quần đảo Trường Sa đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết Trung ương 8 khóa XII về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”… Đồng thời, tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên đảo đón Xuân Nhâm Dần 2022 vui tươi, đoàn kết, lành mạnh, tiết kiệm, an toàn, đảm bảo đầy đủ các chế độ, tiêu chuẩn cho bộ đội và sẵn sàng chiến đấu cao.

Nhân dịp xuân mới Nhâm Dần 2022, thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, đồng chí Tổng Tham mưu trưởng và đoàn công tác đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà Tết cán bộ, chiến sĩ, nhân dân sinh sống trên xã đảo Song Tử Tây, thị trấn Trường Sa; cán bộ, chiến sĩ Nhà giàn DK1/11, DK1/12 và các lực lượng thực hiện nhiệm vụ trên các đảo.../.

Môi Trường ST.

Thực chất những khoá học của các tổ chức ngoại vi RISE, VOICE

 

Trong quá trình tìm hiểu về các tổ chức ngoại vi của Việt Tân là RISE và VOICE, chúng tôi đã tiếp xúc với một số trường hợp vì thiếu hiểu biết đã bị các thành viên của các tổ chức ngoại vi này lôi kéo vào tham gia. Những chia sẻ của họ về nội dung các khoá học sẽ vạch trần phương thức và thủ đoạn tinh vi của Việt Tân nói chung, các nhóm ngoại vi nói riêng.

Các đối tượng dạy gì trong các lớp học của RISE?

Nhằm chấm chọn, lôi kéo phát triển lực lượng trong nước, RISE – tổ chức ngoại vi của tổ chức phản động lưu vong Việt Tân tiếp tục tổ chức các khoá đào tạo, huấn luyện trực tuyến. Thủ đoạn của đối tượng là thông qua ứng dụng zoom để tuyển chọn số đối tượng trong nước tham gia. Những người này được cấp tài khoản gồm tên sử dụng, mật khẩu để truy cập vào lớp học. Nhằm thúc đẩy số người tham gia, từ tháng 02/2021, RISE tổ chức chương trình huấn luyện trực tuyến (online) với chủ đề “Trường nghề xã hội dân sự” thông qua ứng dụng zoom với các thành phần tham gia các khoá học. Chương trình huấn luyện được triển khai với 3 chuyên đề các nền tảng để “xây dựng phong trào xã hội dân sự”; “cách thức xây dựng các chiến dịch hiệu quả” và “chiến lược và kỹ năng lãnh đạo phong trào”.

Trong đó, chuyên đề 1 được dành cho các thành viên chủ chốt sẽ triển khai các “chiến dịch” của các đối tượng của RISE. Trong chuyên đề này, có 3 bài học gồm tạo dựng thông điệp để chiến dịch có sức lan toả, ảnh hưởng lớn; các chiến thuật hoạt động trong phong trào, lập kế hoạch triển khai và điều hành chiến dịch.

Nội dung các khoá học của RISE.

Chuyên đề 2 dành cho những thành viên nòng cốt của RISE và những người đang lãnh đạo, một phong trào hoặc nhóm hành động gồm 3 bài học về chiến lược xây dựng phong trào, lãnh đạo phong trào, tạo dựng sự hỗ trợ về tâm lý xã hội và khả năng phục hồi tổ chức… Những người tham gia đều học theo hình thức trực tuyến, thông qua các phần mềm bảo mật zoom. Thời gian và tài khoản và mật khẩu để đăng nhập được RISE cung cấp cho các học viên trước khi lớp học diễn ra. Đối tượng cũng yêu cầu các thành viên của khoá học chỉ dùng bí danh; phải đăng nhập trước từ 5-7 phút để RISE kiểm tra và nhận diện.

Sự trắng trợn của các đối tượng ở chỗ, nội dung trong quá trình giảng dạy được các đối tượng lấy từ phong trào “Dù vàng”, “Liên minh trà sữa” biểu tình chống chính quyền tại Hồng Kông, Đài Loan, Myamar để làm ví dụ; khuyến khích xây dựng các phong trào tương tự tại Việt Nam. Không dừng lại ở đó, chúng còn lợi dụng vào các vấn đề nhạy cảm như môi trường; công tác phòng, chống dịch COVID-19 của Chính phủ Việt Nam… để lôi kéo người dân tham gia xây dựng các “phong trào xã hội” trong nước với phương châm “Hành động nhỏ của một cộng đồng là chất xúc tác cho thay đổi sâu rộng”.

Kết thúc khoá huấn luyện, RISE đã gửi phiếu yêu cầu các hội viên tham gia đánh giá của bản thân về kết quả khoá huấn luyện để làm cơ sở cho hoạt động đào tạo của RISE cũng như sàng lọc, lựa chọn số đối tượng có khả năng để tham gia các khoá huấn luyện chuyên sâu tiếp theo.

Sau khoá huấn luyện cơ bản, RISE tổ chức thêm 3 khoá huấn luyện chuyên sâu “Thúc đấy sự tham gia vào phong trào xã hội”, “Xây dựng chiến dịch hiệu quả cho phong trào xã hội”, “Lãnh đạo và bước đi chiến lược” để các đối tượng tham gia lựa chọn, tuỳ theo năng lực và có kiểm tra, đánh giá sàng lọc.

Trong các lớp học này, 3 đối tượng cốt cán của RISE là Trang (tên thật là Huỳnh Phạm Phương Trang), bí danh là Angelia Trang Huỳnh (SN 1973, trú tại Mỹ), thành viên cốt cán tổ chức phản động lưu vong Việt Tân đồng thời là sáng lập, giám đốc điều hành của RISE là người chủ trì, tham gia thuyết trình nội dung; Hùng tên thật là Nguyễn Mạnh Hùng, cựu phó ban Việt Ngô đài BBC, hiện đang là cộng tác viên đài VOA, cố vấn cho RISE; người đồng chủ trì, tham gia thuyết trình nội dung và Vi, là người đồng chủ trì, tổ chức khoá học, thực hiện các thao tác kỹ thuật để phục vụ cho việc giảng dạy. 

Bài học của VOICE

Một trong những hình thức mà tổ chức có danh xưng là “Sáng kiến thể hiện lương tâm người Việt hải ngoại” tên thường gọi là VOICE thành lập là “Nhóm học để hành” gọi tắt là SOA, để tổ chức khoá học trên mạng internet với nội dung là “Tự do biểu đạt”, chúng sử dụng danh nghĩa là cho số trong nước quan tâm đến các vấn đề của xã hội.

Trên thực tế, nhóm SOA là tổ chức “con” của VOICE, bắt đầu thành lập từ ngày 21/7/2020 do đối tượng Đ.T.N.D phụ trách với hình thức đào tạo trực tuyến trong nhóm kín, được bảo mật trên Internet, hướng vào tuyển sinh học viên chủ yếu là giới trẻ, thanh niên hoặc “Nhóm yếu thế” ở Việt Nam. Chỉ tính từ tháng 8/2020 đến nay, số cầm đầu SOA đã tổ chức nhiều khóa học trực tuyến có sự tham gia của một số đối tượng có vai trò là diễn giả.

Nhóm SOA rất quan tâm đến việc bảo mật thông tin liên quan đến điều phối viên cũng như các thành viên của nhóm. Người dự tuyển mà muốn đăng ký khoá học sẽ được chúng hướng dẫn lập email mới, cung cấp đầy đủ thông tin, được truy cập vào các nhóm do chúng sắp xếp… Ngoài ra, chúng còn yêu cầu những người đăng ký phải chia sẻ, like facebook của mình để nhóm SOA kiểm tra thông tin. Khoá học được chia làm 4 tuần. Trước mỗi tuần, một trong các đối tượng sẽ gửi các tài liệu bằng tiếng Anh, tiếng Việt có nội dung hướng dẫn luật, các điều ước quốc tế về quyền con người, quyền tiếp cận thông tin, tự do biểu đạt; các đoạn clip ngắn về con người, những vì dụ tiểu biểu trong hoạt động đấu tranh dân chủ, nhân quyền hoạt động và đề nghị học viên nêu ý kiến. Các nguồn tài liệu chủ yếu từ các tổ chức phi chính phủ…

Theo đó, tuần 1, các học viên sẽ hiểu về tự do biểu đạt và mối quan hệ tương quan giữa tự to biểu đạt và các quyền tự do khác; giới thiệu về các khái niệm như nhân quyền, tự do nhân quyền, tự do biểu đạt. Tuần 2 là những bài học về giới hạn của tự do biểu đạt của diễn giả Trần Lương. Trong buổi nói chuyện, Trần Lương đã có thái độ phê phán chế độ xã hội chủ nghĩa; xuyên tạc nhiều nội dung khác… Đối tượng quy chụp rằng hình thức của bộ máy đang dần lộ rõ, thông qua việc phê duyệt các dự án. Tuần 3 là những phát ngôn thù ghét và các tin giả của diễn giả. Trong quá trình này, đối tượng tiếp tục lồng ghép các vụ việc Đồng Tâm. Đưa ra các thông tin xoáy sâu vào đời tư và giới tính của các ứng cử viên đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân. Tuần 4 có nội dung là bảo vệ tự do biểu đạt và giới thiệu giao tiếp phi bạo lực…

Tài liệu các đối tượng gửi đến những học viên gồm sơ lược về hình thức giao tiếp phi bạo lực, danh sách các tổ chức “Bảo vệ tự do biểu đạt” ở Việt Nam và quốc tế… Đáng chú ý, tại buổi thảo luận, điều phối viên và  các diễn giả dẫn dắt và khơi gợi các học viên tham gia ý kiến riêng và phản đối sự “giám sát” từ phía nhà trường đối với giáo viên.

Với những nội dung trên có thể khẳng định rằng, với bản chất phản động, VOICE đã lợi dụng lòng tin của những thanh niên, học viên có nhu cầu nâng cao kiến thức về xã hội để chúng chấm chọn, tuyển lựa người tham gia các hoạt động chống Nhà nước Việt Nam. Tại các buổi học đào tạo, chúng đã công khai các quan điểm chống đối. Các thông tin, tài liệu, diễn giả khoa học đều đi thẳng vào các vấn đề liên quan đến dân chủ, nhân quyền, chúng còn xuyên tạc viện dẫn sai những sự kiện nhằm hướng lái số học viên có cách nhìn tiêu cực như nhà nước ta đang theo đuổi chế độ độc tài. Việc tuyên truyền này được nguỵ trang dưới vỏ bọc tinh vi như chứng minh rằng: Các thông tin đăng tải trên kênh chính thống đều đạt được lựa chọn, người dân không thực sự có quyền tiếp cận thông tin hoặc biết sự thật về một vấn đề nào đó…

Sự lạc lõng và bất hạnh của những kẻ phủ nhận độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 

Từ trước đến nay, nhất là từ sau Đại hội lần thứ XIII của Đảng, vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trở thành tâm điểm chống phá của các thế lực thù địch. Những người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta ngạo mạn cho rằng, “Việt Nam không thể có độc lâp dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”; việc “níu kéo mục tiêu độc lâp dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” chứng tỏ Đảng Cộng sản Việt Nam “bảo thủ, trì trệ”. Theo họ, việc Đảng ta “kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin” và “mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” là “sai lầm nghiêm trọng” bởi chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ, thế giới đương đại hoàn toàn khác xưa, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã chứng minh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế là một tất yếu khách quan, mang giá trị toàn cầu mà chủ nghĩa tư bản là “đại diện chân chính”…

Họ khẳng định các nước lựa chọn và đi theo con đường tư bản chủ nghĩa là “sáng suốt”, “đúng quy luật khách quan”, biết “thức thời, hợp mốt”. Từ đó, vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam làm “trái quy luật”, “cứ khư khư bám giữ món đồ cổ” là chủ nghĩa xã hội nên “tự mình làm khó mình”, “tự trói buộc mình”, bị “cô lập”, “không đủ tầm quan hệ với các nước lớn”. Hơn thế, họ cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam tự tách ra khỏi vòng quay lịch sử, đang bị “gạt ra lề cuộc sống”, “một mình một chợ”, “một mình chơi một bàn cờ”, v.v..

Rõ ràng, những lời lẽ, giọng điệu hằn học, sặc mùi vu khống, có chút đe dọa nêu trên của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị là sai trái, ngang ngược, hết sức phản động. Nó đã và đang tác động tiêu cực đến một một bộ phận người dân nhẹ dạ, cả tin, do thiếu thông tin, ít quan tâm đến đời sống chính trị và chính nó gây ra tâm lý bất bình, tâm trạng tiêu cực, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần xã hội và bị không ít người phản đối bởi tính phi lý. Chúng ta không thể chấp nhận những luận điệu sai trái, ngang ngược, xấc xược ấy và kiên quyết đấu tranh, vạch trần sự sai trái ấy, không cho phép nó tồn tại ở nước ta, nhất là vào dịp Tến đến, Xuân về vì nó làm vẩn đục bầu không khí trong lành.

Cần nhận thức rõ rằng, Đảng ta từ khi ra đời đến nay, hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam đều nhất quán khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn, đã trở thành mục tiêu và lẽ sống của nhân dân ta. Hơn ai hết, chúng ta ý thức sâu sắc: độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở chắc chắn bảo đảm cho độc lập dân tộc. Đây là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam đã ăn sâu vào tâm trí và hành động của mỗi người dân Việt Nam yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Căn cứ và cơ sở xuất phát của sự lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta là từ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là thực tiễn hơn 90 năm Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên dải đất hình chữ S, đã trở thành lẽ sống cao đẹp, nguyên tắc bất di bất dịch và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt con đường cách mạng Việt Nam.

Điều ấy đã được kiểm chứng bởi lịch sử dân tộc và truyền thống yêu nước, chí căm thù giặc của nhân dân ta. Vì vậy, ngay sau khi thực dân Pháp đặt chân lên đất nước Việt Nam, các sĩ phu yêu nước đã lãnh đạo nhân dân ta khởi nghĩa, chống lại quân xâm lược. Bằng xương máu và ý chí quyết tâm, bằng sự đoàn kết và lòng dũng cảm, nhân dân ta đã kiên cường chiến đấu, giáng cho quân xâm lược những đòn chí mạng. Thế nhưng, các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta đã bị dìm trong biển máu. Giai cấp phong kiến và đại diện cho các thế lực tư sản dân tộc đã không thể giải quyết được vấn đề độc lập dân tộc ở Việt Nam. Tình hình nước ta đầu thế kỷ XX rất “đen tối, không có đường ra”.

Trong bối cảnh ấy, chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời, cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, đã chỉ ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản để xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, bất công và giai cấp công nhân là “người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản”. V.I. Lênin đã chỉ ra rằng, muốn giành độc lập dân tộc trước hết giai cấp công nhân phải giành lấy chính quyền về tay mình, rồi sau đó dựa vào chính quyền để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chính sự vận động, phát triển của phong trào công nhân quốc tế đã đem đến cho giai cấp công nhân một “công cụ nhận thức vĩ đại” để “cải tạo thế giới” là chủ nghĩa Mác – Lênin.

 Nhờ có lý luận khoa học, cách mạng soi sáng, dẫn đường, Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại đã giành thắng lợi, làm cho chủ nghĩa tư bản “đau đầu”, không thể “kê cao gối để ngủ” bởi từ sau cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga “rung chuyển thế giới”, đã mở ra thời đại mới, thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội, làm cho chủ nghĩa tư bản bị sụp đổ “một mảng lớn” và “trật tự thế giới do chủ nghĩa tư bản sắp đặt” đã bị đảo lộn, cái “xiềng xích” giam hãm thế giới cần lao đã bị chặt đứt, điều “định mệnh của cây thánh giá bằng vàng ngự trị trên lâu đài nhận thức của chủ nghĩa tư bản” đã trở thành ảo tưởng, bị lung lay và nghi ngờ. Cách mạng Tháng Mười Nga đã tạo ra phản ứng dây chuyền, lan tỏa, làm nảy sinh hàng loạt cuộc đấu tranh giải phóng, trong đó có cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam.

Với sự “rung chuyển thế giới” của Cách mạng Tháng Mười Nga, tính chất thời đại đã thay đổi căn bản, con đường, mục tiêu, phương pháp và lực lượng cách mạng cũng thay đổi; lịch sử thế giới đã sang trang mới, nhân loại đã được thức tỉnh. Thời kỳ “làm mưa làm gió của chủ nghĩa tư bản” đã chấm dứt, sự u mê, an phận của người dân vơi dần. Nhân dân Nga dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga (b) đã lật đổ ách thống trị của giai cấp tư sản và phong kiến, bắt đầu xây dựng chế độ xã hội mới: chủ nghĩa xã hội. Rõ ràng, phải có độc lập dân tộc thì mới có thể đi lên chủ nghĩa xã hội. Hai nhiệm vụ này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không thể tách rời nhau.

Những diễn biến mang tính bước ngoặc của thời đại mới đã lan truyền đến Việt Nam, nơi mà sự tàn bạo của thực dân Pháp đã “chuẩn bị sẵn đất rồi”, chủ nghĩa xã hội chỉ còn làm cái việc gieo hạt giống giải phóng dân tộc. Chính trong bối cảnh lịch sử ấy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã gánh vác trọng trách lịch sử dân tộc giao phó: gieo hạt giống cách mạng ở quê hương Việt Nam. Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến gặp chủ nghĩa Mác – Lênin và lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại; mở lớp đào tạo cán bộ cho cách mạng, mở ra thời kỳ phát triển mới của đất nước. Với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí của mình đã ghi dấu son vào lịch sử Đảng và lịch sử dân tộc; đã kết hợp chặt chẽ nhân tố dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên quê hương – Tổ quốc Việt Nam, làm cho lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thấm đẫm bản chất Đảng Cộng sản mác xít. Trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ văn tắt, Đảng đã chỉ ra con đường của cách mạng Việt Nam: “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Đó là Lời hiệu triệu và Tuyên bố đanh thép của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã bác bỏ mọi luận điệu sai trái với luận điệu: “Việt Nam phải đi theo con đường tư bản chủ nghĩa mới giải phóng được dân tộc” của các thế lực thù địch. Lời hiệu triệu và Tuyên bố đanh thép của Đảng đã trở thành mục tiêu, định hướng hình thành con đường cách mạng cho dân tộc Việt Nam và nhờ nó, nhân dân ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Rõ ràng, lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta là hoàn toàn đúng đắn, xét về mặt lịch sử, nó hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của Cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; xét về mặt lô gic, sự vận động ấy là một tất yếu khách quan; xét về nhu cầu, nó xuất phát từ tâm tư, mơ ước, khát vọng được sống trong hòa bình, độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam; xét về giá trị xã hội và nhân văn, đó là một giá trị cơ bản, quyết định sự phát triển của quốc gia – dân tộc Việt Nam hôm qua, hôm nay và mai sau.

Sự lựa chọn này đã khắc phục được những hạn chế, khuyết điểm của ý thức hệ phong kiến và tư sản trong nhận thức và giải quyết vấn đề độc lập dân tộc. Nhờ đó, độc lập dân tộc thể hiện sâu sắc ở các nội dung: độc lập về chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại; xóa bỏ tình trạng áp bức, bóc lột và nô dịch người; khẳng định sự tự do, bình đẳng, công bằng, quyền tự quyết của dân tộc, không có sự can thiệp của nước ngoài. Đây là cơ sở vững chắc để xóa bỏ tình trạng người bóc lột người do chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất sinh ra; là điều kiện để thực hiện triệt để nhiệm vụ giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người và giải phóng nhân loại như các nhà kinh điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin đã xác định. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đạt được mục tiêu cao cả, tốt đẹp ấy. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trở thành hệ giá trị phát triển của Việt Nam dưới ngọn cờ bách chiến bách thắng của Đảng.

Với sự lựa chọn hệ giá trị mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua muôn ngàn khó khăn, gian khổ, giành những thắng lợi vĩ đại: Cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945, nước Việt Nam dân chủ, cộng hòa ra đời, đưa nước ta bước vào kỷ nguyên mới: độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Sau đó, nhân dân ta đã đánh thắng hai đế quốc đầu sỏ là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, Nam – Bắc thống nhất một nhà, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước hơn 35 năm qua, đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

 Sự thật ấy bác bỏ mọi quan điểm sai trái, phản động. Sự thật ấy chứng tỏ tính độc lập, tự chủ, tự lực tự cường để nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ, lầm than, bị áp bức, bóc lột, đã trở thành chủ nhân xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thành tựu ấy khẳng định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đối với nước ta không chỉ là mục tiêu, là nhu cầu, là cương lĩnh hành động, là ngọn cơ hiệu triệu, mà còn là niềm tin, động lực thúc đẩy nhân dân Việt Nam tiến lên giành thắng lợi mới nhờ gắn kết chặt chẽ hai sức mạnh độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thành một sức mạnh mới để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Nhìn lại lịch sử thế giới, chúng ta cảm nhận sâu sắc giá trị, ý nghĩa của độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều ấy không hề dễ dàng, không phải là ngẫu nhiên, muốn là có ngay được. Thành quả cách mạng mà nhân dân ta có được ngày hôm nay là nhờ có quá trình xây dựng và phát triển, chúng ta đã vượt qua nhiều lực cản, những hạn chế, khuyết điểm trong thực hiện nhiệm vụ kiến tạo và xây dựng nền độc lập dân tộc để đi tới chủ nghĩa xã hội.

Cùng với đó, bằng mắt mình, chúng ta đã chứng kiến nhiều cảnh đau thương, mất mát diễn ra trên thế giới, nhất là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô viết ở Liên Xô, Đông Âu – nơi đã giành được độc lập dân tộc nhưng mắc mưu “diễn biến hòa bình” và sai lầm về đường lối chính trị nên nền độc lập ấy đã bị đánh cắp bởi sự chia rẽ dân tộc sâu sắc và sự can thiệp từ bên ngoài, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch.

Chúng ta tiếc thay cho một số nước khác dù có được nền độc lập dân tộc nhưng do mâu thuẫn nội bộ sâu sắc và sự tranh giành quyền lực gay gắt giữa các phe phái, các lực lượng chính trị có lợi ích đối lập, làm cho đất nước kiệt quệ, mất ổn định chính trị, kinh tế không phát triển, nhân dân không có cuộc sống bình yên, thành quả cách mạng thông thể giữ vững, rơi vào các thế lực phản động. Điều đó khẳng định rằng, chỉ có độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mới thật sự là hệ giá trị đã được lựa chọn kỹ lưỡng, đúng đắn, chính xác và là mục tiêu, lý tưởng cần có, phải giữ vững để nhân dân Việt Nam phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, dưới ngọn cơ bách chiến bách thắng của cách mạng Việt Nam, tin tưởng và kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhân dân ta nhất định hiện thực hóa thành công mục tiêu dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sớm đưa đất nước ta đi đến bến bờ vinh quang, hạnh phúc, trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Kết cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng, từng bước hoàn thiện đã làm thay đổi cơ bản diện mạo vùng đồng bào DTTS và miền núi

 

 


Hiện nay có khoảng 98,6% số xã có đường ô tô đến trụ sở UBND xã; 99,8% số xã và 95,5% số  thôn có điện lưới quốc gia; 99,5% số xã có trường tiểu học, 93,2% số xã có trường trung học cơ sở, 12,9% số xã có trường trung học phổ thông và 96,6% số xã có trường mẫu giáo, mầm non; 99,39 % số xã có trạm y tế, 77,8% xã đạt chuẩn quốc  gia về y tế

Đã hình thành các vùng cây công nghiệp: Cà phê, chè, cao su, hạt tiêu, điều,…Các vùng cây ăn quả: Cam (Hòa Bình, Hà Giang), vải thiều (Bắc Giang), nhãn (Sông Mã, Sơn La),…Công nghiệp khai khoáng: Than (Quảng Ninh), Apatit (Lào Cai), Đồng (Lào Cai), Thiếc (Cao Bằng), Bô xit (Tây Nguyên),…Thủy điện: Sơn La, Hòa Bình, Lai Châu,…Công tác

 Giảm nghèo luôn được trú trọng: Thu nhập bình quân các vùng dân tộc tăng nhanh: Tây Nguyên tăng 1,5 lần; Đông Bắc bộ 1,4; Tây Bắc 1,3 lần. Tỷ lệ giảm nghèo các tỉnh Đông Bắc 3,62%, Tây Bắc 4,4%, Tây Nguyên 3,04%; trong DTTS 3,55%/năm (BQ cả nước 1,83%). Khoảng cách nghèo trong dân tộc thiểu số giảm từ 24,3 xuống còn 19,2. Mức độ trầm trọng của hộ nghèo giảm từ 11,3% xuống còn 8,2%. 98,6% ý kiến của cán bộ cơ sở và người dân đánh giá đời sống đồng bào DTTS khá hơn. Được dư luận trong nước, quốc tế đánh giá cao

Hệ thống chính sách dân tộc của Việt Nam hiện nay được hoàn thiện và đầy đủ hơn

Hệ thống chính sách dân tộc được hoàn thiện, đầy đủ hơn, bao phủ toàn diện các lĩnh vực, phân cấp khá triệt để cho các địa phương tổ chức thực hiện; đã tích hợp một số chính sách, khắc phục một bước tình trạng dàn trải, chồng chéo về chính sách. Thực hiện chính sách dân tộc là việc đưa pháp luật, chính sách vào cuộc sống, trên cơ sở cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng, Nhà nước, từ khâu hướng dẫn, thông tin, phân công trách nhiệm, chuẩn bị các điều kiện nguồn lực tài chính, nhân lực cần thiết đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu, tiến độ yêu cầu quy định trong chính sách

 Kể từ khi đổi mới đến nay, chính phủ đã ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dân tộc khá dầy đủ, toàn diện trên các lĩnh vực và phủ kín các địa bàn vùng dân tộc, miền núi. Chỉ tính từ năm 2010- 2015, ngoài những văn bản do quốc hội ban hành, trong đó có những nội dung liên quan đến dận tộc thiểu số, Chính phủ đã ban hành 154 chính sách dân tộc được thể hiện tại 177 văn bản, 37 nghị định và nghị quyết của Chính phủ, 140 quyết định của Thủ tướng chính phủ. (Ủy ban dân tộc: Báo cáo tại hội thảo “Đề xuất các chính sách dân tộc giai đoạn 2016-2020” Tháng 9/2015). Mặc dù số lượng văn bản rất lớn, bao gồm những văn bản chỉ điều chỉnh và áp dụng riêng đối với các DTTS/ vùng DTTS và cả những văn bản áp dụng chung đối với mọi đối tượng, trong đó có quy định riêng về việc áp dụng đối với DTTS nhưng trong hệ thống văn bản đó, các nguyên tắc cơ bản xác định quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội theo quan điểm của Đảng được thể hiện khá đầy đủ. Cùng với tính toàn diện, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dân tộc còn thể hiện tính kịp thời, tính liên kết, tính minh bạch. Ở mỗi lĩnh vực đều có văn bản pháp luật cụ thể khác nhau, một số văn bản (chủ yếu là văn bản dưới luật) có nội dung quy định cụ thể các chế độ, chính sách áp dụng đối với đồng bào DTTS/đồng bào DTTS được sửa đổi, bổ sung thường xuyên nhằm phù hợp với sự phát triển KT-XH của đất nước và tình hình thực hiện chính sách dân tộc đối với các vùng, miền hoặc các đối tượng cụ thể. Cơ chế chính sách đã từng bước thay đổi về quan điểm, tư duy khi thực hiện phân cấp cho địa phương trên cơ sở công khai, minh bạch từ công tác xây dựng, lạp kế hoạch dến tổ chức thực hiện.

Đối với các địa phương, theo quy trình triển khai văn bản cũng như căn cứ trách nhiệm được quy định, sau khi văn bản quy phạm pháp luật và chỉ đạo điều hành ở cấp trung ương có hiệu lực, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã ban hành hoặc chỉ đạo  cơ quan chuyên môn cấp tỉnh ban hành văn bản để thực hiện các nội dung, quy định, nhiệm vụ về công tác dân tộc trên địa bàn quản lý của mình. Đối với văn bản luật, nghị định, thông tư, ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố thường thông qua hình thức tuyên truyền, phổ biến để triển khai đến nhân dân và áp dụng những quy định luật pháp để điều chỉnh, thống nhất hệ thống quy tắc xử sự chung của các cơ quan, tổ chức và nhân dân. Đối với các văn bản chỉ đạo, điều hành, căn cứ vào nội dung, các địa phương sẽ xây dựng văn bả triển khai các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm được giao hoặc tổ chức thực hiện. Đến nay, nước ta có 181 chính sách dân tộc, thể hiện trên 264 văn bản (UBDT, 2016), chia làm 3 nhóm: Nhóm chính sách cho một số dân tộc: Chăm, Hoa, Khmer, Mông, 5 dân tộc dưới 1000 người (PuPéo, Si La, Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm) và 4 dân tộc có nhiều khó khăn (Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao). Nhóm CS phát triển theo địa bàn : Phát triển cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng.Nhóm CS phát triển KTXH theo lĩnh vực, bao gồm các chính sách hỗ trợ sản xuất, giảm nghèo, nước sạch, môi trường, giáo dục, đào tạo, văn hóa, y tế, cán bộ dân tộc thiểu số, trợ giúp pháp lý,... 

Những nội dung cơ bản về thời đại ngày nay

 


Hội nghị các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế họp năm 1957 và năm 1960 đã đưa ra nhận định về thời đại mới: “Thời đại chúng ta mà nội dung chủ yếu là quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại. Là thời đại cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc, là thời đại chủ nghĩa đế quốc bị sụp đổ và hệ thống thuộc địa bị thủ tiêu, là thời đại ngày càng có thêm nhiều dân tộc tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa, là thời đại thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới”. Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 mở đầu cho thời đại mới. Là cuộc cách mạng sâu sắc, triệt để giải phóng GCCN, nhân dân lao động ra khỏi tình trạng nô lệ, bất công, đưa nước Nga phát triển theo con đường XHCN. Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 là cuộc cách mạng vô sản do GCCN và nhân dân lao động Nga tiến hành dưới sự lãnh đạo của Lênin và Đảng Bôn sê vích Nga. Cách mạng nổ ra là kết quả tất yếu từ sự chín muồi của những mâu thuẫn nội tại về kinh tế, chính trị, xã hội ở nước Nga.          

Là bước ngoặt lịch sử của nhân loại mở ra thời đại mới, thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Đây là thắng lợi của chủ nghĩa Mác- Lê nin, chủ nghĩa XHKH trong thực tiễn. Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ:“ Với thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga, cuộc cách mạng vĩ đại mở ra thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH ”. Cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ trên phạm vi  thế giới. HTKTXH XHCN ra đời và phát triển. Cuộc đấu tranh lật đổ ách áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị phản động, giải phóng giai cấp, dân tộc diễn ra rất mạnh mẽ, đang chứng minh các giá trị hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội... Giai cấp công nhân đang đứng ở vị trí trung tâm của thời đại. Sự sụp đổ tất yếu của chủ nghĩa đế quốc và hệ thống thuộc địa.HTKTXH Tư bản chủ nghĩa đã tỏ ra lỗi thời, lạc hậu khi nó đang kìm hãm sự phát triển của sản xuất. Thế lực thực dân, áp bức, bóc lột đang ngày bị tấn công và tất yếu sẽ bị đánh bại, xã hội tự do, bình đẳng, bác ái nhất định sẽ chiến thắng. Giai cấp tư sản ngày cáng bộc lộ rõ bản chất bóc lôt, xâm lược, phản động và vai trò trung tâm của nó nhất định sẽ bị phế bỏ bởi sự phát triển của kinh tế- xã hội.

Những biểu hiện mới của giai cấp công nhân hiện nay

 


Hiện nay, dưới sự tác động của các nhân tố thời đại đến các lĩnh vực đời sống quốc tế, đến từng quốc gia dân tộc là khách quan. Trong đó, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức làm cho giai cấp công nhân biến đổi khá sâu sắc, cả số lượng, chất lượng, cơ cấu,… và nội dung sứ mệnh lịch sử của nó.

Xét từ góc độ kinh tế - kỹ thuật

Trong giai đoạn hiện nay, khi thế giới đang bước vào cuộc “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại và toàn cầu hóa đến toàn bộ đời sống xã hội loài người, nhất là ở các nước tư bản phát triển làm cho giai cấp công nhân cũng có nhiều biến động, phát triển mạnh mẽ cả về cơ cấu, số lượng và chất lượng.

 Số lượng công nhân tăng nhanh, cơ cấu có sự biến đổi mạnh mẽ. Đại công nghiệp cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay là quá trình tạo ra cơ sở cho sự phát triển về tốc độ và số lượng của đội ngũ giai cấp công nhân. Công nhân chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong dân cư do quá trình phát triển thêm nhiều ngành mới, tạo thêm nhiều việc làm mới và phát triển nhanh lực lượng sản xuất.Theo Tổ chức Lao động quốc tế - ILO, hiện nay có khoảng 1 tỷ công nhân (năm 1900 mới có 80 triệu). Ở nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển cao (nhóm G7), công nhân chiếm khoảng từ 70-90% trong tổng số lao động của quốc gia.Ví dụ: ở Mỹ năm 1960, lao động phi nông nghiệp 66,9 triệu người thì năm 1998 tăng lên gần 2 lần (115 triệu) và đến năm 2014 sô người lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp chỉ chiếm 0,37% trong tổng số 156 triệu lao động trên toàn nước Mỹ. Về cơ cấu: Hiện nay, tỷ trọng của bộ phận công nhân trong các ngành công nghiệp truyền thống, công nhân trong khu vực sản xuất vật chất ngày càng giảm. Trái lại, công nhân trong các ngành nghề mới như: điện tử, tin học, hàng không, dịch vụ công nghiệp... tăng lên nhanh chóng.

Trước đây có 70% công nhân lao động trực tiếp, lao động chân tay trong công xưởng, thì nay chỉ còn 30%; 1 - 2% công nhân dịch vụ nay tăng lên 50 - 70%; từ  3 - 4% công nhân nông nghiệp nay tăng lên 30%..

Ở các nước tư bản và tư bản phát triển, đội ngũ công nhân lao động trực tiếp ngày càng giảm, đội ngũ công nhân lao động gián tiếp ngày càng tăng (Do mở rộng các loại hình dịch vụ doanh nghiệp và dịch vụ có tính công nghiệp).

Ví dụ:

 

Nông nghiệp

Công nghiệp

Dịch vụ

 

Pháp

3,9%

26,2%

69,9%

 

Bỉ

1,3%

18,6%

80,1%

Ở các nước đang phát triển, đội ngũ công nhân công nghiệp ngày càng đông đảo, thay thế cho lao động nông nghiệp; công nhân hoạt động trong nhiều  thành phần kinh tế khác nhau, đa hình thức sở hữu (nhất là các nước XHCN như Việt Nam, Trung Quốc), sự biến đổi cơ cấu giai cấp đa tầng, ngành nghề, trình độ khác nhau; sự chuyển dịch lao động cũng biến động nhanh chóng do cơ chế thị trường.

Ví dụ: năm 2014 cơ cấu lao động của Trung Quốc: nông nghiệp: 29,5%; công nghiệp, công nghiệp: 29,9%; dịch vụ: 40,6)

 Công nhân tri thức là đại biểu tiêu biểu cho giai cấp công nhân hiện nay.

 Kinh tế tri thức là một trình độ mới của lực lượng sản xuất hiện đại, trong đó vai trò của tri thức, công nghệ ở một số lĩnh vực sản xuất đang tỏ rõ vị thế quan trọng. “Tri thức là một động lực cơ bản cho việc gia tăng năng suất lao động và cạnh tranh toàn cầu. Nó là yếu tố quyết định trong quá trình phát minh, sáng kiến, và tạo ra của cải xã hội”[1]. Xu thế hướng tới kinh tế tri thức là xu thế chung của thế giới để đổi mới cơ cấu kinh tế từ phát triển theo bề rộng sang phát triển theo chiều sâu. Năng suất lao động phụ thuộc chủ yếu vào công nghệ, tri thức, tay nghề của người lao động.

Trên thực tế đã có thêm nhiều khái niệm để chỉ công nhân: công nhân tri thức, công nhân “áo trắng”, lao động trình độ cao...

Công nhân “cổ xanh” năm 1950 chiếm 90% lực lượng lao động, đến năm 2000 còn 10%; ở các nước tư bản có 40% công nhân có trình độ từ trung học trở lên đến đại học và trên đại học, ở Nhật Bản có 90% công nhân có trình độ đại học và trên đại học, Mỹ có 30%, Hàn Quốc 20% công nhân tốt nghiệp đại học... số công nhân có trình độ tay nghề bậc cao và trung là 40 - 50%.

Trình độ trí thức của công nhân ngày càng cao không hề làm thay đổi bản chất của giai cấp công nhân trong chủ nghĩa tư bản. Sự trưởng thành của giai cấp công nhân về ý thức, trình độ, năng lực đấu tranh cách mạng, đó là quá trình nâng cao trình độ toàn diện của giai cấp công nhân về mọi mặt và do đó là một trong những điều kiện quan trọng cho việc nhận thức và thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, và toàn cầu hóa hiện nay.



[1]. Ngân hàng Thế giới: Báo cáo phát triển nhân lực năm 2002

Việt Nam có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

 


Cùng với nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc có ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết), phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, kiến trúc, ẩm thực, nghệ thuật dân gian, trang phục riêng... tạo nên một nền văn hóa đa dạng nhưng thống nhất trong nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc... Ví dụ: Món bún có nhiều loại gắn với đặc điểm từng vùng miền. Việt Nam là thiên đường của ẩm thực. Sự phát triển rực rỡ bản sắc văn hóa mỗi dân tộc, càng làm phong phú nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên nếu không có chính sách đúng, không tôn trọng văn hoá của nhau sẽ tạo nên xung đột văn hoá, hoà trộn văn hoá, phai nhạt, mất dần bản sắc văn hoá từng tộc người.

Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới đang hướng vào việc củng cố và tăng cường sự thống nhất, nhân lên sức mạnh tinh thần chung của toàn dân tộc. Đồng thời phải khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị văn hóa của các dân tộc, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng cao và nhu cầu phát triển từng dân tộc.

Tuy các dân tộc ở Việt Nam có dân số và trình độ phát triển kinh tế- xã hội không đều nhau, nhưng luôn tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau

 


Hiện nay, dân tộc kinh chiếm khoảng 85,3`% dân số cả nước. Các dân tộc thiểu số còn lại chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước. Các dân tộc thiểu số có 6 dân tộc có số dân 1 triệu người trở lên như: Tày, Thái, Mường, Nùng, Mông, Khơ me; 33 dân tộc có dân số từ 10 nghìn người đến 1 triệu người; 14 dân tộc có dưới 10 ngìn người, trong đó có một số dân tộc chỉ có mấy trăm người như dân tộc:  Ơ đo, Pu péo, Si la, Brâu, Rơ măm...

Do những nguyên nhân lịch sử, xã hội và hoàn cảnh tự nhiên nên các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế xã hội không đều nhau. Các dân tộc sống ở vùng thấp có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn các dân tộc ít người sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Hiện nay có một số dân tộc đạt trình độ phát triển tương đối cao như Tày, Thái, Mường, Nùng, Ngái, Sán Dìu... Các dân tộc này biết canh tác ruộng nước, biết sản xuất hàng hoá, cư trú ở vùng thấp, đô thị.  Một số dân tộc có trình độ phát triển thấp như La hủ, Cống, Mảng, Chứt..., do sống bằng canh tác nương rẫy, tự cung, tự túc, cư trú ở vùng cao khó khăn, vùng sâu, vùng xa, quen với cuộc sống du canh, du cư...

Bên cạnh nguyên nhân lịch sử và hoàn cảnh tự nhiên, còn có nguyên nhân chủ yếu là do hậu quả của sự áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến và đất nước phải liên tục đối phó với chiến tranh xâm lược trong nhiều năm. Đây là nguồn gốc của sự không bình đẳng giữa các dân tộc trên thực tế. Giải quyết hậu quả lịch sử này phải có quá trình phấn đấu tích cực, bền bỉ, lâu dài mới làm cho các dân tộc từng bước tiến kịp trình độ chung.

 

Thứ Sáu, 21 tháng 1, 2022

Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về bình đẳng giới


Tháng 9/2000, Hội nghị thượng đỉnh thiên niên kỷ do Liên hợp quốc tổ chức, tham giá có 189 nguyên thủ quốc gia và những người đứng đầu chính phủ, đã thong qua các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGS) , ĐỒNG THỜI KÝ TUYÊN BỐ KHẲNG ĐỊNH CAM KẾT CỦA TẤT CẢ CÁC QUỐC GIA VÀ CỘNG DỒNG QUỐC TẾ DẠT ĐƯỢC VÀO NĂM 2015. 8 mục tiêu chung, trong dó có hai mục tiêu liên quan trực tiếp đến bình đẳng giới và phụ nữ: Đó là mục tiêu 3: Đảm bảo bình đẳng giới và nâng cao vị thế, năng lực cho phụ nữ; và mục tiêu 5: Tăng cường sức khỏe bà mẹ. Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, quốc tế đánh giá cao, nhất là đối với các mục tiêu về giảm nghèo, bình đẳng giới và giáo dục (báo cáo kết quả 15 năm thực hiện, Việt Nam cơ bản hoàn thành cả 8 mục tiêu. Về mục tiêu thứ 3, Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ vè bình đẳng giới, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, việc làm và các hoạt động chính trị) 

Nhận biết đúng thời đại ngày nay làm cơ sở để hoạch định chính sách

 


Thời đại hiện nay, Thời đại chúng ta, Thời đại mới  là những khái niệm đồng nghĩa và được V.I. Lênin sử dụng. Trên bình diện lịch sử toàn thế giới, Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga đã “mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới”[1].Theo tư tưởng của V.I Lênin, nội dung của thời đại ngày nay là xóa bỏ giai cấp tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa đồng thời thiết lập những cơ sở của xã hội mới là xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Đây là một quá trình lịch sử lâu dài, bắt đầu từ Cách mạng Tháng Mười Nga, sau đó là những cuộc cách mạng ở nhiều nước khác trên thế giới. Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và công nhân họp ở Mát-xcơva năm 1957 và 1960, trên cơ sở tư tưởng của V.I. Lênin về thời đại ngày nay đã xác định: Thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga.

Đảng ta khẳng định: Thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới, mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917, là thời đại đấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, gắn liền với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại tạo ra những tiền đề vật chất - kỹ thuật ngày càng đầy đủ cho việc chuyển lên chủ nghĩa xã hội [2].



[1] V.I. Lênin: Sdd, 1978, t.4, tr.184.

[2] Hi đồng lý lun Trung ương: Mt s vn đề v ch nghĩa Mác - Lênin trong thi đại hin nay, Nxb, CTQG, Hà Ni. 1996, tr.139.

Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

 


Sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của một giai cấp là sự nghiệp của giai cấp đại biểu cho một phương thức sản xuất tiên tiến, đại diện cho tiến bộ xã hội để xác lập một hình thái kinh tế - xã hội mới phủ định cho hình thái đã lỗi thời. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra: Giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử thế giới là lãnh đạo nhân dân lao động xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp, giải phóng con nguời, gii phóng nhân loại thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa trên toàn thế giới mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội.

Giai cấp công nhân là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất, tạo ra tiền đề vật chất - kỹ thuật cho sự ra đời của xã hội mới.

Nội dung kinh tế là yếu tố sâu xa nhất khẳng định sự cần thiết sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đối với quá trình phát triển của văn minh nhân loại. Thực hiện đầy đủ và thành công nội dung kinh tế cũng là điều kiện vật chất để chủ nghĩa xã hội chiến thắng chủ nghĩa tư bản.

Giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, tiến hành cách mạng chính trị lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xác lập, bảo vệ và phát triển chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Thiết lập nhà nước pháp quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động được xác lập và trở thành công cụ có hiệu lực để lãnh đạo chính tri, quản lý kinh tế và xã hội trong quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Đây là những vấn đề cơ bản của tiến trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Thực hiện liên minh các giai cấp, tầng lớp, đoàn kết các dân tộc, xây dựng xã hội mới, con người mới... Thông qua đó, khẳng định vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản, quản lý của nhà nước và tính tự giác của nhân dân trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Xác lập hệ giá trị mới (lao động, công bằng, dân chủ, bình đẳng, tự do, tiến bộ và phát triển bền vững...) để thay thế cho hệ giá trị tư sản và những hệ tư tưởng cũ lạc hậu. Thực chất đó là một cuộc cách mạng về văn hóa, tư tưởng bao gồm cải tạo cái cũ, xây dựng cái mới trong sự kế thừa những tinh hoa của nhân loại, của thời đại và giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc.

Xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa và con người được phát triển tự do, toàn diện trong xã hội dân chủ, công bằng, văn minh là những mục tiêu hàng đầu của cuộc cách mạng này.

Nắm vững vấn đề tôn giáo là cơ sở hoạch định chính sách tôn giáo


Mặc dù vẫn còn nhiều quan điểm trái chiều nhưng các nhà khoa học và nhà quản lý thống nhất một nhận định chung:

Tín ngưỡng là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng, lực lượng, một điều gì đó và thông thường để chỉ niềm tin tôn giáo.

Tín ngưỡng là khái niệm dùng để chỉ những hiện tượng tôn giáo xuất hiện trong thời kỳ công xã thị tộc; bộ lạc; những hành vi cúng tế trong dân gian, sùng bái đa thần, không tuân theo một nghi thức nhất định (tùy theo từng vùng, từng phong tục địa phương có những nghi lễ khác nhau); không có giáo chủ/ người khai đạo, không có giáo lý, giáo luật và không có tín đồ, hoạc tín đồ không ổn định

 Tôn giáo thường được hiểu là một trong những hình thức của tín ngưỡng, tôn giáo bao gồm các yếu tố sau: Hệ thống giáo lý; giáo luật, lễ nghi; các chức sắc, tổ chức giáo hội; vật chất phục vụ cho các hoạt động tôn giáo và các tín đồ.

Tôn giáo là khái niệm dùng để chỉ các loại hình tôn giáo nhất thần/độc thần đã được thể chế hóa bằng các tổ chức gọi là giáo hội (giáo hội phật giáo, Công giáo…) được hình thành khi xã hội bắt đầu phân chia thành giai cấp; có giáo chủ/người khai đạo; có hệ thống giáo lý, giáo luật và nghi lễ chặt chẽ; có tín đồ trên sổ sách quản lý của giáo hội.

Đối lập với tín ngưỡng, tôn giáo, có một loại hình chúng ta cũng cần nhận biết: Mê tín dị đoan là hiện tượng xã hội tiêu cực đã xuất hiện từ lâu và còn tồn tại ở xã hội hiện đại. Trên thực tế mê tín dị đoan thường xen vào các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Xác định hiện tượng này chủ yếu dựa vào biểu hiện và hậu quả tiêu cực của nó.

  

Các dân tộc thiểu số cư trú trên địa bàn có giá trị chiến lược


Các dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú ở miền núi, chiếm ¾ diện tích cả nước. Đây là khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế to lớn mà trước hết là tiềm lực về tài nguyên rừng và đất rừng. Không những thế, miền núi còn có vai trò đặc biệt quan trọng về môi trường sinh thái đối với cả nước như điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn nước, bảo vệ lớp đất màu trong mùa mưa lũ.

Vị trí chiến lược quan trọng của miền núi đã được thực tế lịch sử khẳng định. Từ xưa đến nay, các thế lực bên ngoài đều sử dụng địa bàn miền núi để xâm lược, xâm nhập, phá hoại sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam.

Rừng núi đã từng là căn cứ địa cách mạng trong kháng chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ. Trong giai đoạn hiện nay, miền núi - biên giới là thành lũy vững chắc của Tổ quốc, là địa bàn chiến lược về quốc phòng - an ninh trong bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, chống âm mưu xâm nhập, gây bạo loạn, lật đổ, bảo vệ sự nghiệp hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ở vùng biên giới, một số dân tộc có quan hệ đồng tộc với dân tộc của các nước láng giềng, nên khách quan có nhu cầu thăm thân, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ở hai bên biên giới. Bởi vậy chính sách dân tộc của Đảng nhà nước Việt Nam không chỉ vì lợi ích các dân tộc thiểu số mà còn vì lợi ích của cả nước, không chỉ còn là đối nội mà còn là đối ngoại, không chỉ vì kinh tế - xã hội, mà cả về chính trị, quốc phòng, anh ninh quốc gia. 

Các dân tộc ở Việt Nam cư trú phân tán, xen kẽ nhau làm cơ sở để giao lưu, học hỏi, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau

 


Ở một số vùng nhất định có dân tộc cư trú tương đối tập trung. Song nhìn chung các dân tộc Việt Nam sống xen kẽ nhau, không có lãnh thổ riêng biệt như một số nước trên thế giới. Địa bàn cư trú của người Kinh chủ yếu ở đồng bằng, ven biển và trung du; còn các dân tộc ít người cư trú chủ yếu ở các vùng miền núi và vùng cao, một số dân tộc như Khơ me, Hoa, Chăm sống ở đồng bằng. Các dân tộc thiểu số có sự tập trung ở một số vùng, nhưng không cứ trú thành những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các dân tộc khác trong phạm vi của tỉnh, huyện, xã  và các bản, mường. Hiện nay, hầu như không có một đơn vị hành chính xã, huyện, tỉnh, nào ở vùng dân tộc thiểu số chỉ có một dân tộc cư trú. Nhiều tỉnh có tới trên 20 dân tộc cư trú như Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Lâm Đồng... Phần lớn các huyện có từ 5 dân tộc trở lên cư trú. Nhiều xã, bản, mường có tới 3 đến 4 dân tộc cùng sinh sống.

Việc cư trú đan xen giữa các dân tộc, tạo điều kiện để các dân tộc giao lưu phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, nhưng cũng rất dễ nảy sinh các vấn đề mất ngôn ngữ, văn hoá, phân hoá giàu nghèo, tranh chấp đất đai, tài nguyên, gia tăng các tệ nạn xã hội, tiềm ẩn xung đột dân tộc. Ngày nay, tình trạng cư trú xen kẽ của các dân tộc chủ yếu dẫn tới sự giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc cũng như sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, càng có thêm điều kiện đoàn kết và hòa hợp giữa các dân tộc anh em.