Thứ Tư, 26 tháng 1, 2022

Bịa đặt, bôi nhọ đời tư của cán bộ lãnh đạo - một thủ đoạn thâm độc của các thế lực chống đối, thù địch

 1. Nhận diện thủ đoạn, mục đích và sự nguy hại của việc tung tin bịa đặt, bôi nhọ đời tư lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước

Để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta, đất nước ta, các thế lực chống đối, thù địch không từ một thủ đoạn nào, một lĩnh vực nào, từ xuyên tạc, phê phán, bôi nhọ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đánh thẳng vào nền tảng tư tưởng của Đảng, tới phê phán, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, kết quả, thành tựu phát triển của đất nước; thổi phồng, xuyên tạc những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; bịa đặt, vu cáo những vấn đề về dân chủ, nhân quyền... để bôi nhọ, làm mất uy tín của Đảng, Nhà nước, chia rẽ Nhân dân với Đảng, Nhà nước, kích động hoạt động chống đối Đảng, Nhà nước trong xã hội. Trong các hoạt động chống phá đó, có việc đưa ra những thông tin bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ đời tư của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước. Đây là một hoạt động, một thủ đoạn chống phá hết sức xấu xa, thâm độc và nguy hiểm.
Việc chống phá bằng thông tin bịa đặt, bôi nhọ đời tư lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước của các phần tử chống đối, thù địch được thực hiện hết sức đa dạng, từ những lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước ở các thời kỳ trước đây đến lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước hiện nay; từ bịa đặt, bôi nhọ về nguồn gốc xuất thân, gia đình, ông bà, bố mẹ tới bản thân người cán bộ; từ quá trình trưởng thành, học hành kém cỏi, thành tích bất hảo, tư cách đạo đức yếu kém trong những năm tuổi trẻ đến việc được nâng đỡ, ưu ái khuất tất của những người có chức, có quyền đối với cán bộ trong quá trình công tác; từ năng lực kém cỏi, dốt nát, không chịu học hỏi, không biết lắng nghe đến suy thoái đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, quan hệ nam nữ bất chính, quan hệ “thân hữu” với các doanh nghiệp “sân sau” để vợ, con, anh em trong gia đình, họ hàng lợi dụng, trục lợi đến việc có khối lượng tài sản lớn, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều cổ phần, cổ phiếu, nhiều tiền, vàng gửi ở ngân hàng trong nước và nước ngoài, mà nguồn gốc của những tài sản đó không thể giải thích được, chỉ có thể có được từ tham nhũng, chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, của xã hội... tức là tất cả những gì xấu xa của con người, có trong xã hội, ở chỗ này, chỗ kia, ở người này, người kia, được góp lại, gán ghép cho một người để bôi nhọ, làm mất uy tín của họ.
Những hoạt động chống phá này đặc biệt tăng lên vào những dịp có những ngày kỷ niệm lớn, sự kiện lớn của Đảng, của đất nước, như thời gian kỷ niệm ngày thành lập Đảng, thành lập Nước, khi tổ chức Đại hội Đảng toàn quốc bầu các chức danh lãnh đạo cấp cao của Đảng, khi bầu cử Quốc hội, Quốc hội bầu các chức danh lãnh đạo cấp cao của Nhà nước... để làm mất uy tín cán bộ, gây rối nội bộ, gây khó khăn cho công tác lựa chọn cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, phá hoại thành công của Đại hội Đảng, của bầu cử và các kỳ họp của Quốc hội...Mục đích trực tiếp của thông tin bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo về đời tư của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước là bôi nhọ, làm mất uy tín những cán bộ này, nhưng sâu xa hơn, nguy hiểm hơn là bôi nhọ, làm mất uy tín của Đảng, Nhà nước; gây rối, chia rẽ nội bộ, phá hoại công tác tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước; phá hoại, làm giảm lòng tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước, chia rẽ Nhân dân với Đảng, Nhà nước, nuôi dưỡng, kích động tâm lý chống đối Đảng, Nhà nước trong xã hội để cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.
2. Thông tin bịa đặt, bôi nhọ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước là thủ đoạn xấu xa, cần phải lên án mạnh mẽ về mặt đạo đức
“Nhân vô thập toàn”, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức của Đảng, Nhà nước nói chung, kể cả cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước nói riêng, không thể nào không có khuyết điểm, sai lầm. Vấn đề là phải hạn chế tối đa việc để xảy ra những sai lầm, khuyết điểm này, nếu xảy ra phải được phát hiện, sửa chữa, khắc phục kịp thời, hạn chế tối đa ảnh hưởng, tác động tiêu cực của nó. Đảng có điều lệ, quy định của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước, có nhiều cơ chế, cách thức để làm việc này, để giám sát, thanh tra, kiểm tra hoạt động của cán bộ, đảng viên, nhắc nhở, cảnh cáo, ngăn ngừa sai phạm và xử lý sai phạm khi đã phát sinh. Đồng thời, Đảng, Nhà nước có cơ chế động viên, khuyến khích Nhân dân, các tổ chức xã hội giám sát hoạt động của các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức để tham gia, đóng góp vào công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước. Trong khi đó, việc tung tin bịa đặt, vu cáo để bôi nhọ đời tư của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước hoàn toàn khác về bản chất, về nội dung, động cơ, mục đích với việc Nhân dân giám sát, phát hiện cho Đảng, Nhà nước về những hạn chế yếu kém, sai phạm, sự suy thoái tư tưởng đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức các cấp, kể cả cán bộ cấp cao, để góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh.
Bịa đặt, hư cấu, tạo dựng những thông tin về đời tư của một người để xúc phạm, bôi nhọ danh dự của một người khác, dù người đó là ai, đều là việc làm xấu xa, trái với đạo đức truyền thống của dân tộc ta, nhân dân ta, phải bị lên án; khẳng định là việc làm xấu xa, cần phải lên án về mặt đạo đức. Do đó, rất cần tạo ra dư luận xã hội phê phán, lên án mạnh mẽ việc làm này của các thế lực chống đối, thù địch để cảnh báo, ngăn chặn, để nâng cao ý thức cảnh giác, nâng cao sức đề kháng của mỗi người dân trước những thủ đoạn chống phá này.
3. Tung tin bịa đặt, bôi nhọ đời tư lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước là hành vi vi phạm pháp luật, cần phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật
Ngày nay, việc tung tin bịa đặt để bôi nhọ một người khác, ở nhiều nước trên thế giới, không chỉ bị phê phán, lên án về mặt đạo đức, mà còn được xác định là hành vi vi phạm pháp luật, tùy theo mức độ nghiêm trọng, nhất là hậu quả do nó gây ra, mà còn bị xét xử theo pháp luật.
Để ngăn chặn, chống lại việc bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ đời tư những người đứng đầu, lãnh đạo đất nước, luật pháp của nhiều nước trên thế giới còn có những quy định chặt chẽ hơn, có những hình phạt nghiêm khắc hơn, đều có những quy định của luật pháp bảo vệ, không chỉ bảo vệ an ninh, an toàn thân thể con người, mà bảo vệ cả uy tín, danh dự, đặc biệt trước những điều bịa đặt, vu cáo để bôi nhọ nhân phẩm, để bảo vệ uy tín, bảo vệ tôn nghiêm, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan lãnh đạo đất nước, bảo vệ hình ảnh của đất nước trong cộng đồng quốc tế.
Ở nước ta, Hiến pháp và pháp luật có nhiều điều khoản bảo vệ quyền con người, bảo vệ danh dự, uy tín, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, nghiêm cấm các hành vi bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ, xâm phạm các quyền này của con người. Hiến pháp (năm 2013) quy định “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn” (Điều 21). Luật dân sự (2015) quy định “Danh dự, nhân phẩm, uy tín cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ” (Điều 34), “Người nào có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác thì phải bồi thường” (Điều 584) với mức bồi thường và phương thức bồi thường do Luật định. Luật hình sự (2015) quy định người nào thực hiện các hành vi “Bịa đặt hoặc loan tin những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác” là phạm tội vu khống, sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm (Điều 156); nếu mức độ bịa đặt, vu cáo, bôi nhọ là nghiêm trọng thì người bịa đặt, vu cáo, bôi nhọ phạm tội làm nhục người khác, có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm (Điều 155). Khi người bị vu khống, bôi nhọ là lãnh đạo Đảng, Nhà nước, hành vi tung tin bịa đặt, xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ được thực hiện với mục đích là chống lại Đảng, chống lại Nhà nước, thì người thực hiện hành vi này phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia theo quy định của Luật hình sự (2015). Điều 117 Luật hình sự quy định “Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm: Làm, tàng trữ, phát tán, hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền; làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu vật phẩm có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong Nhân dân. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có thể bị phạt tù từ 10 đến 20 năm”...
Những quy định của Hiến pháp, pháp luật như vậy là đúng đắn, phù hợp với văn hóa, đạo đức truyền thống của dân tộc ta, cũng như các dân tộc khác, phù hợp với thông lệ quốc tế, tương đồng với luật pháp của các nước trên thế giới ngày nay. Cùng với công tác tuyên truyền, giáo dục, việc thực hiện nghiêm minh các quy định của Hiến pháp và pháp luật, xử lý nghiêm các hành vi bịa đặt, bôi nhọ đời tư, xúc phạm nhân phẩm, uy tín, danh dự người khác, nhất là lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước đã góp phần bảo vệ, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giữ vững sự ổn định chính trị, xã hội để phát triển, nâng cao uy tín quốc tế của đất nước.

Một số chiêu trò xuyên tạc trong công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta

 Phòng, chống tham nhũng có vai trò vô cùng quan trọng đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay. Vấn đề trên được Đảng ta đặc biệt quan tâm, đề cập trên nhiều lĩnh vực.

1. Trong các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XI, lần thứ XII đã đề ra nhiều chủ trương, quan điểm về phòng, chống tham nhũng. Đặc biệt, báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta đã khẳng định: “Thực hiện quyết liệt, nghiêm minh, có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng”. Quan điểm luôn xuyên suốt và nhất quán trong công tác phòng, chống tham nhũng từ trước đến nay của Đảng là sai phạm đến đâu thì xử lý đến đó, không có “vùng cấm”, không có ngoại lệ. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nói: “Việc xử lý nghiêm nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng, nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh kỷ luật của Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm”. Đồng chí Tổng Bí thư cũng yêu cầu “không phải cốt xử nhiều là tốt, mà phải làm sao để không phải xử, không để xảy ra mới là tốt”; xét xử không phải để dìm con người xuống tận bùn đen mà là xử đúng người, đúng tội.

Có thể thấy quan điểm về phòng, chống tham nhũng của Đảng ta và cá nhân đồng chí Tổng Bí Thư rất nhân văn trong xử lý tội phạm tham nhũng là để giáo dục, cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, ngăn chặn là chính. Quan điểm đó đã được tuyệt đại đa số người dân đồng tình, ủng hộ.

Trên tinh thần đó, từ năm 2013 đến 2020, cả nước đã có hơn 1.900 vụ án tham nhũng bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; 131.000 đảng viên, trong đó có hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (có 27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 4 Ủy viên Bộ Chính trị, 30 sĩ quan cấp tướng thuộc lực lượng vũ trang) đã bị xử lý kỷ luật. Chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2021, cả nước có 266 vụ/646 bị can bị khởi tố, điều tra liên quan đến tham nhũng; 250 vụ với 643 bị can bị truy tố; 214 vụ với 525 bị cáo bị đưa ra xét xử sơ thẩm. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã kiểm tra, xử lý kỷ luật và kiến nghị, yêu cầu xử lý kỷ luật 12 tổ chức đảng và 20 đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý.

Không chỉ bằng lời nói, cả hệ thống chính trị nước ta đã và đang rất quyết liệt trong việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực; hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng; xây dựng các quy định để quản lý, xác minh tài sản, thu nhập của những người có chức vụ, quyền hạn; cơ chế khuyến khích và bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng; đổi mới chế độ tiền lương và các chính sách đãi ngộ cho cán bộ, công chức, viên chức nhà nước… Đối với các vụ việc, vụ án sau khi được làm rõ, các cơ quan chức năng đều đã kịp thời cung cấp thông tin cho báo chí và các cơ quan thông tin, truyền thông để phản ánh, đăng tải để thông tin đến mọi người dân.

2. Vậy nhưng, vẫn còn tồn tại nhiều suy nghĩ, quan điểm lệch lạc, sai trái, mâu thuẫn với các đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác phòng, chống tham nhũng. Vẫn là các chiêu bài cũ rích rêu rao “tự do, dân chủ, nhân quyền”, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội, bất mãn trong và ngoài nước với nhiều phương thức và thủ đoạn khác nhau ra sức xuyên tạc, chống phá hòng gây chia rẽ, phá hoại đoàn kết nội bộ, phá hoại công cuộc xây dựng Nhà nước chủ nghĩa xã và việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của nước ta. Tiêu biểu cho những quan điểm, nhận thức lệch lạc đó là:

- Cho rằng “tham nhũng là sản phẩm của chế độ, thể chế chính trị ở Việt Nam, bản thân bộ máy đẻ ra tham nhũng, do xã hội thiếu dân chủ nên không thể chống tham nhũng thành công". Cần xác định rằng, tham nhũng là một hiện tượng tồn tại tất yếu khách quan trong xã hội có phân chia giai cấp, gắn liền với quyền lực nhà nước; một số cá nhân có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nước để tham nhũng, vơ vét các lợi ích phục vụ cho nhu cầu cá nhân, gia đình dẫn đến gây thiệt hại lớn về kinh tế của các quốc gia, làm suy yếu bộ máy nhà nước, hậu quả lớn nhất chính là có thể đe dọa đến sự tồn vong của cả chế độ, của quốc gia. Vì vậy, vấn đề tham nhũng cần phải được kiềm chế và loại bỏ. Thực chất của luận điệu nêu trên chính là lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu, hòng xóa bỏ chế - Cho rằng tham nhũng là căn bệnh kinh niên của “chế độ độc đảng cầm quyền”, “do đảng cầm quyền độc đoán cai trị nên tình trạng tham nhũng tất yếu xảy ra...”. Họ còn lớn tiếng “phán” rằng “Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam không thể thành công”, kết luận một cách tùy tiện, vô căn cứ kiểu như “căn nguyên tạo ra tham nhũng là do đảng đứng trên pháp luật. Vì thế, phải thực hiện đa đảng để không còn hoặc là hạn chế tham nhũng”. Đây rõ ràng là luận điệu vô căn cứ, mang tính quy chụp để bôi nhọ và chống phá Đảng, phủ định sạch trơn những kết quả to lớn trong công cuộc xây dựng, phát triển của nước ta, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng cũng như quyết tâm chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

- Họ cho đây là “cuộc chiến nội bộ đã đẩy nhiều cán bộ vào bi kịch, oan nghiệt".  Thông qua các vụ án, vụ việc đã được phát hiện và thông tin rộng rãi đến quần chúng nhân dân, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các phương tiện truyền thông như: Các đài phát thanh, truyền hình ở nước ngoài có chương trình phát thanh bằng tiếng Việt (BBC, VOA, RFA, RFI…), lập ra các báo, tạp chí trang web để đăng tải tin, bài, video clip; xuất bản các ấn phẩm có nội dung xuyên tạc để triệt để khai thác đời tư cán bộ, thêu dệt, gán ghép tạo sự tò mò, hiếu kỳ, biến sai phạm phải xử lý của một số cá nhân thành bản chất mặc định của cả hệ thống chính trị, cố tình quy chụp, cho đó là “sự thất bại nặng nề của công tác nhân sự mà Đảng lãnh đạo”. Đáng chú ý, chiêu bài này của các thế lực thù địch diễn ra thường xuyên, nhưng đặc biệt tập trung vào thời điểm diễn ra một số sự kiện nhạy cảm về kinh tế - chính trị như Đại hội Đảng các cấp, Bầu cử Hội đồng nhân dân… mục đích chính là để chống phá công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ của Đảng.

- Họ xuyên tạc mục đích, phủ nhận thành quả cuộc đấu tranh chống tham nhũng, cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam chỉ là sự “đấu đá” vì “lợi ích nhóm” của một bộ phận cán bộ, biến việc xử lý các vụ án tham nhũng, tiêu cực và cán bộ có sai phạm thành chuyện “thanh trừng nội bộ, triệt tiêu phe cánh”. Từ các vụ việc đã được thông tin rộng rãi đến công chúng, họ cố tình cóp nhặt, cắt xén, nhào nặn rồi dựng nên câu chuyện về các phe nhóm nội bộ, các nhóm lợi ích hay phe cánh… ngược lại, khi công tác chống tham nhũng chưa đem lại kết quả như mong muốn, họ lại cho rằng công tác chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta chỉ “làm lấy lệ”“chỉ tắm từ vai”, chỉ để "đánh bóng tên tuổi”...

3. Cần khách quan nhìn nhận rằng, trong bất kỳ xã hội nào, chế độ nào cũng đều tồn tại tính chất hai mặt, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được thì vẫn phát sinh nhiều vấn đề phức tạp, còn tồn tại một số hạn chế nhất định, nhưng chung quy không thể lấy các sự việc, hiện tượng đơn thuần để quy kết thành bản chất vấn đề, không thể dùng cái đơn lẻ để quy chụp thành hệ thống. Vì vậy, từ một số kết quả trong công tác phòng chống tham nhũng hay một số vụ việc, vụ án điển hình về tham nhũng không thể gán ghép, suy diễn thành những vấn đề chính trị lớn trong xã hội, đó càng không thể đại diện cho bản chất chế độ Xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.

Thế nhưng các thế lực thù địch vẫn liên tục sử dụng chiêu trò như đã nêu trên để chống phá, gây rối với tần suất ngày càng phổ biến, chúng tận dụng triệt để mọi cơ hội để xuyên tạc, bôi xấu Đảng và Nhà nước ta. Thủ đoạn của các đối tượng đã phần nào hé lộ cho chúng ta thấy rằng đây thực chất là một âm mưu chính trị hết sức thâm độc, tiềm ẩn nhiều nguy cơ làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự cũng như việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi cả nước.

Để giải quyết vấn đề trên, Đảng, Nhà nước ta đã, đang và sẽ tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tham nhũng, thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt, kiên quyết đấu tranh, lên án không để các thế lực thù địch có cơ hội lợi dụng để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá Đảng, chính quyền và nhân dân ta. Mỗi người dân cần phải hết sức tỉnh táo, luôn đề cao tinh thần cảnh giác, tránh bị ngộ nhận, dễ dàng mắc bẫy xúi giục của các thế lực thù địch hay vô tình tiếp tay cho chúng thực hiện việc chống phá Đảng, Nhà nước, quyền và các lợi ích hợp pháp của nhân dân./. Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.


Nghiên cứu về thời đại có ý nghĩa quan trọng đối với cán bộ khoa học quân sự

 


 Góp phần củng cố lập trường, bản lĩnh chính trị, nâng cao năng lực tư duy cho cán bộ khoa học quân sự. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Đảng ta về thời đại ngày nay góp phần tạo cơ sở khoa học để cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược củng cố lập trường, rèn luyện bản lĩnh chính trị, kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, giữ vững niềm tin vào sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thế giới quan, phương pháp luận khoa học được rút ra từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm của Đảng ta về thời đại ngày nay có ý nghĩa to lớn giúp cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược vận dụng vào nhận thức đời sống xã hội trong nước và quốc tế một cách khoa học để nâng cao tri thức toàn diện; đặc biệt hơn là giúp cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược nắm vững được tư duy biện chứng của Đảng về mối quan hệ giữa đối tượng và đối tác trong bối cảnh phức tạp của tình hình quốc tế và khu vực hiện nay, để tiến hành đấu tranh và hợp tác có hiệu quả. Nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và của Đảng ta về thời đại ngày nay sẽ là vũ khí lý luận giúp cán bộ chiến dịch, chiến lược đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái phản động, góp phần bảo vệ chủ nghĩa Mác-  Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, con đường xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đã lựa chọn. 

 Góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn cho cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước,  cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược tích cực nâng cao hiệu quả trong tổ chức và hoạt động thực tiễn, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Trong đó trọng tâm là các hoạt động: nâng cao chất lượng toàn diện cho quân đội trên cơ sở chất lượng về chính trị; xây dựng khu vực phòng thủ; ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ để phát triển nhanh tiềm lực quân sự quốc gia; nghiên cứu phát triển nghệ thuật quân sự để đối phó, làm thất bại các thủ đoạn phi vũ trang, nhất là thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao nếu kẻ thù tiến hành xâm lược nước ta.

 Làm tốt chức năng tham mưu với Đảng và Nhà nước về QP,QS. Trên cơ sở nắm vững về đối tượng, đối tác và yêu cầu mới của Chiến lược BVTQ trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực hiện nay, cán bộ KHQS làm tốt chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước về chiến lược quốc phòng, quân sự nhằm không ngừng củng cố quốc phòng, không bị bất ngờ về mặt chiến lược. Đó là tham mưu về tổ chức bố trí lực lượng; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; phương thức thực hiện phương châm chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về quốc phòng, quân sự; phương thức chuyển trạng thái thời bình sang thời chiến; phương thức thực hiện tốt việc kết hợp quốc phòng - an ninh với kinh tế - xã hội và kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh...

Đổi mới công tác đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc

 


 Trong những năm tới Học viện dân tộc và một số trường đại học nên có chuyên ngnahf quản lý nhà nước về công tác dân tộc nhằm tiến tới chuẩn hóa yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác này. Các cơ sở đào tạo đại học/ các học viện cần chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để mở mã ngành đào tạo sau đại học chuyên ngành QLNN về CTDT nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên sâu về công tác này. Đặc biệt phải chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ quản ly nhà nước về CTDT là người DTTS cho từng vùng, từng dân tộc bằng các biện pháp cụ thể:

Một là: Ủy ban dân tộc và các địa phương tiến hành điều tra, phân loại cán bộ làm… là người DTTS một cách công khai, dân chủ, sát với thực tế. Từ đó có kế hoạch đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ đương nhiệm. Đối với đội ngũ cán bộ hoạch định chính sách, cùng với kiến thức chuyên ngành cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về dân tộc, mienf núi, công tác dân tộc và chính sách dân tộc. Đối với đội ngũ cán bộ các cấp ở địa phương, cần được cập nhật những chủ trương, chính sách mới, đào tạo về kỹ năng triển khai chính sách, chương trình, đề án cho hiệu quả nhất.

Đồng thời hằng năm có kế hoạch tawngchir tiêu đào tạo cán bộ… là người DTTS như: Học viện dân tộc cần phối hợp với các trường phổ thông dân tộc nội trú hướng nghiệp cho những học sinh người DTTS đang học tại trường PTDTNT theo nanghf QLNN vè CTDT; tăng chỉ tiêu xét tuyển học sinh đi học hệ cử tuyển tại các trường có chuyên ngành dân tộc học/quản lý nhà nước đúng đối tượng là người DTTS với sự trợ cấp học bổng và miễn học phí bằng ngân sách của tỉnh và của nhà nước.

Hai là củng cố, kiện toàn hệ thống các khoa, trường đào tạo cán bộ QLNN về CTDT. Tăng thêm điều kiện và các phương tiện kỹ thuật giảng dạy, học tập cho các cơ sở dào tạo này. Tại các cơ sở dào tạo cán bộ QLNN về CTDT, cần coi trọng đúng mức các học sinh về lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý, tập quán của DTTS.

Ba là, Sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách dãi ngộ cán bộ làm công tác này là người DTTS nói riêng. Với đội ngũ cán bộ QLNN về CTDT là người DTTS phải có quy hoạch trước mắt, lau dài và ổn định bang việc lữa chọn những cán bộ có năng lực và phẩm chất đạo đức tốt cử đi đào tạo/đàotạo lại/ đàotạo nâng cao và có các ché tài raphuwowngcj dể họ phải quoay về phục vụ địa phương nơi họ đã sinh sống. Việc quy hoạch và bố trí cán bộ làm công tác QLNN về CTDT phải có phương án chủ động, hợp lý trong toàn nành với từng địa phương, từng dân tộc cụ thể (nhát là đói với các vùng, các dân tộc hiện nay có tỷ lệ cán bộ DTTS còn thấp. Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc nhằm tăng cường sự tham gia vào bộ máy nhà nước ở Trung ương và chính quyền địa phương các cấp đủ mạnh.- Trú trọng làm tốt công tác quy hoạch dự nguồn cán bộ DTTS để có chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hợp lý, hình thành đội ngũ cán bộ DTTS đông về số lượng, giỏi về chuyên môn, đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH của các địa phương. Xây dựng đội ngũ tri thức người dân tộc, chính sách đói với người có uy tín, tiêu biểu của các DTTS. Cụ thể hóa thêm chính sách cán bộ đối với một số vùng nhóm dân tộc để đáp ứng yêu cầu thực tiễn của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn cách mạng mới. Xây dựng chế độ trách nhiệm thực thi nhiệm vụ của cacns bộ, công chức, nhất là cán bộ cong tác ở vùng DTTS, bảo đảm mỗi người có thể phát huy hết năng lực các nhân; đồng thời xác định cụ thể trách nhiệm của mình trong quá trình thực thi công vụ, giảm thiểu nguy cơ có thể xâm phạm các quyền của công dân, quyền con người đối với đồng bào dân tộc là các đối tượng có trình độ, năng lực pháp lý hạn chế, dễ bị tổn thương và ít có khả năng tự bảo vệ.

Những đặc điểm nổi bật của thời đại ngày nay

 


Với tư duy mới, Đảng ta đã vận dụng tổng hợp, sáng tạo các phương pháp tiếp cận thời đại trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật để phân tích, nhận diện, rút ra những đặc điểm của thời đại trong giai đoạn hiện nay, gồm những đặc điểm sau đây:

 Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ:

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã đưa loài người bước vào nền kinh tế tri thức, đồng thời tạo ra quá trình toàn cầu hóa, tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến sự phát triển của nhiều quốc gia. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011), Đảng ta nhận định: Cuộc cách mang khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa mạnh mẽ, tác động đến sự phát triển của nhiều nước[1]. Do sự tác động của các quá trình này đã tạo nên xu thế hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển là xu thế lớn; song bên cạnh đó, đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, chạy đua vũ trang, bạo loạn lật đổ, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo, tài nguyên và cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế tiếp tục diễn ra rất phức tạp. Thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay đã chứng tỏ cho sự nhận định trên của Đảng, đó là sự liên kết khu vực, liên kết toàn cầu như ASEAN, APEC, ASEM...; chiến tranh ở Apganixtan, Irac...; bất ổn chính trị ở Trung Đông và Bắc Phi...; tình hình phức tạp ở biển Đông...

Về chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng trên thế giới

Đảng ta đánh giá: Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ là một tổn thất lớn đối với phong trào cách mạng thế giới[2]. Chính tổn thất này mà phong trào cách mạng thế giới ở thập kỷ 90 của thế kỷ XX  và một số năm đầu thế kỷ XXI đã lâm vào thoái trào.

Tuy nhiên, một số nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, trong đó có nước ta vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng, tiến hành cải cách, đổi mới đã giành được những thành tựu to lớn, tiếp tục phát triển. Đặc biệt hiện nay, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã có những bước hồi phục[3], song Đảng ta cũng thấy rõ sự gian nan, thử thách đối với những nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và cánh tả sẽ còn gặp nhiều khó khăn, vì các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá, tìm mọi cách để xóa bỏ chủ nghĩa xã hội.

Về chủ nghĩa tư bản:  Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn  tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công.

Đi sâu phân tích những mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản, Đảng đã khẳng định: Nhưng mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc, khủng hoảng kinh tế tiếp tục diễn ra. Từ đó Đảng ta kết luận: Chính sự vận động của những mâu thuẫn nội tại đó và cuộc đấu tranh của nhân lao động các nướcsẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản.

 Về độc lập dân tộc và phát triển

Trong xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, ưu thế về kinh tế, khoa học và công nghệ lại nằm trong tay các nước tư bản, cho nên Các nước đang phát triển, kém phát triển phải tiến hành cuộc đấu tranh rất khó khăn, phức tạp chống nghèo nàn, lạc hậu, chống mọi sự can thiệp, áp đặt và xâm lược để bảo vệ đọc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc.

 Về những vấn đề toàn cầu

Giai đoạn hiện nay của thời đại đã và đang nổi lên những vấn đề cấp bách, liên quan đến vận mệnh sống còn của cả nhân loại như: “ gìn giữ hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, chống khủng bố bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, hạn chế sự bùng nổ về dân số, phòng ngừa và đẩy lùi những dịch bệnh hiểm nghèo.... Giải quyết được những vấn đề này đòi hỏi sự nỗ lực hợp tác với tinh thần, ý thức trách nhiệm cao của tất cả các quốc gia, dân tộc.

Từ những đặc điểm trên, Đảng ta khái quát nêu lên đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là: (Đại hội XIII của Đảng dự báo tình hình thế giới những năm sắp tới: “Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biẾn rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hòa bình hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó kăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục, diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đới với môi trường kinh tế, chính trị, anh ninh quốc tế. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế, Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng đang bị thcáh thức bởi sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn và sự trỗi dậy của CN dân tộc cực đoan. Luật pháp quốc tế và các theé chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn.

Cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm; các nước lớn vẫn hợp tác, thỏa hiệp, nhưng đấu tranh kiềm chế lẫn nhau, gay gắt hơn. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới.

Kinmh tế thế giới đang lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kép dài do tác động của dịch COVID- 19. Các quốc gia nhất là các nước lớn, điều chỉnh lại chiến lược phát triển giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, làm thay đổi các chuỗi cung ứng. Cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao, thu hút đầu tư nước ngoài giữa các nước ngày càng quyết liệt, tác động mạnh đến chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu.

Cuộc cáh mạng công nghiệp lần thứ 4, nhát là công nghệ số phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc

Những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hòa bình, anh ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường…tiếp tục diễn biến phức tạp.

Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó Đông Nam á có vị trí chiến lược ngỳa càng quan trọng, là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc, tiềm ẩn nhiều bất ổn. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn, Hòa bình, ổn định, tự do, anh ninh, an toàn hàng hải, ghàng không trên biển Đôngh đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột. Ásean có vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác khu vực nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn.”

Các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Căn cứ vào lôgic, quy luật vận động, phát triển của tiến trình lịch sử nhân loại, Đảng ta rút ra kết luận: Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội XI, Nxb CTQG, Hà nội, 2011, tr. 67.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Sdd, tr. 68.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Sdd, tr. 68.

Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống đồng bào tôn giáo.

 


Nhà nước cần quan tâm đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có đồng bào tôn giáo còn gặp nhiều khó khăn; có chính sách ưu tiên về vốn để xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng kinh tế, nâng cao kỹ thuật, áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ sinh học; hướng dẫn đồng báo tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa phát triển sản xuất hàng hóa… để đồng bào nâng cao dần mức sống, tạo cơ sở kinh tế để nâng cao sức mạnh nội sinh từ cơ sở, địa bàn. Đồng thời làm tốt công tác quy hoạch và thực hiện tốt chính sách định canh, định cư, có giải pháp phù hợp trong nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội như chương trình 135, các chương trình xóa đói giảm nghèo, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, giao thông miền núi…, hạn chế và dần chấm dứt di dân tự do, gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong chương trình, kế hoạch, dự án cụ thể ở từng cơ sở, địa bàn.

Đi đôi với đẩy mạnh phát triển kinh tế, phải tích cực xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, nhất là ở các làng bản…đồng bào dân tộc thiểu số có tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa và bảo đảm an sinh xã hội. Do vậy cần quan tâm đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng văn hóa, giáo dục, y tế như trường học, trạm xá, nhà văn hóa thôn bản…để nâng cao dân trí, phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào. Đổi mới hoàn thiện chính sách về định canh, định cư, chính sách đào tạo nguồn nhân lực, tạo việc làm, chính sách chăm lo cho những người có công, người có hoàn cảnh éo le, cơ nhỡ là tín đồ các tôn giáo. Mặt khác, để đồng bào tôn giáo phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo mình trong xây dựng phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta cần tích cực phát động các cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa phù hợp với đức tin, tâm lý, tập quán của đồng bào theo từng tôn giáo cụ thể phù hợp với đặc điểm vùng, miền khác nhau; qua đó, hạn chế đẩy lùi các tiêu cực, lạc hậu như mê tín dị đoan, cả tin đi theo các tà dạo, theo những kẻ xấu xúi giục thực hiện những hành vi phá rối an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội…

Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, người có uy tín tiêu biểu trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay

 


Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước vè công tác dan tộc (nhất là cán bộ người DTTS) có vai trò vô cùng quan trọng trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Hiện nay mới chỉ có Học viện Dân tộc mở các khóa đào tạo ngắn hạn cho cán bộ đã làm công tác quản lý nhag nước về công tác dân tộc, vì vậy số lượng cán bộ được đào tạo chuyên sâu còn ít.

Bên cạnh đó ở một số địa phương, việc bố trí sử dụng cán bộ làm công tác QLNN về CTDT còn nhiều vấn đề đề cần quan tâm. Mức độ bố trí, sử dụng đạt hiệu quả thấp, nhiều người trình độ chuyên môn đáp ứng được yêu cầu công việc nhưng chưa được bố trí công việc phù hợp, song nhiều người không có trình độ chuyên môn về dân tộc lại được bố trí làm quản lý nhà nước về CTDT. Ở nhiều địa phương, vùng DTTS và miền núi có địa bàn rất rộng, đi lại khó khăn, có nhiều tộc người sinh sống nhung chỉ tiêu biên chế cho QLNN về CTDT cũng chỉ như các địa bàn khác (lại chưa bao giờ có chỉ tiêu cụ thể cho từng tộc người), nên cán bộ nhiều nơi chưa đi sâu, đi sát cơ sở. Một số địa phương chưa coi trọng đúng mức việc quản lý, theo dõi, kiểm tra cán bộ sau khi đã bố trí công việc, dó đó, thieus thông tin về chất lượng công tác của cán bộ, thiếu căn cứ để đề bạt hoặc đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, sắp xếp lại cán bộ

 

Tính chất mới của thời đại ngày nay

 


Luôn nhất quán với quan điểm mác - xít về tính chất của thời đại mới, thời đại ngày nay, Đảng ta khẳng định: Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là thắng lợi mở đầu của chủ nghĩa xã hội và cũng là mở đầu thời đại mới mà nội dung cơ bản và tính chất của nó đã được xác định là quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Tính chất ấy của thời đại đến nay vẫn không hề thay đổi.

Trước tổn thất lớn của phong trào cách mạng thế giới: sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, dẫn đến thoái trào tạm thời của chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã phân tích cụ thể, đánh giá đúng tình hình và đưa ra nhận định: Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ khiến chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào, nhưng điều đó không làm thay đổi tính chất của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội[1].

Cùng với sự khẳng định tính chất không thay đổi của thời đại ngày nay, Đảng ta chỉ rõ: Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử[2].

 Để có thêm cơ sở đưa ra nhận định về tính chất của thời đại ngày nay, Đảng ta đã xuất phát từ thực tiễn lịch sử: Thời đại phong kiến ở châu Âu hình thành, phát triển sau gần 200 năm mới thay đổi được hoàn toàn chế độ nô lệ; thời đại quá độ từ chế độ phong kiến lên chế độ tư bản chủ nghĩa, nếu tính từ cách mạng tư sản Anh đến cách mạng tư sản Pháp và cả châu Âu cũng diễn ra khoảng 200 năm. Từ đó, Đảng ta rút ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, là thời đại mà chế độ xã hội khác hoàn toàn về chất so với các chế độ xã hội trước đó trong lịch sử, thì đương nhiên sẽ rất lâu dài và hết sức quanh co, phức tạp.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H. 1996, tr.76.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb CTQG, Hà Nội, 1991, tr.8.

Tiếp tục tổng kết, đúc rút kinh nghiệm để xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam vững mạnh

 


Ngày này, với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong nửa sau của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, bộ mặt của giai cấp công nhân hiện đại có nhiều thay đổi khác trước. Sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại nay đã vượt xa trình độ văn minh công nghiệp trước đây. Sự xã hội hóa và phân công lao động xã hội mới, cơ cấu của giai cấp công nhân hiện đại, các hình thức bóc lột giá trị thặng dư… đã làm cho diện mạo của giai cấp công nhân hiện đại không còn giống hoàn toàn với những mô tả của C.Mác trong thế kỷ XIX. Thế nhưng nếu từ những biến đổi đó mà đi đến dao động, phủ nhận khái niệm giai cấp công nhân thì hoàn toàn sai lầm. Giai cấp công nhân hiện đại vẫn tồn tại, vẫn có sứ mệnh lịch sử của mình trong xã hội tư bản hiện đại. Do đó cần phải tiếp tục tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng, những thuộc tính cơ bản của giai cấp công nhân mà C.Mác đã phát hiện ra đến nay vẫn còn nguyên giá trị phương pháp luận trong việc nhận thức giai cấp công nhân hiện đại. Lý luận về SMLS của giai cấp công nhân đến nay vẫn có giá trị khoa học và có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn to lớn.

 

Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo pháp luật và “sống tốt đời, đẹp đạo”

 


 Bảo đảm các tổ chức tôn giáo và các tín đồ nhận thức sâu sắc về chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng, nhất là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, để từ đó chấp hành nghiêm túc mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, từ đó thực hiện tốt phương châm sống “tốt dời, đẹp đạo”

 Tiếp tục hoàn thiện chính sách pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật có liên quan đến tôn giáo như: Đất đai, văn hóa, giáo dục, y tế…bảo đảm đồng bộ với pháp luật về tôn giáo và các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

 Tổ chức tuyên truyền và thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, kịp thời xây dựng mới cũng như bổ sung các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật. Triển khai thực hiện tốt Luật tín ngưỡng, tôn giáo, siết chặt kỷ cương, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật.

 Trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật tôn giáo, tín ngưỡng cần tiếp thu nghiêm túc những ý kiến phản ánh, những kết quả giám sát, phản biện xã hội của các tổ chức chính trị - xã hội và của cán bộ, nhân dân về những bất cập, hạn chế của công tác tôn giáo nói chung và của chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng.

Chú trọng tính đặc thù của từng vùng đồng bào DTTS trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc.

 


Hiện nay, cần phân bổ các định mức chính sách phù hợp với từng vùng, từng DTTS. Thực tế cho thấy đa số đồng bào DTTS cư trú tại các vùng còn kém phat triển; nhiều vùng chủ yếu nhận trợ cấp tại ngân sách trung ương nên cân đối ngân sách rất khó khăn. Tại các vùng này, tỷ lệ hộ nghèo da chiều còn nhiều nên việc đóng góp theo xu hướng xã hội hóa khi xây dựng các công trình dân sinh là rất khó khăn. Vì vậy cần có các định mức chính sách phù hợp, đủ để đáp ứng yêu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển văn hóa, giáo dục, bảo đảm môi trường…Đồng thời cần điều chỉnh chính sách bằng việc cấp đủ kinh phí từ trung ương cho phù hợp với số đối tượng chính sách hoặc quy định một tỷ lệ phù hợp, tùy thuộc vào mỗi chính sách để tăng tính khả thi. Đối với những địa phương mang nhiều nét đặc thù về điều kiện tự nhiên, kinh té- xã họi cần có quy định cụ thể theo phương châm: Quản lý các chương trình đầu tư chính là quản lý nguồn quỹ phát triển. Theo đó, nên có cơ chế đặc thù trong quản lý đầu tư tài chính theo các kế hoạch nhắn hạn, trung hạn hay dài hạn.

Đại hội XIII của Đảng xác định: Tập trung hoàn thiện và trienr khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc tren tất cả các lĩnh vực, nhất là các chính sách đặc thù giả quyết những khó khăn của đồng bào DTTS. Tạo sinh kế, việc làm, định anh, định cư vững chắc cho đồng bào DTTS, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Tập trung triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia Phát triển kinh tế- xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030. Bảo vệ vf phát triển dân số các dan tộc thiểu số có dưới 10 nghìn người, đặc biệt là những dân tộc thiểu số có nguy cơ suy giảm giống nòi

Mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa với nhau trong thời đại ngày nay

 


Quan hệ giữa các nước tư bản chủ nghĩa với nhau là quan hệ liên minh giữa các thế lực, các tập đoàn tư bản để cùng tìm kiếm và giành giật nhau về lợi ích. Thực chất quan hệ liên minh giữa các nước tư bản là liên minh trong cạnh tranh và thôn tính lẫn nhau. Song chúng luôn có sự thống nhất về mục đích chống phá chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới.

Mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa với nhau thường xuyên diễn ra, lúc gay gắt, lúc thầm kín. Biểu hiện mới của mâu thuẫn này trong giai đoạn hiện nay thể hiện:

+ Xu hướng “đa cực” chống “đơn cực” của Mỹ

Mỹ là trung tâm phát triển cao nhất của chủ nghĩa tư bản hiện đại, ra sức mưu toan khống chế các nước tư bản khác và làm bá chủ thế giới. Các trung tâm khác như Tây Âu (chủ yếu là Cộng hòa liên bang Đức, Pháp) và Nhật Bản cũng ra sức trở thành siêu cường kinh tế; vừa là đồng minh vừa là đối thủ của Mỹ.

+ Cạnh tranh kinh tế, tranh chấp thị trường, chiến tranh thương mại cả trong và ngoài khuôn khổ WTO, thể hiện tập trung ở trục: Mỹ - Tây Âu - Nhật Bản và ở các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia. Ngoài ra, giữa các tập đoàn tư bản khác nhau trong từng nước tư bản chủ nghĩa cũng có những mâu thuẫn gay gắt trong việc giành giật ưu thế về quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị.

Với tư duy mới, Đảng ta đã nhận thức sâu sắc mâu thuẫn của thời đại trong giai đoạn hiện nay và khẳng định: các mâu thuẫn của thời đại ngày nay vẫn tồn tại và tiếp tục phát triển sâu sắc hơn với những hình thức, mức độ biểu hiện mới so với trước đây. Những biểu hiện mới đó của mâu thuẫn cơ bản nói lên đặc điểm, tính chất thời đại, phản ánh tính chất phức tạp, quanh co của sự vận động lịch sử trên con đường tiến tới chủ nghĩa xã hội.

 

 

Phương hướng xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam

 


Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, vừa tạo ra điều kiện phát triển mới, vừa tạo nhiều áp lực cạnh tranh và tác động trực tiếp đến việc làm và đời sống của công nhân. Theo đó, cần phải xử lý đúng đắn các mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; chăm lo xây dựng giai cấp công nhân; đảm bảo hài hòa các lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động, của doanh nghiệp và toàn xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, quan tâm giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, cấp bách của người lao động...

Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam cả về số lượng, chất lượng, bản lĩnh chính trị vững vàng, được trí tuệ hóa và thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế. Đảng, Nhà nước cần phải có chủ trương, chính sách đồng bộ, cụ thể để đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân, không ngừng “trí thức hoá” giai cấp công nhân là nhiệm vụ chiến lược. Đặc biệt, quan tâm xây dựng thế hệ công nhân trẻ có trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cao, ngang tầm khu vực và quốc tế, có lập trường giai cấp công nhân và bản lĩnh chính trị vững vàng, thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và tham gia hội nhập quốc tế.

Sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước có vai trò quyết định, công đoàn có vai trò quan trọng trực tiếp trong chăm lo xây dựng giai cấp công nhân. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân; tăng cường khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức để làm hạt nhân cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc… chính là những biện pháp để tạo ra cơ sở chính tri - xã hội cho quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam.

Phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc, kế thừa những giá trị nhân loại làm cho hệ giá trị, lối sống và tác phong của giai cấp công nhân trở thành hệ giá trị chủ đạo của xã hội Việt Nam.... Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn liền với xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Giữ vững, tăng cường tính chất giai cấp công nhân của Đảng, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, nâng cao tính chiến đấu của Đảng; không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng, phẩm chất cộng sản... để Đảng đảm bảo quyền lãnh đạo và uy tín chính trị trong quá trình lãnh đạo thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Công tác tôn giáo là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị

 


 Đảng luôn có chủ trương, chính sách đúng đắn về tôn giáo. Nhà nước trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng ban hành pháp luật, chính sách cụ thể và tổ chức thực hiện, bảo đảm tôn trọng nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các dân tộc.Trong đó chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, các vùng đặc biệt khó khăn. Đồng thời việc giải quyết các vấn đề về hoạt động hợp pháp của các tổ chức tôn giáo, Nhà nước kiên quyết xử lý đối với mọi hành vi truyền đạo trái phép, lợi dụng tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, làm mất trật tự, an toàn xã hội, gây tổn hại đến đạo đức, lối sống, văn hoá, thuần phong mỹ tục của các dân tộc; xử lý nghiêm những hành vi ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo trong thực hiện nghĩa vụ công dân, những hành vi làm phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân, chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.. Các các tổ chức chính trị - xã hội: Mặt trận, Đoàn thanh niên, Tổng LĐLĐ, Hội CCB, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ... là những tổ chức có vị trí, vai trò quan trọng, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện chính sách của Đảng và nhà nước về dân tộc và tôn giáo. LLVT là lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện tuyên truyền, giáo dục cho mọi người dân hiểu rõ và chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo; nắm bắt tình hình dân tộc, tôn giáo để tham mưu với Đảng và Nhà nước về Chính sách dân tộc, tôn giáo và tham gia giả quyết, xử lý các hành động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch với Việt Nam.

Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển

 


 Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị dân tộc và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số.

 Đảng và Nhà nước thực hiện một chiến lược kinh tế chung trong đó ưu tiên đúng mức cho sự phát triển kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu. Thực hiện điều đó vừa đáp ứng yêu cầu khai thác tiềm năng to lớn của các vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu, vừa đáp ứng yêu cầu xoá bỏ dần sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các dân tộc, các vùng để các dân tộc thực sự bình đẳng và hoà hợp với nhau hơn. Tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhưng bằng những hình thức, bước đi phù hợp với đặc điểm dân tộc. Phát huy hiệu quả của sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, trong đó đánh giá đúng mức vai trò tác dụng sự giúp đỡ của các dân tộc đa số, có trình độ phát triển cao hơn đối với các dân tộc thiểu số còn ở trình độ lạc hậu. Thực hiện tốt việc giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình, tạo  điều kiện cho nhân dân chủ động sản xuất, gắn bó với đất, với rừng. Chương trình cấp Nhà nước về định canh, định cư cần được đầu tư thoả đáng và tổ chức thực hiện tốt (hiện nay trong cả nước còn 1 triệu người sống du canh, du cư). Trên cơ sở phát triển kinh tế, công cuộc cải tạo và phát triển về mặt xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số cần gắn chặt với việc thực hiện chương trình phân bổ lại lao động xã hội để hình thành một cơ cấu xã hội dân cư mới ở các vùng này. Điều đó có ý nghĩa xã hội cực kỳ quan trọng, nó sẽ tạo ra một động lực mạnh mẽ thúc đẩy bước tiến của các dân tộc thiểu số còn đang ở trình độ lạc hậu. Quan tâm đến sự phát triển văn hoá, giáo dục của mỗi dân tộc, tạo điều kiện để thực hiện xoá mũ chữ, phổ cập giáo dục cũng như tạo điều kiện cho từng dân tộc khai thác, phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc mình bằng khả năng sẵn có. Đồng thời bằng nhiều hình thức, thúc  đẩy một cách hợp lý quá trình giao lưu, hoà hợp tinh hoa văn hoá của các dân tộc mà tác dụng của nó vừa làm cho nền văn hoá xã hội chủ nghĩa Việt Nam đậm đà bản sắc dântộc được thúc đẩy mạnh mẽ. Thực hiện và bảo đảm về mặt pháp lý quyền bình đẳng  giữa các ngôn ngữ trên lãnh thổ Việt Nam, tạo điều kiện để có được quyền bình đẳng thực tế của các ngôn ngữ. Nội dung quyền bình đẳng giữa các ngôn ngữ được thể hiện ở chỗ các dân tộc được quyền sử dụng ngôn ngữ của mình trong tất cả các lĩnh vực của đời sống,  các phạm vi giao tiếp, từ nội bộ các dân tộc đến ngoài xã hội, trong giáo dục, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trước toà án, trên các giấy tờ hành chính  cũng như thư tín cá nhân…; đồng thời, có chính sách tích cực  để phổ biến nhanh chóng và sâu rộng ở trình độ cao ngôn ngữ phổ thông- tiếng việt- trong tất cả các dân tộc thiểu số ở nước ta. Tiếng Việt  là ngôn ngữ chung, ngôn ngữ quốc gia của tất cả các dân tộc, là phương tiện giao lưu văn hoá giữa các dân tộc ở Việt Nam với các dân tộc khác trên thế giới. Quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, văn hoá, khoa học… cho từng dân tộc; đồng thời giáo dục tinh thần đoàn kết hợp tác cho cán bộ các dân tộc, bởi vì chỉ tinh thần đó mới phù hợp với đòi hỏi khách quan của công cuộc phát triển dân tộc và xây dựng đất nước. Trong công cuộc đó, không dân tộc nào có thể chỉ sử dụng đội ngũ cán bộ xuất thân từ dân tộc mình, ngược lại, cần sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các đội ngũ cán bộ thuộc mọi dân tộc trong cả nước. Đưa vào vị trí trung tâm của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng việc giáo dục cho nhân dân các dân tộc lòng tự hào chân chính về dân tộc mình, đồng thời giáo dục về chủ nghĩa yêu nước, yêu mến Tổ quốc Việt nam, tinh thần quốc tế chân chính. Đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc, thái độ hư vô, xem nhẹ vấn đề dân tộc, tâm lý tự cao của dân tộc lớn; tâm lý hẹp hòi, khép kín của dân tộc nhỏ.

Thứ Ba, 25 tháng 1, 2022

NGHĨ CHO KỸ, ĐÁNH GIÁ CHO ĐÚNG

 

Hỏi, Việt Nam đã giàu chưa? Đã mạnh chưa? Đã giỏi chưa? Câu trả lời của tôi là chưa. Theo tôi thì còn phải lao động cật lực hơn nữa, nếu thiên thời, địa lợi nhân hòa thì có chăng cũng hơn mấy anh trong cùng khối ASEAN, chứ sao hơn được Mỹ, Nhật, Trung? 


Nước ta còn nghèo, thu nhập bình quân đầu người năm 2020 mới chỉ ở mức chưa tới 3.000 USD (ấy, nhưng mấy định chế tài chính quốc tế bảo phải tính “sức mua tương đương” cơ, tính theo cách đó thì GDP sức mua tương đương của Việt Nam là 10.000 USD. Họ bảo các ông chỉ giả nghèo!). So với Thái Lan, Indonesia, Singapore, Malaysia thì còn thua kém. Song vì đâu thì những kẻ chống phá không bao giờ nói đến điểm khởi đầu của ta thế nào, ai làm cho đất nước ta bị kiệt quệ, họ cũng không nói.


Nước Mỹ rất giàu, rất mạnh. Thu nhập hàng năm của Mỹ phải tính hàng ngàn tỷ USD (năm vừa qua nghe đâu đạt tới 22 ngàn tỷ), trong khi dân số chỉ nhiều gấp ba Việt Nam (300 triệu/100 triệu) nhưng tổng thu nhập của Việt Nam cũng chỉ đạt 400 tỷ USD. Nói thể đủ biết nước Mỹ giàu thế nào rồi.


Nước Mỹ mạnh vì có một nền khoa học kỹ thuật phát triển và có vũ khí nguyên tử - con ngáo ộp đem ra dọa ai cũng sợ.


Luật pháp của nước Mỹ có hoàn chỉnh không? Rất hoàn chỉnh, vì tính từ ngày lập quốc đến nay (1776) thì đã trải qua trện 300 năm.


Nào, bây giờ chúng ta thử so sánh nước Mỹ với nước Việt ta, coi thử định mệnh của mỗi nước ra sao nhé?


Nước Mỹ được khai sinh vào ngày 4/7/1776, ngày đó Hoa Kỳ tách ra khỏi đế quốc Anh để lập ra Hợp chủng quốc Hoa Kỷ, ban đầu gồm có 13 bang. Mãi đến năm 1861 cuộc nội chiến mới nổ ra giữa Liên bang miền Bắc với Liên minh miền Nam. Cuộc nội chiến diễn ra trong 4 năm, chỉ chấm dứt khi Liên minh miền Nam đầu hàng (1865). Như vậy, ta có thể thấy Hợp chủng quốc Hoa kỳ đã qua 147 năm có nền chính trị ổn định (1865-2022).


Còn Việt Nam ta, quá trình lịch sử, cho ta thấy các thế lực bên ngoài chưa khi nào muốn cho nước ta được ổn định ngõ hầu được xây dựng và phát triển.


Năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, ta đã có 9 năm chống Pháp (1945-1954), tiếp theo 20 năm chống Mỹ (1954-1975), tiếp theo 12 năm chống Khmer đỏ diệt chủng và thế lực bành trướng Trung quốc (1976-1988), xen kẽ vào đó là 20 năm chúng ta bị Mỹ và các nước chư hầu bao vây cấm vận toàn diện (1975-1995). 


Hai mươi năm qua, chúng ta mới thực hiện việc xóa đói giảm nghèo (tỷ lệ hộ nghèo từ 60% năm 1980 xuống còn dưới 3% năm 2020); về nông nghiệp, trước 1975 cả hai miền đều phải nhập lương thực thì nay chúng ta đã xuất khẩu nào lúa, nào thủy sản; về công nghiệp, tuy vẫn gia công là chính nhưng cũng đã xuất đi các thiết bị điện tử, và chúng ta đang thực hiện “make in Việt Nam”, điển hình là xe điện của Vinfast. Hy vọng đến năm 2045 nước ta sẽ là một nước phát triển, dân ta có thu nhập cao.


Như vậy trên thực tế, đất nước ta tính từ ngày lập quốc chỉ có 27 năm (1995-2022) tạm yên ổn để xây dựng và phát triển.Tôi dùng chứ “tạm” vì ngoài biền Đông chưa có được một ngày yên ổn. Nếu như tình hình Biển Đông mà yên thì lời sấm của Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ trở thành hiện thực: 


“Biển Đông vạn dặm giang tay giữ, 

Nước Việt muôn năm vững trị bình”.


Nhiều người cứ đem những thành tựu mà nước Mỹ đạt được rồi so sánh với nước ta thì đó là một sự thiếu hiểu biết, một sự so sánh khập khiễng. Không thể lấy một nước có 147 năm ổn định xã hội (Mỹ) để so với một nước mới chỉ được gọi là tạm ổn định trong 27 năm (Việt Nam). Ấy là chưa kể, nước Mỹ là một kẻ mạnh thường “lấy thịt đè người” đem quân đi xâm chiếm nhiều nơi để làm giàu cho mình. Còn Việt Nam ta muốn được yên ổn mà phát triển thì phải chìa bàn tay ra để làm bạn với tất cả các nước.

CẢNH GIÁC TRƯỚC ÂM MƯU CỦA CÁC THẾ LỰC PHẢN ĐỘNG CHỐNG PHÁ TRÊN MẶT TRẬN VĂN HÓA TƯ TƯỞNG

 


Đối với người Việt, Tết cổ truyền không chỉ thiêng liêng, mà còn là những ngày trọng đại nhất trong một năm. Từ khắp mọi miền Tổ quốc cứ xuân về Tết đến là mỗi người lại nhớ về quê hương nguồn cội. Tết cổ truyền đã trở thành một nét đẹp văn hóa, một lẽ sống bản ngã tự nhiên in sâu vào tâm thức người Việt.

Văn hóa của người Việt bắt nguồn từ văn minh nông nghiệp lúa nước. Do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã phân chia thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc giao thời, trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên đán sau này được biết đến là Tết Nguyên đán. Tết Nguyên đán được khởi đầu từ ngày 23 tháng Chạp (23 Tết), kéo dài đến mùng bảy Tết, trong đó 3 ngày đầu tiên của tháng đầu tiên thuộc về năm mới được coi là Nguyên đán - Tết đầu năm mới.

Chuẩn bị bước sang năm mới, tuần cuối cùng của năm cũ. Nhà cửa được trang trí đẹp đẽ không gian để đón Tết, thú vui sắm sửa tranh Tết, câu đối và các loại hoa tươi đã trở thành nếp sinh hoạt văn hóa không thể nào thiếu trong những ngày Tết. Cùng với đó là tục gói bánh chưng ngày Tết cũng đã trở thành nét văn hóa truyền thống của người Việt được lưu truyền từ xa xưa. Tất niên là bữa cơm cuối cùng khép lại một năm cũ. Sau một năm làm lụng vất vả, mưu sinh, những người con xa quê lại trở về quây quần quanh mâm cơm tất niên, kể cho nhau nghe chuyện đời, chuyện nghề, chuyện mưu sinh khó nhọc. Sau bữa cơm tất niên, giao thừa là thời khắc thiêng liêng nhất giữa năm cũ và năm mới, là sự giao hòa của đất trời vạn vật. Mặc dù mỗi miền quê có văn hóa nghi lễ cúng giao thừa khác nhau, song đều có cái chung là sắm mâm cơm thịnh soạn, đặt lên bàn thờ tổ tiên, con cháu quây quần bên nhau, hướng lên bàn thờ thành tâm nguyện cầu cho một năm mới sức khỏe, an lành, hạnh phúc.

Vậy mà, như một căn bệnh mãn tính, các thế lực thù địch luôn nhằm những ngày

trọng đại của đất nước, ngày lễ lớn của quốc gia và những gì thiêng liêng của dân tộc để không ngừng bôi xấu. Bằng những luận điệu như: Bỏ tết ta để chỉ ăn một tế tây; nghỉ tết là làm cho đất nước nghèo đi; là không lạc hậu với xu thế phát triển của thế giới và nhiều hơn nữa. Nhưng thử hỏi rằng nếu một đất nước không giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc, tất cả đều bị lai căng thì tất cả xẽ đi về đâu.

Mặc dù ngày nay, cuộc sống bận rộn, Tết với phần lớn các gia đình cũng thay đổi, mang một dư vị khác. Các gia đình bận rộn. Khoa học công nghệ phát triển, dẫn đến một số phong tục xưa bị giảm bớt như: gói bánh chưng ngày tết; đốt pháo hoa giao thừa...vv

Nhưng phải nhìn nhận một cách khách quan rằng đất nước đổi mới, những nghi lễ tập tục cũng được cắt giảm để phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, song những giá trị cốt lõi vẫn là nét đẹp trường tồn mãi mãi trong Tết cổ truyền của người Việt. Và nó là giá trị bất biến vĩnh hằng in đậm trong mỗi trái tim người dân Việt Nam, cần giữ vững và phát triển để làm phong phú hơn.

 

CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG TRONG THỜI ĐẠI MỚI

 


Vấn đề tôn giáo nhằm kích động tín đồ tham gia các hoạt động gây rối, biểu tình là chiêu trò cũ rích, chúng coi đó như “ngòi nổ” để mở đường thúc đẩy hoạt động phá hoại trên các lĩnh vực khác. Tuy nhiên vẫn luôn tiểm ẩn nhiều nguy cơ và là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

Bởi Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo. Trong những năm gần đây, trước những thành tựu đổi mới của đất nước trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và củng cố quốc phòng, đảm bảo an ninh trật tự, góp phần làm nên những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước ta.

Tuy nhiên hiện nay, các thế lực thù địch vẫn cố tình dựng lên rằng, Đảng và Nhà nước ta thực hiện chính sách “độc tài cai trị”, “đàn áp tôn giáo”, “đàn áp dân tộc”… Họ đưa ra chiêu bài đòi “tự do tôn giáo”, đòi “quyền tự trị cho từng dân tộc”; kích động thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông tự trị” ở Tây Bắc; “Nhà nước Đề Ga độc lập” ở Tây Nguyên với “Tin lành Đề ga” làm quốc đạo… hòng kích động, chia rẽ các tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của ta. Cụ thể là:

Để đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của kẻ thù; giữ vững môi trường an ninh trật tự, đẩy mạnh công cuộc phát triển đất nước trong tình hình hiện nay, của Đảng, Nhà nước và mọi người dân cần tập trung làm tốt những giải pháp cơ bản sau:

Trước hết, Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tôn giáo để thống nhất nhận thức trong toàn hệ thống chính trị, trong mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Kết hợp nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo, xem xét, giải quyết việc cấp đăng ký hoạt động tổ chức tôn giáo theo quy định của pháp luật. Hướng dẫn các tôn giáo hoạt động đúng pháp luật, phát huy những giá trị văn hóa đạo đức lành mạnh, hướng thiện của các tôn giáo phù hợp với văn hóa truyền thống dân tộc. Kịp thời giải quyết những vấn đề vướng mắc, nảy sinh trong công tác tôn giáo như: vấn đề đất đai, cơ sở thờ tự, tự do tín ngưỡng.

Thứ hai, Cần tiếp tục kiện toàn bộ máy làm công tác tôn giáo của Đảng, chính quyền, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân từ Trung ương đến cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đặc biệt, cần phát huy hiệu quả vai trò của lực lượng vũ trang (Quân đội nhân dân và Công an nhân dân) trong tuyên truyền, vận động và làm nòng cốt cho các tầng lớp Nhân dân, nhất là đồng bào tín đồ các tôn giáo nhận diện và tố giác âm mưu cùng các hành vi, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng đất nước.