Thứ Hai, 28 tháng 2, 2022

LỐI SỐNG CẦN KIỆM TRONG TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC VỚI VIỆC XÂY DỰNG VĂN HÓA TIẾT KIỆM HIỆN NAY

     Đức tính cần kiệm là nét nổi bật trong nếp nghĩ, việc làm của bao thê hệ người Việt Nam từ xưa đến nay. Thành tựu của quá khứ để lại cho đến hôm nay là kết tinh sức lao động bền bỉ và sáng tạo của dân tộc ta. Tuy nhiên, do trình độ kinh tế - xã hội còn thấp và người lao động dưới chế độ phong kiến bị áp bức, bóc lột bởi nhiều tầng nấc nên hiệu quả hoạt động của con người bị hạn chế rất nhiều. Song, chính trong hoàn cảnh đó, đức tính cần cù, chịu khó, bền bỉ, tiết kiệm của con người Việt Nam được tôi luyện và phát huy đối với sự tồn tại và phát triển của dân tộc ta.

    Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân ý thức cần kiệm, chống lãng phí để góp phần “Kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công”, xây dựng và phát triển đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đến nay, việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo tinh thần của Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 21/12/2012 của Ban Bí thư về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 và các quy định pháp luật liên quan đến thực hành tiết kiệm; Chỉ thị số 05;CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính tri về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chỉ Minh,... đã được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo và nhân dân hưởng ứng nên đà có những chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, tình trạng lãng phí vẫn còn xảy ra ở nhiều noi, trên nhiều lĩnh vực, gây bức xúc trong xã hội, nhất là trong bối cảnh kinh tế đất nước và đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đề ra yêu cầu “... kiên trì giáo dục, rèn luyện đức tính liêm khiết, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí, trước hết trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức”

    Phát huy lối sống tiết kiệm trong truyền thống của dân tộc để xây dựng văn hóa tiết kiệm hiện nay cần lưu ý đến một số vấn đề chủ yếu sau:

    Một là, nhận rõ những mặt tích cực cơ bản cần được kế thừa và phát huy, một số hạn chế cần khắc phục và những thiếu hụt cần bổ sung trong xây dựng văn hóa tiết kiệm phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước hiện nay. Văn hóa tiết kiệm phải định hướng ý thức và hành động của con người đến việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản, thời gian lao động và tài nguyên (đất đai, nguồn nước, khoáng sản, các nguồn lực và tài nguyên thiên nhiên khác) một cách họp lý, hiệu quả.

    Hai là, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội theo hướng nhanh, bền vững, phục vụ nhân dân để tạo môi trường thuận lợi cho xây dựng văn hóa tiết kiệm. Gắn tiết kiệm với phát huy tính chủ động, tích cực, đổi mới sáng tạo của các chủ thể trong sản xuất, đời sống theo quan điểmcủa Hồ Chí Minh “Cần với Kiệm, phải đi đồi với nhau, như hai chân của con người... Kiệm mà không cần, thì không tăng thêm, khồng phát triển được”.

    Ba là, nâng cao nhận thức của toàn xã hội, của mỗi người về vai trò, ý nghĩa tích cực to lớn, lâu dài của việc thực hành tiết kiệm, chống làng phí đối với sự phát triển đất nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Thông tin, tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân nâng cao ý thức tiết kiệm, phòng, chống lãng phí bằng nhiều hình thức phù hợp. Chú ý kết họp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục ý thức tiết kiệm, chống lãng phí đối với thế hệ trẻ - chủ nhân tương lai của đất nước.

Sự ra đời, phát triển của chiến lược “diễn biến hòa bình” (1)

 

Đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu hiện nay của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ cần phải “đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”. Trước đó, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng cũng đặc biệt nhấn mạnh nguy cơ "diễn biến hòa bình" của thế lực thù địch nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng ở nước ta.

 Từ những biện pháp của “chiến lược ngăn chặn”…

Chiến lược "diễn biến hòa bình” ra đời vào thời kỳ chiến tranh lạnh trong bối cảnh quốc tế đang biến động phức tạp. Từ đó đến nay, chiến lược này liên tục được chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động điều chỉnh, bổ sung trở thành một chiến lược tổng hợp, dùng biện pháp “phi vũ trang” là chủ yếu nhằm chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống xã hội chủ nghĩa hình thành và không ngừng lớn mạnh, phong trào cách mạng thế giới phát triển nhanh chóng. Trước tình hình so sánh lực lượng bất lợi, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ ráo riết tìm kiếm giải pháp chiến lược nhằm ngăn chặn "làn sóng cộng sản” từ Đông Âu và Liên Xô. Ở giai đoạn này, với “chiến lược ngăn chặn”, Mỹ chủ trương sử dụng thủ đoạn cứng rắn, đặc biệt là thủ đoạn quân sự với con chủ bài là bom nguyên tử để “ngăn chặn” sự phát triển và mở rộng của chủ nghĩa cộng sản do Liên Xô đứng đầu. Tổng thống Mỹ Truman từng nói: “Mỹ phải dùng quả đấm sắt và ngôn ngữ cứng rắn để đối phó với Liên Xô”.   

Tuy nhiên, sau một thời gian, “chiến lực ngăn chặn” này không mang lại hiệu quả đáng kể. Đầu năm 1946, khi còn là đại diện lâm thời của Mỹ ở Liên Xô, G. Kennan đã kiến nghị với Nhà Trắng, phải thực hiện giải pháp ngăn chặn bằng thủ đoạn gieo vào trong lòng chế độ Xô viết những mầm mống tự thủ tiêu, làm "mềm hóa từng bước" để cuối cùng tan rã.

Trên cơ sở lý luận của Kennan, tháng 3 năm 1947, chính quyền Truman công bố chính thức thực hiện chiến lược “ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản; phát động cuộc chiến tranh lạnh, đối đầu quyết liệt, toàn diện với Liên Xô bằng chiến tranh tâm lý, chạy đua vũ trang, cấm vận kinh tế, lập vành đai bao quanh Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, trực tiếp can thiệp vào nội bộ nhiều nước (cả can thiệp vụ trang). Ngày 12 tháng 3 năm 1947, Truman đề nghị Quốc hội Mỹ viện trợ cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ 400 triệu USD và cử nhân viên quân sự, dân sự đến giúp duy trì nên thống trị để các nước này không “ngả vào lòng cộng sản". Tháng 11 năm 1947, Mỹ đưa ra Kế hoạch Marshall, viện trợ 14 tỷ USD, giúp các nước Tây Âu phục hồi kinh tế sau chiến tranh, ép các nước này loại bỏ những bộ trưởng là cộng sản ra khỏi chính phủ liên hiệp và cài cắm gián điệp vào các đảng cộng sản, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng dân chủ" để gây chia rẽ, phá hoại tư tưởng từ bên trong các nước xã hội chủ nghĩa. Thực chất của các kế hoạch này nhằm “ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản và buộc các nước Tây Âu ngả theo và chịu sự chi phối của Mỹ.

Đối với Trung Quốc, trong một bức thư gửi Tổng thống Truman, Ngoại trưởng Mỹ Dean Acheson khuyến cáo, "những người theo chủ nghĩa cá nhân ở Trung Quốc (phần tử theo chủ nghĩa dân chủ cũ, thân Mỹ) có thể tạo ra sự biến đổi từ bên trong, lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, làm sụp đổ chính quyền nhân dân...". Đối với các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Ngoại trưởng F.Dulles (1953-1959) xác định, cần phải "giải phóng” họ khỏi chế độ cộng sản nhưng không phải bằng một cuộc chiến tranh mà bằng "biện pháp hòa bình", phi chiến tranh. Đồng thời, Mỹ cấu kết với 14 quốc gia phương Tây, bí mật thành lập “Ủy ban thống nhất quản lý thị trường xuất khẩu” (Feria, 1949) với mục đích cuối cùng là bao vây cấm vận đối với các nước xã hội chủ nghĩa.

GIẢI PHÁP NGĂN CHẶN TÁC ĐỘNG CỦA THÔNG TIN SAI TRÁI TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG ĐẾN QUÂN NHÂN Ở ĐƠN VỊ CƠ SỞ HIỆN NAY

 

Thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng không gian mạng để tiến hành “diễn biến hòa Vinh”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa' trong nội bộ ta. Chúng thường xuyên các thông tin sai trái, những luận điệu vu , xuyên tạc trên không gian mạng nhằm xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hô Chí Minh, chống phá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bịa đặt, vu cáo, nói xấu lãnh tụ, chia rẽ đoàn kêt nội bộ, tạo sự phân tâm trong xã hội, gieo rắc tâm lý hoài nghi, bi quan, dao động, mơ hồ, mất phương hướng chính trị của quân nhân. Thông tin sai trái của các thế lực thù địch trên không gian mạng đã tác động không nhỏ đến tư tưởng, tình cảm, lòng tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân và Quân đội đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đối với quân nhân trong quân đội, nó tác động nguy hiểm đến tư tưởng chính trị dẫn đến giảm sút niềm tin, ý chí quyết tâm, tu dưỡng, rèn luyện, làm ảnh hưởng đến đạo đức, lối sống, làm cno một bọ phặn quân nhân bị “lây nhiễm”, có thể tha hóa, biến chất do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu vượt qua khó khăn, nhận thức rõ tầm quan trọng của việc ngăn chặn tác động của thông tin sai trái trên không gian mạng đến quân nhân ở đơn vị cơ sở, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, các cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng các câp trong Quân đội và các đơn vị đã có nhiều chủ trương, giải pháp ngăn chặn tác động của thông tin sai trái của các thế lực thù địch trên không gian mạng. Nhờ đó đã nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nhận diện được thông tin sai trái trên các trang mạng xã hội, nêu cao tinh thần cảnh giác, nhạy bén chính trị, có ý thức phòng, chống, ngăn chặn tác động của thông tin sai trái trên không gian mạng, giữ vững ổn định chính trị, xây dựng đơn vị vững mạnh. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc ngăn chặn tác động của thông tin sai trái trên không gian mạng đến quân nhân ở đơn vị cơ sở vẫn còn bộc lộ những hạn chế, bất cập: Một số cấp ủy, cán bộ chủ trì lãnh đạo, chỉ đạo ngăn chặn tác động của thông tin sai trái trên không gian mạng đến cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị chưa thường xuyên, thiếu chặt chẽ; nội dung, hình thức, biện pháp ngăn chặn chưa khoa học, thiếu sáng tạo; cồng tác quản lý tư tưởng, con người, các hoạt động xã hội của quân nhân còn nhiều mặt chưa chặt chẽ; một số quân nhân bị tác động đã có biểu hiện nhận thức, hành động không đúng đắn, dao động tư tưởng, dẫn đến giảm sút ý chí quyết tâm, vi phạm kỷ luật nghiêm trọng, tự tử, tự sát, tự thương, lộ bí mật quân sự...Thực tế đó đặt ra những đòi hỏi cấp bách phải kịp thời ngăn chặn tác động của thông tin sai trái trên không gian mạng đến quân nhân ở đơn vị cơ sở đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.

Trong tình hình mới, quán triệt, thực hiện phương châm xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại đặt ra những yêu cầu rất cao về chính trị, tư tưởng. Đê giữ vững ôn định chính trị, củng cô vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội, đặc biệt là ở đơn vị cơ sở, càng đòi hỏi cấp thiết phải đẩy mạnh ngăn chặn tác động của thông tin sai trái trên không gian mạng đến cán bộ, chiến sĩ. Trong đó, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị, đội ngủ cán bộ chính trị và các lực lượng đối với ngăn chặn tác động của thông tin sai trái trên không gian mạng đến quân nhân ở đơn vị cơ sở hiện nay

Hai là, thường xuyên đổi mới nội dung, vận dụng linh hoạt hình thức, biện pháp ngăn chặn tác động của thông tin sai trái trên không gian mạng sát vói thực tiên tình hình đơn vị

Ba là, chủ động xây dựng các phương án tác chiến mạng và bồi dưỡng lực lượng chuyên trách đấu tranh ngăn chặn tác động của thông tin sai trái trên không gian mạng

Bốn là, tổ chức tốt các hoạt động thi đua, khen thưởng trong đấu tranh ngăn chặn tác động của thông tin sai trái trên không gian mạng hiện nay

Nhận diện mưu đồ chống phá đằng sau “bản phúc trình”

 


Mới đây, ngày 17-2-2022, Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW - Human Rights Watch) đã công bố cái gọi là bản phúc trình với tiêu đề “Nhốt chúng tôi ở trong nhà: Hạn chế tự do đi lại của các nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam”. Đây là luận điểm vô căn cứ, đổi trắng thay đen về tình hình tại Việt Nam.

Thực tế, lâu nay, các thế lực thù địch “khoác áo” nhân quyền để chống phá đất nước ta bằng nhiều hình thức khác nhau như: Kêu gọi trả tự do cho các “tù nhân lương tâm”; phản đối việc bắt các tay sai mà chúng gọi là “nhà hoạt động”; phản đối, kêu gọi tẩy chay các bản án xét xử các đối tượng mà chúng đã lôi kéo thành công...

Các hình thức chống phá này được “nhai đi nhai lại” với mưu đồ là nói mãi điều sai sẽ thành điều đúng. Tuy nhiên, những năm gần đây, quần chúng nhân dân đã nâng cao cảnh giác, không nghe theo các luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, các tay sai phản động lần lượt bị cơ quan chức năng kiên quyết đấu tranh, vô hiệu hóa nên các “chân rết" của chúng bị chặt đứt dần dần.

Vì vậy, bản phúc trình nói trên thể hiện sự bế tắc của các thế lực thù địch khi mà không còn nhiều người trong nước bị lôi kéo, mua chuộc. Cực chẳng đã, chúng đành phải “chuyển hướng” xuyên tạc, bôi nhọ về quyền tự do đi lại của những kẻ phản bội. Bản phúc trình cũng thể hiện một “hướng” chống phá mới của các thế lực thù địch.

Đó là, khi chưa có những “quân tốt thế mạng” (như Phạm Chí Thành, Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Thúy Hạnh, Phạm Văn Điệp, Nguyễn Tường Thụy) thì triệt để tìm những chuyện “bên lề” để hạ thấp hình ảnh Việt Nam.

Cách thức này như một chiếc áo được chúng “khoác” lên các tổ chức nhân quyền mà HRW là điển hình. Từ đó, chúng hướng các tổ chức nhân quyền khác làm theo và lập nên cái gọi là “hồ sơ nhân về quyền thông thường” ở Việt Nam và nhiều nước khác.

Công bố cái gọi là bản phúc trình, HRW đã “lòi đuôi cáo” khi Phil Robertson nói: “Các nhà tài trợ và đối tác thương mại của Việt Nam cần nhận thức được sự cản trở đối với quyền tự do đi lại đang diễn ra hằng ngày và gây sức ép để chính quyền Việt Nam chấm dứt cách hành xử gây tê liệt người dân như thế.”

Rõ ràng, mục đích chính của chúng là làm méo mó hình ảnh của đất nước ta trên trường quốc tế. Từ đó, kêu gọi các tổ chức, cá nhân, các đối tác thương mại tẩy chay Việt Nam. Về lâu dài, sẽ ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội; từ đó, làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Thực chất, HRW không vì nhân quyền ở Việt Nam.

Tất nhiên, với các tổ chức nhân quyền như HRW, ngoài việc tài trợ của các thế lực thù địch thì việc tuyên bố các bản phúc trình như trên cũng không ngoài mục đích kêu gọi tài trợ.

Vì thế mà trên website của tổ chức này luôn hiện từ “donate now” (ủng hộ ngay bây giờ); và, sau mỗi bài viết đều có một biểu mẫu kêu gọi: “Món quà được khấu trừ thuế của bạn có thể giúp ngăn chặn vi phạm nhân quyền và cứu sống khắp nơi trên thế giới. Ủng hộ ngay: 50$, 100$, 250$...”.

Và tất nhiên, số tiền tài trợ, ủng hộ cho tổ chức này sẽ không được sử dụng để bảo vệ nhân quyền mà chỉ nhằm chống phá những đất nước không cùng “phe” với chúng. (trích Báo QĐND)

Những luận điệu sai lệch về vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng

 

Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá, đưa ra những luận điệu xuyên tạc hòng làm lung lạc về nhận thức, niềm tin đối vai trò, vị trí cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Từ đó, chúng tích cực vận động, tập trung lực lượng, đẩy mạnh hoạt động chống phá hòng làm thay đổi chế độ chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Đây là âm mưu, luận điệu nguy hiểm, cần được nhận diện, đấu tranh, phản bác trong công tác tư tưởng hiện nay. Những luận điệu này tập trung ở những điểm sau đây:

Một là, các đối tượng xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ  nhận cơ sở lý luận về vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, trong điều kiện khủng hoảng về đường lối cứu nước, đã xuất hiện nhiều khuynh hướng đấu tranh, nhiều lực lượng cách mạng, tuy nhiên đều không thể giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Chỉ khi Nguyễn Ái Quốc tìm ra chân lý con đường cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự ra đời, lãnh đạo, đoàn kết, tập hợp lực lượng của Đảng đã dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đem lại vị thế, cơ đồ đất nước như ngày hôm nay. Thực tiễn khách quan là minh chứng khẳng định rõ, không thể nói chủ nghĩa Mác - Lênin là sai lầm ý thức hệ, sai lầm lịch sử như các luận điệu chống phá.

Hai là, các đối tượng cố gắng lập luận, quy kết thể chế chính trị ở Việt Nam tạo lập vị trí của Đảng đứng trên Hiến pháp, cho rằng Đảng đã và đang tham nhũng quyền lãnh đạo, cai trị đất nước, chuyên quyền, độc đoán.

Chúng ta đều biết, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua bao giông tố, thác ghềnh, đưa dân tộc Việt Nam tới những thắng lợi hiển hách, thống nhất non sông đất nước, mang lại độc lập cho dân tộc. Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Với cơ sở như vậy thì luận điệu rêu rao “trong thể chế chính trị ở Việt Nam, Đảng đứng trên Hiến pháp, tham nhũng quyền lãnh đạo, và bám giữ quyền cai trị đất nước; một thể chế độc đảng là chuyên quyền, độc đoán” là hoàn toàn sai trái. Rõ ràng, luận điệu này nhằm mục đích phá hoại, lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Ba là, dưới chiêu bài góp ý về đổi mới thể chế chính trị Việt Nam, các đối tượng đưa ra những luận điệu chống phá núp dưới dạng kiến nghị, đòi hỏi phải “đổi mới chính trị” bằng cách phải thực hiện thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Trước hết, cần thấy rằng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nằm trong âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” mà mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị, hướng lái cách mạng Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa. Từ đó, chúng đòi hỏi phải thực hiện xóa bỏ ngay Điều 4 của Hiến pháp. Thực chất luận điệu này là tạo điều kiện, tiền đề cho việc ra đời và công khai hóa, hợp pháp hóa các tổ chức chính trị đối lập, từ đó cạnh tranh vai trò lãnh đạo, tiến tới thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng rêu rao nước ta vẫn còn tình trạng khủng hoảng, đói nghèo là hậu quả của chính sách cai trị độc tài dựa trên nền tảng tư tưởng chính trị là chủ nghĩa Mác-Lênin mà Đảng Cộng sản áp đặt trên đất nước Việt Nam. Chúng tập trung xuyên tạc vào các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ, vu cáo rằng đó là chiếm quyền để cai trị nhân dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, "độc đoán, đảng trị"… Luận điệu này xuyên tạc bản chất chính trị, hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, đẩy quần chúng, nhân dân xa rời, đối lập với Đảng, thúc đẩy thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Bốn là, các đối tượng lợi dụng những vấn đề mang tính tiêu cực nảy sinh trong đời sống xã hội như thiếu sót, bất cập trong cơ chế, chính sách, tình trạng tham nhũng... để hướng lái, xuyên tạc bản chất của chế độ, quy tiêu cực do hệ quả sự lãnh đạo của Đảng.

Trong quá trình đổi mới, các lĩnh vực của đời sống xã hội vừa được xây dựng, tổng kết, rút kinh nghiệm và từng bước hoàn thiện về mặt lý luận và thực tiễn. Những vấn đề như kinh tế thị trường định hướng XHCN còn những hạn chế, hoàn thiện còn chậm; hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chưa hoàn chỉnh và đồng bộ; nhiều cơ chế, chính sách chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới. Cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa đạt mục tiêu. Kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước hiệu quả hoạt động chưa cao; công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí mặc dù đạt được những kết quả tích cực song còn nhiều tồn tại, hạn chế; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước còn những bất cập… Dựa vào những hạn chế, tồn tại nói trên, các thế lực thù địch lợi dụng để suy diễn, xuyên tạc, thổi phồng dưới nhiều hình thức khác nhau. Chúng lập luận, quy chụp bằng những luận điệu chính trị hóa, cho rằng đó là bản chất của chế độ XHCN và là hậu quả của Đảng. Những luận điệu này làm cho những người không có tư tưởng chính trị vững vàng dễ bị lầm tưởng, hồ nghi, thậm chí xét lại, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị.

Tổng kết 35 năm đổi mới, Đại hội XIII của Đảng đánh giá:“Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN”. Có được những thành tựu trên đây là do Đảng ta có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân tin tưởng, kiên định, đấu tranh, hy sinh, thực hiện con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn mình” mà Đảng lựa chọn.

Bộ mặt thật của đạo “Bà Cô Dợ”

 

Đạo “Bà Cô Dợ” còn gọi là Hội Thánh Đức Chúa trời yêu thương chúng ta do Vừ Thị Dợ (SN 1978, người Mông, sinh sống ở thành phố Milvvaukee, bang Wilcosin nước Mỹ) thành lập và làm Hội trưởng cuối năm 2016.

Sau đó, đạo đã được truyền sang các nước khác, trong đó có Việt Nam. Từ tháng 11/2016, đạo “Bà Cô Dợ” xuất hiện ở hai huyện Mường Tè và Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Sau đó, ảnh hưởng đến một số huyện của tỉnh Điên Biên với tốc độ phát triển nhanh và thu hút nhiều người dân tham gia, đặc biệt trong đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).

Đạo “Bà Cô Dợ” không có hiến chương, điều lệ rõ ràng. Đối tượng Vừ Thị Dợ chỉ lợi dụng xuyên tạc một số câu, điều trong Kinh thánh Cựu ước, Tân ước để giảng dạy, tuyên truyền đạo. Vừ Thị Dợ tuyên truyền con trai út Cứ Nu Si Lông chính là Chúa Giê Su tái thế, sẽ cai trị người Mông trong 1.000 năm. Vừ Thị Dợ còn tự nhận mình là người được Chúa Trời chọn để tái lâm lần thứ 2; không phải đóng 10 % thu nhập, ai tin theo đạo “Bà Cô Dợ” sẽ được chia tiền.

Tìm hiểm về Vừ Thị Dợ được biết, trước đây Dợ từng theo Công giáo và hệ phái Tin lành CMA nhưng thường xuyên tạc Kinh thánh nên đã bị trục xuất khỏi giáo hội. Sau khi tách ra, Vừ Thị Dợ tích cực đi tuyên truyền lôi kéo người tham gia. Về mặt tổ chức, Vừ Thị Dợ đóng vai trò làm Hội trưởng, Vù Thị Mỹ - Phó Hội trưởng 1, Sùng Thị Mỷ - Phó Hội trưởng 2, Thào Chứ Lầu - Phó Hội trưởng 3 và Vàng A Páo - Thư ký.

Lễ nghi sinh hoạt của “Bà Cô Dợ” cơ bản giống với các điểm nhóm theo đạo Tin lành.

Bản chất của đạo “Bà Cô Dợ” chính là hoạt động lợi dụng đạo Tin lành tuyên truyền thành lập “Nhà nước Mông”. Đạo “Bà Cô Dợ” ảnh hưởng trực tiếp hai tỉnh Lai Châu và Điện Biên, lôi kéo người tin theo. Thành phần chủ yếu là đồng bào người Mông và đã là tín đồ của Hội thánh Tin lành. Thời điểm cao nhất vào năm 2017-2019, tổ chức “Bà Cô Dợ” đã có 19 điểm, nhóm với 773 người. Thời gian sau này, do nhận ra bản chất nên một số trường hợp đã từ bỏ, tính đến tháng 4/2021, tổ chức “Bà Cô Dợ” đã giảm số người. 

Các đối tượng cầm đầu đồng thời tiếp tục tuyên truyền các nội dung thiếu khoa học như “trái đất sẽ bị huỷ diệt” “ngày tận thế” có liên quan đến dịch COVID 19,... Nội dung tuyên truyền là “Chúa sẽ làm cho trái đất nổ tung hết, sẽ làm cho con người bị diệt vong hết; làm cho trái đất khô cằn, làm cho con người chết dần. Lý do Chúa hủy diệt trái đất là vì con người không làm theo lời của Chúa, không theo ý Chúa, khi Trái đất bị hủy diệt là lúc mà Chúa quay về, cây cối sẽ bị khô héo hết, giống như dịch bệnh COVID-19. Và hiện nay, như mọi người đã biết các quán karaoke, chợ lớn... đều đóng cửa hết, con người không đi lại được, niềm vui của con người sẽ không còn, bây giờ mới là bắt đầu thôi”.

Những luận điệu tuyên truyền phản khoa học trên thay lời muốn nói thêm một lần nữa khẳng định, hiện tượng mang màu sắc tôn giáo có tên gọi “Bà Cô Dợ” đã lợi dụng niềm tin tín ngưỡng của chính đồng bào Mông, đi ngược lại mong muốn phát triển, xâm hại trực tiếp truyền thống văn hóa lâu đời, bản sắc tốt đẹp của dân tộc Mông. Đó là hành vi của những kẻ mưu đồ chống phá Nhà nước, lật đổ chính quyền nhân dân, gây chia rẽ

Đấu tranh làm thất bại âm mưu lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước

 

Trên cơ sở nhận diện hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước nói trên, thời gian tới để góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, các ban ngành chức năng và cấp ủy, chính quyền các địa phương cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tăng cường công tác tuyền truyền về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo và âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo chống Đảng, Nhà nước để cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân nâng cao cảnh giác, tuân thủ nghiêm pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo cũng như quy định khác liên quan. Công tác tuyên truyền cần được tiến hành thường xuyên, liên tục và với nhiều hình thức đa dạng, đi vào đời sống của người dân.

Hai là, tiếp tục quan tâm củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo. Làm tốt công tác kiểm tra, giám sát thực hiện đường lối, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước về tôn giáo để chủ động phát hiện những sơ hở, thiếu sót và kịp thời có biện pháp khắc phục. Tổ chức tốt việc nắm bắt tâm tư, giải quyết những nguyện vọng chính đáng của đồng bào chức sắc, tín đồ các tôn giáo.

Ba là, đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc, nhất là địa bàn trọng điểm, phức tạp về tôn giáo. Phải coi đây là một công tác trọng tâm, cơ bản đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy Đảng, sự điều hành quản lý của chính quyền và huy động được các ngành, các cấp cùng tham gia.

Bốn là, thực hiện tốt công tác tranh thủ chức sắc, người có uy tín trong các tôn giáo nhằm thúc đẩy xu hướng hoạt động tôn giáo thuần túy, tuân thủ pháp luật và đồng hành cùng dân tộc. Chú trọng phát huy vai trò của chức sắc, người có uy tín trong tôn giáo trong công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước và góp phần giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh trong tôn giáo.

Năm là, kiên quyết đấu tranh với các hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước. Trong đó, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; kiên quyết xử lý các hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật, đảm bảo tính thượng tôn pháp luật.

Nhận diện hoạt động lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng và nhà nước Việt Nam

 

Các thế lực thù địch luôn ráo riết tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Đặc biệt, những năm gần đây, lợi dụng chính sách đối ngoại và chính sách tôn giáo của ta ngày càng cởi mở hơn, các đối tượng gia tăng lợi dụng vấn đề tôn giáo để tạo sức ép từ bên ngoài, tìm cách gây mất ổn định an ninh chính trị ở bên trong, nhằm tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Nổi lên hiện nay là một số hoạt động sau:

Một là, tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm quyền tự do tôn giáo. Lợi dụng tính chất nhạy cảm của tôn giáo và một số hạn chế, thiếu sót của chính quyền các địa phương trong công tác tôn giáo, thời gian qua, các thế lực thù địch cùng với bọn phản động trong và ngoài nước đã ra sức tuyên truyền xuyên tạc về tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các đối tượng cho rằng, hệ thống chính sách pháp luật về tôn giáo của Việt Nam không tương đồng với luật pháp quốc tế về quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo; thậm chí, chúng còn trắng trợn xuyên tạc việc xây dựng, ban hành quy định pháp luật về tôn giáo là "thòng lọng" đối với hoạt động của các tôn giáo; xuyên tạc việc xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai, xây dựng, hành chính, dân sự… liên quan chức sắc, tín đồ tôn giáo là "đàn áp tôn giáo"; kêu gọi các nước lấy vấn đề tự do tôn giáo để làm điều kiện trong việc đàm phán, ký kết các thỏa thuận hợp tác song phương cũng như đa phương, qua đó tìm cách can thiệp công việc nội bộ của Việt Nam. Đặc biệt, có chức sắc còn công khai đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản tại Việt Nam,

Hai là, lợi dụng các vấn đề tiêu cực trong xã hội, các vụ việc phức tạp liên quan tôn giáo để kích động chức sắc, tín đồ gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. 

 Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, đối tượng phản động trong và ngoài nước đã và đang ráo riết triển khai nhiều chiến dịch tuyên truyền nhằm thổi phồng các tiêu cực trong xã hội, quy chụp mọi tồn tại, hạn chế hiện nay là do sai lầm trong công tác lãnh đạo của Đảng, yếu kém trong công tác điều hành, quản lý của Chính phủ; từ đó, chúng móc nối, lôi kéo, kích động chức sắc, tín đồ các tôn giáo tổ chức các cuộc tập trung đông người tuần hành, biểu tình với danh nghĩa bảo vệ cuộc sống của người dân, bảo vệ người yếu thế để chống chính quyền; tăng cường phát triển lực lượng chống đối trong các tôn giáo, tạo thế liên tôn, liên kết trong - ngoài nhằm âm mưu tiến hành các cuộc tập dượt cho "cách mạng màu", "cách mạng đường phố" tại Việt Nam.

Ba là, gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc để kích động tư tưởng ly khai, tự trị. Lợi dụng một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu…, thời gian qua các thế lực thù địch và bọn phản động lập ra nhiều tổ chức núp bóng dưới danh nghĩa tôn giáo để tập hợp, lôi kéo đồng bào dân tộc; để từ đó, dùng thần quyền, giáo lý chi phối họ tham gia các hoạt động chống Đảng, Nhà nước.

Chiêu trò “Xếp hạng dân chủ”

     Mới đây, tổ chức có tên là Bộ phận Tình báo Kinh tế (EUI) đã đưa ra Báo cáo chỉ số Dân chủ năm 2021. Theo đó, Việt Nam bị xếp vào nhóm nước phi dân chủ, độc tài. (?). Mừng như bắt được vàng, các tổ chức phản động, thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam ở hải ngoại lập tức đăng tải trên các trang mạng xã hội những lời bình luận sống sượng, hả hê, bất chấp sự thật khách quan hoàn toàn trái ngược. Trong bài viết “Việt Nam trong top 10 nước đứng cuối bảng xếp hạng dân chủ” đăng trên trang facebook, tổ chức khủng bố Việt Tân rêu rao: “...Cuối cùng phải nói đến Việt Nam, nơi mà trong thời gian hai năm qua bắt giam và xử án tù thật nặng hàng loạt nhà văn, ký giả độc lập và các nhà bất đồng chính kiến ôn hòa. Dân chủ xã hội chủ nghĩa dưới một thể chế tam quyền phân lập giả mạo, trở thành kẻ thù lâu dài của xã hội dân sự và của Internet, đã biến đất nước thành một nhà tù lớn mà mọi công dân đều có thể vi phạm tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước…” quy định trong điều 331 mơ hồ của Bộ Luật Hình Sự. Vì vậy Việt Nam bị xếp trong Top 10 quốc gia cuối bảng, đứng hạng bảy từ dưới lên, chỉ trên Cambodia, Trung Quốc, Lào, Bắc Hàn, Miến Điện và Afghanistan là những quốc gia có bộ máy cai trị phi dân chủ nhất thế giới...”.

    Trước hết, cần khẳng định cái gọi là “Báo cáo chỉ số Dân chủ” hoàn toàn vô giá trị về mặt pháp lý. Tổ chức Bộ phận Tình báo Kinh tế (EUI) thuộc tập đoàn Economist tại Anh khai sinh từ năm 2006 và từ năm 2010 tự cho mình cái quyền ra mắt đều đặn các báo cáo chỉ số dân chủ của các quốc gia một cách phiến diện, thiếu khách quan, áp đặt phi lý. Trong số 167 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng “dân chủ”, thì chỉ có 74 quốc gia “dân chủ” hoặc “dân chủ thiếu sót” bao gồm Mỹ và toàn bộ các quốc gia châu Âu. Thế ra tổ chức này cho rằng chỉ có các mô hình chính trị của châu Âu hay nước nào giống châu Âu nhất mới có “dân chủ”. Thật nực cười khi một nhóm thiểu số các quốc gia lại ngông cuồng áp đặt khái niệm “dân chủ” theo ý mình cho phần còn lại của thế giới. Hữu xạ tự nhiên hương, nếu đúng nghĩa nhân văn, tốt đẹp, mang lại giá trị tích cực cho người dân thì “dân chủ kiểu Mỹ”, “dân chủ kiểu tư bản Châu Âu” sẽ tự lan tỏa, phổ quát, chiếm đại đa số trong bảng xếp hạng chứ đâu đến nỗi chưa được một nửa như bản báo cáo xếp hạng?.

    Trên thực tế, thực hiện dân chủ nhân dân là yêu cầu nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ ngày thành lập tới nay, Đảng ta luôn nhấn mạnh quyền làm chủ của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, dân chủ có nghĩa “dân là chủ” và “người dân làm chủ”, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, quần chúng là động lực của cách mạng. Ngay từ những ngày đầu mới giành được chính quyền về tay nhân dân sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Trong lãnh đạo đấu tranh cách mạng, trải qua cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và sau đó là cách mạng dân chủ nhân dân, cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta luôn chú trọng xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.

    Chủ trương đúng đắn, hành động quyết liệt, gần tám thập niên từ khi thành lập nhà nước dân chủ nhân dân, đặc biệt là hơn 35 năm đổi mới đất nước, Việt Nam đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử quan trọng trong việc thực hành và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Hai năm qua, đại dịch COVID-19 đã tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế-xã hội của tất cả các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, chính trong thời điểm gian lao nhất, tính ưu việt, nhân văn của thể chế dân chủ XHCN ở Việt Nam càng được thể hiện rõ. Hàng loạt các giải pháp đồng bộ, hiệu quả nhằm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, đời sống vật chất, tinh thần cho người dân đã được Đảng, Nhà nước nỗ lực triển khai thực hiện. Niềm tin của nhân dân với Đảng, với Nhà nước ngày càng được củng cố và trở thành quan hệ hữu cơ, bền chặt. Đây cũng chính là biểu hiện cao nhất của Dân chủ.

    Tất nhiên, quốc gia nào cũng vậy, dân chủ luôn phải đi liền với trật tự, kỷ cương, thượng tôn pháp luật. Những kẻ lợi dụng tự do, dân chủ để chống phá Nhà nước, làm tổn hại lợi ích của nhân dân sẽ bị nghiêm trị theo quy định pháp luật hiện hành. Việc “xếp hạng dân chủ” áp đặt, sai lệch sự thật khách quan cũng như các hành vi “kêu gọi tự do”, “trao giải” nhân quyền, tự do truyền thông... cho các đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam đang thụ án cải tạo lao động càng cho thấy bản chất, âm mưu thâm hiểm của một số tổ chức, cá nhân vẫn thường rêu rao các mỹ từ cao đẹp...



Vấn đề tôn giáo bị lợi dụng

 

Trong quá trình thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" chống Việt Nam, các thế lực thù địch, đối tượng phản động trong và ngoài nước luôn chú ý lợi dụng vấn đề tôn giáo, coi đây là một trong những mũi tiến công chủ đạo nhằm thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam.

Tính đến tháng 9/2021, Việt Nam có 43 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động, với gần 26 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số cả nước. Ngoài ra, còn có khoảng 140 tổ chức tôn giáo chưa được công nhận tư cách pháp nhân với khoảng 1 triệu tín đồ, đa phần sinh hoạt tại gia hoặc thuê, mượn địa điểm sinh hoạt tôn giáo, không có cơ sở thờ tự. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước luôn nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo tại Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả hết sức quan trọng, được dư luận trong nước và quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Hệ thống chính sách, pháp luật về tôn giáo được kịp thời bổ sung, hoàn thiện, đáp ứng thực tiễn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và phù hợp với những điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Các tổ chức tôn giáo được tạo thuận lợi trong hoạt động và ngày càng phát triển về mọi mặt; đồng bào các tôn giáo ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, gắn bó, đồng hành với dân tộc. Một số lễ trọng của các tôn giáo lớn như: Lễ Phật đản, Lễ Giáng sinh… đã trở thành lễ hội chung của đông đảo nhân dân, góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch không chấp nhận thực tế trên và chúng ráo riết tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Đặc biệt, những năm gần đây, lợi dụng chính sách đối ngoại và chính sách tôn giáo của ta ngày càng cởi mở hơn, các đối tượng gia tăng lợi dụng vấn đề tôn giáo để tạo sức ép từ bên ngoài, tìm cách gây mất ổn định an ninh chính trị ở bên trong, nhằm tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

ĐÔI ĐIỀU VỀ SỨC MẠNH MỀM!

     Trong thời đại khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão hiện nay, văn hóa chính là căn cước để các quốc gia, dân tộc hội nhập nhưng không hòa tan.

    Văn hóa là một khái niệm rộng, có nhiều cách định nghĩa khác nhau. Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa: Văn hóa nên được đề cập như một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.

    Ở nước ta, văn hóa cũng được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, từ quan điểm thông dụng chỉ học thức, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng đến quan niệm văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử, nghĩa là con người sáng tạo, tích lũy từ thế hệ này qua thế hệ khác. Và như vậy, văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, là biểu hiện của văn minh, vừa mang dấu ấn chung của nhân loại, vừa in đậm dấu ấn của mỗi dân tộc, mỗi đất nước. Trong thời đại khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão hiện nay, văn hóa chính là căn cước để các quốc gia, dân tộc hội nhập nhưng không hòa tan.

    Nhận thức rõ tầm quan trọng đặc biệt của văn hóa, nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã quán triệt nguyên tắc và mục tiêu “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Để có nền văn hóa tiên tiến, chúng ta phải tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của các quốc gia khác trên thế giới, những thành tựu mới trong lĩnh vực văn hóa của quốc tế; bên cạnh đó, chúng ta phải gìn giữ và phát huy tinh hoa văn hóa của dân tộc được bồi đắp qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, đồng thời sáng tạo nên những giá trị văn hóa mới để đóng góp vào văn hóa chung của cả loài người.

    Kinh tế phát triển dẫn đến sự thay đổi về nhiều mặt, trong đó có vấn đề văn hóa. Bên cạnh những yếu tố tích cực thì xuất hiện những hiện tượng phản văn hóa. Đó là thái độ phủ nhận những chuẩn mực, giá trị của nền văn hóa chung. Nó xung đột, đối lập với các chuẩn mực, giá trị chung của toàn xã hội. Coi thường chuẩn mực chung trong giáo dục gây ra những tiêu cực, những chuyện đau lòng; chạy theo lợi nhuận bằng mọi giá nên dẫn đến những dự án gây ô nhiễm môi trường, lừa đảo trong kinh doanh, sản xuất và buôn bán hàng giả... đến vấn nạn tín dụng đen; coi thường chuẩn mực trong giao thông gây ra những vụ tai nạn, khiến thiệt hại về người và tài sản rất nghiêm trọng...

    Hay một hiện tượng dễ thấy nhất là khủng hoảng hệ giá trị, dẫn đến những biểu hiện bất thường từ những chuyện như: Dâng cúng bánh chưng lớn nhất, chai rượu lớn nhất đến những biệt phủ thật hoành tráng, những đám cưới thật to… trong lúc thu nhập chính đáng còn thấp, đời sống của nhân dân nhiều nơi rất khó khăn. Sự khủng hoảng giá trị đó còn dẫn đến hiện tượng học giả, bằng thật rồi bằng giả, bổ nhiệm thật, đặc biệt là tệ tham nhũng, lãng phí gây ra những hệ lụy rất tệ hại.

    Chính vì vậy mà vấn đề nêu gương của cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân cũng đang được đặt ra một cách bức thiết. Dù nghị quyết rất hay, chủ trương rất đúng nhưng chính cán bộ, đảng viên không gương mẫu thực hiện, thậm chí làm ngược lại thì không thể thuyết phục được quần chúng nhân dân, chưa kể nó làm suy giảm lòng tin của nhân dân. Do đó, nhìn một cách phổ quát, văn hóa đúng là ngọn đuốc soi đường, sức mạnh mềm!












Khắc họa rõ nét mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 

Ngày 9/2, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức lễ ra mắt cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Cùng với việc xuất bản sách giấy truyền thống, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã xuất bản phiên bản điện tử cuốn sách trên trang Stbook.vn và Thuviencoso.vn.

Cuốn sách tuyển chọn 29 bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kể từ khi chuẩn bị xây dựng Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đến nay. Nội dung xuyên suốt 29 bài viết là sự phân tích biện chứng, lý giải thấu đáo những câu hỏi lớn về CNXH và con đường lên CNXH ở Việt Nam của Tổng Bí thư.

Các bài viết đã thể hiện rõ và làm sâu sắc thêm bản chất, giá trị cốt lõi của CNXH trên các bình diện chính trị, kinh tế, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... bằng những ngôn ngữ giàu hình ảnh, cách diễn đạt dung dị, gần gũi, dễ hiểu đối với mọi tầng lớp nhân dân, được chắt lọc từ đời sống thực tiễn sinh động của đất nước.

Sau khi phát hành, cuốn sách đã nhận được sự quan tâm sâu sắc của các nhà nghiên cứu, quản lý, các nhà khoa học cùng đông đảo độc giả trong và ngoài nước.

Qua nội dung các bài viết của Tổng Bí thư trong cuốn sách, chúng ta thêm hiểu, thêm vững tin rằng xã hội XHCN với giá trị cốt lõi, bền vững và tốt đẹp mà nhân loại hướng tới là một xã hội “thực sự vì con người; sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội; một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn; sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai; một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân”.

Những vấn đề lý luận và thực tiễn được Tổng Bí thư quán triệt trên 3 nguyên tắc, đó là: Kế thừa và phát triển; kiên định và đổi mới; nhuần nhuyễn lý luận và thực tiễn. Cuốn sách là sự bổ sung về lý luận và thực tiễn, kết tinh trí tuệ qua nhiều nhiệm kỳ, đặc biệt tổng kết 35 năm công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH; là sự kế thừa, phát triển, làm sâu sắc hơn giá trị nghiên cứu trước đây của Tổng Bí thư về con đường cách mạng của Đảng ta.

Tổng Bí thư cũng nêu rõ mục tiêu đi tới của CNXH ở Việt Nam là thế nào? Chúng ta phải xây dựng cơ sở kinh tế, bước đầu hiện nay ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Rồi phải tạo dựng nền tảng kinh tế của CNXH ra sao? Trên đó là một kiến trúc thượng tầng phù hợp và phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN...

Cuốn sách không chỉ nhận được sự quan tâm, đón nhận của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong nước mà còn được kiều bào, bạn bè, các chính đảng, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu... quốc tế quan tâm, ghi nhận.

Thủ đoạn đánh lận bản chất vụ Việt Á để chống phá Đảng, Nhà nước

 Một số trang mạng xã hội của các tổ chức, hội nhóm ngoài nước, hãng thông tấn như Việt Tân, RFA, VOA… lợi dụng vụ việc này tung ra những luận điệu bôi xấu chế độ, xuyên tạc bản chất vụ việc. Nhiều bài viết vu cáo Việt Nam chống tham nhũng bằng cách hô hào khẩu hiệu, hướng lái dư luận, đổ lỗi việc để xảy ra những vụ án như vậy là do chế độ, lỗi do Đảng, Nhà nước.

Với những thông tin mà các hội, nhóm, cá nhân trên đưa ra cho thấy sự suy diễn, thổi phồng, nhiều bài viết bịa đặt, xuyên tạc tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Về vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á, qua các chiêu trò của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại được nhào nặn, chế biến thành công cụ, phương tiện rất nguy hại nhằm đánh lận hiện tượng để quy kết bản chất. Các đối tượng nhào nặn vụ án rồi suy diễn thành “lỗi hệ thống”, bóp méo chủ trương “kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta.

Thực tế, quan điểm trong phòng, chống tham nhũng của Đảng ta được thể hiện rất rõ trong các văn kiện của Đảng, trong đó Văn kiện Đại hội XIII khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”. Để phòng, chống, đẩy lùi tham nhũng, suy thoái, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, đi cùng với đó là sửa đổi, bổ sung, từng bước hoàn thiện hệ thống luật pháp gắn với việc điều tra, xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, tiêu cực, tạo sức răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Từ khi vụ việc tại Công ty Việt Á được phát giác đến nay, các cơ quan chức năng đã khẩn trương đẩy nhanh tốc độ, mở rộng điều tra vụ án; ban đầu điều tra các đối tượng của một địa phương, sau đó mở rộng sang các đối tượng của địa phương khác. Điều đó thể hiện những nỗ lực, quyết tâm cao, hành động xuyên suốt, nhất quán. Thực tế trong công cuộc phòng, chống tham nhũng những năm qua theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) đã chứng minh, pháp luật Việt Nam nghiêm minh “không thiên tư, thiên vị”, các cá nhân, tổ chức sai phạm đều được làm rõ để xử lý nghiêm. Thời gian qua, đối với những tổ chức, cá nhân có các hành vi tham nhũng chính sách, lợi dụng tình hình dịch bệnh COVID -19 để trục lợi đều bị xử lý nghiêm minh, không có việc Đảng, Nhà nước “tránh trách nhiệm” như những gì mà các thế lực thù địch rêu rao, vu cáo.

Mọi luận điệu không lấp liếm được sự thật

     Tại Việt Nam, mọi công dân đều bình đẳng trước Hiến pháp và pháp luật, trên tinh thần “Thượng tôn pháp luật”; “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”. Dù có che chắn, bảo vệ đến đâu chăng nữa thì những kẻ mà một số tổ chức, hội nhóm, trong đó có cái gọi là tổ chức “Sáng kiến Pháp lý Việt Nam” nhắc tới vẫn là những kẻ đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam.

    Cụ thể họ là thành viên của tổ chức bất hợp pháp “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam”.  Dưới vỏ bọc của tổ chức này, họ bày tỏ ý kiến một cách vô tổ chức, “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm xuyên tạc, chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”; “cố ý làm lộ bí mật Nhà nước, chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy vật phẩm hay bí mật Nhà nước”;... Và họ phải chịu những hình thức xử phạt nghiêm khắc của pháp luật là tất yếu, không có điều gì phải bàn cãi.

    Giọng điệu mà một số hội, nhóm và cái gọi là tổ chức “Sáng kiến Pháp lý Việt Nam” đưa ra thực chất vẫn là “bình cũ rượu mới” dựa theo luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” của một số nước phương Tây mà thôi. Hành vi của một số hội, nhóm, trong đó có cái gọi là tổ chức “Sáng kiến Pháp lý Việt Nam” đâu phải là vì nhân quyền cho Việt Nam. Đó chỉ là trò núp bóng nhân quyền nhằm bảo vệ những kẻ âm mưu lợi dụng quyền tự do ngôn luận nhằm chống phá Nhà nước và nhân dân Việt Nam./.






Giọng điệu hiểm độc

     Đứng ra bênh vực, bảo vệ cho những nhân vật mà họ gọi là “nhà báo độc lập”, một số tổ chức, hội nhóm trong đó có tổ chức “Sáng kiến Pháp lý Việt Nam” lu loa xuyên tạc rằng chính quyền Việt Nam đã “vi phạm quyền tự do ngôn luận”; “tấn công vào nền tự do báo chí và hoạt động báo chí độc lập”... Từ những suy diễn, vu cáo vô lối ấy, cái gọi là tổ chức “Sáng kiến Pháp lý Việt Nam” và một số tổ chức đòi Nhà nước Việt Nam phải trả tự do ngay lập tức cho những “nhà báo độc lập” đang bị giam giữ.

    Theo lập luận của một số tổ chức, hội nhóm và cái gọi là “Sáng kiến Pháp lý Việt Nam” thì Nhà nước Việt Nam không tuân thủ theo các cam kết về nhân quyền với quốc tế; không chịu nội luật hóa các điều đã cam kết, nên luật pháp Việt Nam không tương thích với công ước của Liên hợp quốc về quyền con người.... Từ những suy diễn ấy họ cho rằng những “nhà báo độc lập” bị bắt giữ thời gian qua chỉ là “bày tỏ chính kiến một cách hòa bình”, “Việt Nam đàn áp tự do ngôn luận, tự do báo chí”... và việc Việt Nam bắt giữ, xử lý những người trong tổ chức tự xưng “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam” là vi phạm quyền con người; vi phạm quyền tự do ngôn luận đã được nêu trong Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị.

    Cần khẳng định ngay rằng, một số tổ chức, hội nhóm, trong đó có cái gọi là tổ chức “Sáng kiến Pháp lý Việt Nam” đang núp bóng “bảo vệ nhân quyền” để bóp méo, xuyên tạc làm sai lệch bản chất các vụ việc nhằm chống phá Việt Nam.

    Việt Nam đã và đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam, trong đó có Bộ luật Hình sự hiện hành đều được Quốc hội thảo luận thông qua và được ban hành theo đúng nguyên tắc, trình tự xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Việt Nam luôn chú trọng nội luật hóa các điều khoản đã cam kết với thế giới trên cơ sở văn hóa truyền thống và thực tiễn đất nước.

    Mặt khác với tinh thần mở rộng dân chủ trong quy trình xây dựng pháp luật, Việt Nam luôn coi trọng việc lấy ý kiến đóng góp của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Chính vì thế mà hệ thống pháp luật nói chung và Bộ luật Hình sự của Việt Nam nói riêng vừa tương thích với quốc tế, vừa phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân, bảo đảm tính dân chủ và sự đồng thuận cao của xã hội, vừa tương thích với các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia đối với các loại tội phạm sẽ bị đưa ra xét xử hình sự.

    Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, mọi công dân Việt Nam có quyền bày tỏ tâm nguyện, chính kiến chính đáng của mình, song quyền này phải được thực hiện theo khuôn khổ của pháp luật; bày tỏ chính kiến một cách có tổ chức, trên tinh thần tập thể và ý thức xây dựng, vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Xã hội Việt Nam không có chỗ cho những kẻ lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để nêu ý kiến một cách tùy tiện, vô tổ chức, không vì mục đích xây dựng mà nhằm động cơ kích động, gây rối, xâm phạm đến quyền và lợi ích của người khác, làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia - dân tộc... Mọi hành vi trái với tinh thần đó đều là vi phạm pháp luật và phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật./.



TỔ QUỐC TRÊN VAI...!

 


Nhập ngũ có vui không..?

Vui không thể tả hết...!

Dẫu có khi rất mệt

Nhưng môi vẫn cười tươi


Đồng đội của tôi ơi

Nào chúng ta nhập ngũ 

Dẫu thời gian không đủ

Cho thói quen rong chơi


Những đẹp nhất cuộc đời

Trên vai người chiến sĩ

Có phải đâu suy nghĩ 

Chỉ biết cho riêng mình


Tổ quốc thật oai linh

Tươi sắc cờ thắm đỏ

Muôn trái tim như có

Nhịp đập đồng đội ơi


Trong ánh mai giữa trời

Ta bên nhau rèn luyện

Làm trai không quyến luyến

Vững bước chân lên đường

Để lại những mến thương

Đất nước là trên hết..!

HÃY MAU CHÓNG XÓA SẠCH NƯỚC MẮT TRẺ THƠ!

     Tôi như nghe thấy tiếng thét của biết bao người lương thiện như thế - trước những giọt nước mắt của em bé Ukraine đang cầm biển chữ tự viết kêu gọi lương tri nhân loại: “Cháu không muốn chiến tranh” - tiếng thét căm giận đối với những kẻ tiến hành chiến tranh và bênh vực chiến tranh!

    Một nhà văn Nga từng kể số phận của một người lính sau cuộc chiến chống phát xít, trở về nhà mình bên hố bom, trước đứa bé mồ côi và đơn độc như ông, ông đã chảy nước mắt… Người đàn ông khi rơi vào tận đáy nỗi khổ đau, từng trải qua bao cảnh “địa ngục trần gian”, làm gì còn nước mắt nữa, thế mà vẫn phải khóc cho nỗi khổ đau của đồng loại - và nhà văn viết: “Điều quan trọng là đừng để nước mắt đàn ông phải chảy…”

    Còn nước mắt của một đứa trẻ, chưa hiểu lý do vì sao mình và người thân đau khổ, ở cái tuổi nếu có khóc thì chỉ là hờn dỗi, nũng nịu cha mẹ anh chị. Đôi mắt trẻ thơ, thời đại nào cũng thế, ở đất nước nào cũng thế, đều chứa trong đáy mắt chúng bài hát của mẹ - “bài hát giúp con nhìn xuyên suốt - vạn vật ở trên đời” - như thi hào Tagor từng ca ngợi. Thế nhưng, nhưng đôi mắt trẻ thơ ngây được bao thi nhân, họa sĩ, nhạc sĩ hàng chục thế kỷ nâng niu đó hiện đang là nạn nhân trực tiếp của của những tham vọng, tranh chấp chính trị quyền lợi của người lớn, thì giọt nước mắt trẻ thơ sẽ là lời lên án mạnh mẽ nhất, đau đớn nhất!

    Những kẻ đã bấm nút kích hoạt chiến tranh và những kẻ ngu xuẩn bênh vực họ, ai mà chẳng có con, có cháu nhỏ; nếu họ còn chút lương tri của con người, của một người cha, người ông tử tế và lương thiện, hãy mở to mắt mà nhìn nước mắt của em bé Ukraine kia! Mọi lý lẽ, lập luận, học thuyết, chiến lược… đều trở thành vô nghĩa hết, thành đáng phỉ nhổ, nếu tuổi thơ con trẻ biến thành bia đỡ đạn cho các ngài! Các ngài hãy mau chóng tìm cách chấm dứt nỗi đau khổ trẻ thơ, hãy lau sạch nước mắt cho các em, nếu các ngài còn có chút tình người!




Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc, bịa đặt vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa hội ở nước ta

     Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (cuốn sách của Tổng Bí thư) do Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tổ chức ra mắt bạn đọc ngày 9/2/2022 bao gồm 29 bài viết, bài phát biểu được tuyển chọn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kể từ khi chuẩn bị xây dựng Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đến nay. Nội dung xuyên suốt của các bài viết này là sự phân tích biện chứng, luận giải thấu đáo những vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Tổng Bí thư.

    Việc xuất bản các cuốn sách của Tổng Bí thư và viết về Tổng Bí thư không chỉ là sự trân trọng trí tuệ, bản lĩnh, tâm huyết của đồng chí; không chỉ là tình cảm đặc biệt dành cho Tổng Bí thư mà còn là sự khẳng định niềm tin của nhân dân ta, của bạn bè quốc tế đối với Đảng và Nhà nước Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; sự lựa chọn đúng đắn của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam từ mùa Xuân năm 1930 về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; sự kiên định con đường đã chọn trong suốt 9 thập niên (dù Việt Nam phải trải qua nhiều khúc ngoặt, đầy khó khăn, thử thách) đã được Tổng Bí thư trình bày, phân tích, minh chứng khách quan, khoa học. Đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đều tìm thấy từ đây câu trả lời cho tương lai của loài người và của dân tộc Việt Nam - đó chính là chủ nghĩa xã hội (giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa); đều thấy đây là một tài liệu quý, cần thiết để đọc, để hiểu đúng…

    Vì thế, việc suy diễn vô căn cứ của Trân Văn rằng, việc xuất bản cuốn sách này và trước đó là cuốn sách “Niềm tin yêu của nhân dân và bạn bè quốc tế dành cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng” và cuốn “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam – Dư luận trong nước và quốc tế về bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng” là “nịnh” Tổng Bí thư thật là thiển cận. Nhắc lại để Trân Văn hiểu rằng, việc tổ chức xuất bản, ra các cuốn sách này không phải là “phong trào” và cũng không phải để “nịnh” người lãnh đạo Đảng mà chính là lan tỏa sâu rộng giá trị, ý nghĩa của những ấn phẩm này trong đời sống chính trị, tinh thần của nhân dân. Mọi sự bịa đặt, xuyên tạc của Trân Văn về việc vì sao xuất bản 3 cuốn sách này; vì sao phải tổ chức lễ ra mắt… cho thấy dã tâm thâm độc của người viết nhằm bôi nhọ Tổng Bí thư và chiêu trò bẻ cong sự thật, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Không có luận cứ nào để cho thấy, ở Việt Nam không có mấy người quan tâm đến 3 ấn phẩm này, mà chỉ có sự suy diễn của Trân Văn và những người cùng hội cùng thuyền quy chụp rằng, “có lẽ sẽ có đến 99,9 % người Việt Nam không đọc và không muốn đọc sách viết về ông Trọng”. Sự thật là, đông đảo cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước, các nhà nghiên cứu, chính khách… đã quan tâm, tìm đọc và đánh giá cao về những cuốn sách của Tổng Bí thư và cuốn sách viết về Tổng Bí thư. Đồng thời, cũng chả thấy ai “bất bình” về việc xuất bản 3 cuốn sách, mà chỉ thấy những đánh giá, ghi nhận tích cực, quý giá về các cuốn sách nêu trên.

    Cũng cần phải nói thêm rằng, xu nịnh cũng là một trong những biểu hiện của tiêu cực, của sự suy thoái theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ“. Cho nên, chắc chắn người đừng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời là Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không bao giờ/không khi nào chấp nhận sự “nịnh” mình, lại càng không “tự mãn” với niềm tin yêu mà cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân dành cho mình. Cho nên, đừng có xuyên tạc và quy chụp thô thiển như vậy! Với Tổng Bí thư, càng đón nhận tình cảm, niềm tin yêu của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân thì đồng chí lại càng nỗ lực, càng gương mẫu hoàn thành trọng trách mà Tổ quốc và nhân dân giao phó; càng công tâm, khách quan trong công tác cán bộ và càng nêu cao phẩm chất đạo đức của người đảng viên cộng sản: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn. Vì thế, mọi sự bịa đặt,  bôi nhọ Tổng Bí thư hay là xuyên tạc về các ấn phẩm nêu trên (nhất là xuyên tạc về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam) đều là chiêu trò của những người “ăn theo, nói leo” theo bả của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội.

    Vì thế, mọi sự bịa đặt hay xuyên tạc về cuốn sách của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội hay của Trân Văn trong bài viết: Về hiện tượng ‘nịnh ông Trọng’ đăng trên VOA, Tiếng Dân … đều cần phải bác bỏ!



Trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc giữ gìn "phương diện quốc gia"

    Từ điển tiếng Việt giải thích “phương diện quốc gia” từ ý thơ của cụ Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” là: “Vị quan đảm đương công việc một vùng đất nước”. Trong thời đại ngày nay, mỗi cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị đều có một phần “phương diện quốc gia” trên cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Vì vậy, mọi việc làm, hành vi ứng xử của cán bộ, nhất là trong môi trường có yếu tố nước ngoài, đều có ảnh hưởng nhất định đến hình ảnh đất nước, vị thế quốc gia, dân tộc. Cán bộ giữ cương vị càng cao, sự ảnh hưởng càng lớn. Cán bộ tốt thì dân được nhờ, đất nước được tiếng thơm. Cán bộ tiêu cực, không biết giữ mình thì đất nước mang tiếng xấu. Sự lợi dụng của các thế lực thù địch, phần tử phản động nhằm mưu đồ chống phá Đảng, chống phá đất nước cũng từ những hành vi tiêu cực đó mà ra.

    Chính vì vậy, để giữ “phương diện quốc gia”, mỗi cán bộ, đảng viên phải có sự thống nhất cao về mặt nhận thức, có thái độ đấu tranh kiên quyết, bài trừ những thông tin tiêu cực về tình hình đất nước trên không gian mạng, nêu gương và dẫn dắt quần chúng. Cần nhận thức một cách thấu đáo và khách quan, việc đấu tranh phát hiện, xử lý những vụ việc tiêu cực vừa qua là sự thể hiện thái độ kiên trì, kiên quyết, không có vùng cấm của Đảng, Nhà nước ta đối với tham nhũng, tiêu cực.

    Việc các cơ quan chức năng điều tra, khám phá thành công những vụ án, vụ việc tiêu cực trong nội bộ, chính là kết quả, thành công của cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Lấy những vụ việc, biểu hiện tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên để quy kết, quy chụp, lên án cả hệ thống chính trị, bôi nhọ đất nước... là thủ đoạn võ đoán, quy chụp, thể hiện rõ ý đồ thù địch.

    Để giữ “phương diện quốc gia”, bên cạnh tập trung các giải pháp đấu tranh phản bác, phủ nhận, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch, cần đặc biệt coi trọng việc củng cố trận địa từ bên trong. Đó chính là ý thức trách nhiệm, bổn phận của đội ngũ công bộc trước lợi ích quốc gia, dân tộc. Phát biểu tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Trọng tâm xây dựng và phát triển văn hóa là xây dựng con người có nhân cách và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh...; xây dựng văn hóa trong Đảng và trong hệ thống chính trị; xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đặc biệt là đạo đức công vụ, chú trọng sự nêu gương của cán bộ, đảng viên...”.

`    Như vậy, văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đạo đức công vụ... chính là những nhân tố cốt lõi để cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện, xứng đáng là công bộc của dân, là đại diện cho vị thế quốc gia. Trong có ấm thì ngoài mới êm. Nếu mỗi công bộc của dân có ý thức, bổn phận giữ “phương diện quốc gia” đúng mực thì chúng ta sẽ hạn chế đến mức thấp nhất những tiêu cực trong bộ máy công quyền, các thế lực thù địch khó tìm cớ để chống phá Đảng, chống phá đất nước. Đó cũng là phương châm lấy xây để chống trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

    Xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đạo đức công vụ phải gắn liền với xây dựng thương hiệu doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp. Đó chính là phương châm của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, doanh nghiệp trong môi trường hội nhập quốc tế, nhất là cán bộ, doanh nhân trong các ngành liên quan đến ngoại giao, du lịch, thương mại... Trong từng môi trường, hoàn cảnh có yếu tố quốc tế, chính họ là cầu nối, là “sứ giả” của văn hóa dân tộc, thể hiện phong cách, thái độ, trình độ văn hóa, văn minh của đất nước, con người Việt Nam trong mắt bạn bè. Hiệu quả thu hút đầu tư, phát triển kinh tế cũng đến từ những ấn tượng về đất nước, con người Việt Nam thông qua những hình ảnh thân thiện ấy.

    Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: "Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nền văn hóa và con người Việt Nam,... kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất".

    Quan điểm của Đại hội XIII của Đảng và thông điệp từ Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 phải được thể hiện, tạo chuyển biến rõ nét trong đời sống xã hội. Chúng ta xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh gắn liền với đấu tranh không khoan nhượng với cái xấu, cái ác, phi văn hóa, phản văn hóa; bảo vệ những giá trị chân-thiện-mỹ của văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam. Đó là cách thiết thực để giữ “phương diện quốc gia” trong ý thức, hành vi của mỗi cán bộ, đảng viên, để khi “quan trên trông xuống người ta trông vào” không hổ thẹn với lương tâm./.



Bộ mặt của A Đảo - cốt cán của tổ chức “Tin lành đấng Christ”

 Tổ chức “Tin lành Đấng Christ - UMCC” (United Montagnard Church of Christ)” do Y Hin Niê (dân tộc Êđê, gốc ở tỉnh Đăk Lăk thành lập vào năm 2001. Y Hin Niê nguyên là “Đại tá, Bộ trưởng Bộ ngoại giao” FULRO III, xuất cảnh định cư ở Mỹ từ năm 1992). 

Khi thành lập tổ chức này, ý đồ của đối tượng cầm đầu là quy tụ các chức sắc, tín đồ người dân tộc thiểu số (DTTS) Tây Nguyên ở Mỹ và Việt Nam để tập hợp lực lượng, đấu tranh “đòi” tự do tôn giáo, dân chủ nhân quyền, tiến tới thành lập “Tôn giáo riêng”, “Nhà nước riêng” của người DTTS Tây Nguyên. 

Ngay sau khi thành lập, UMCC ráo riết chỉ đạo số tay chân trong nước tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam; “cổ vũ, kích động” các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế và pháp luật của các nước Việt Nam, Thái Lan... nhằm thu lợi bất chính. 

Do mâu thuẫn về quyền lợi, vào tháng 9/2019, A Ga (SN 1977, gốc Kon Tum, hiện ở Mỹ), đối tượng đang bị cơ quan điều tra Công an tỉnh Gia Lai truy nã về tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài” chủ trương tách khỏi UMCC thành lập một tổ chức riêng để tiếp tục hoạt động. Tháng 9/2020, A Ga chính thức thay đổi logo và tên gọi của ECCV thành “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên, gọi tắt là CHPC, tự nhận mình làm người đại diện, đồng thời chỉ định nhân sự “Ban đại diện” tạm thời trong nước gồm 5 thành viên, do A Đảo (trú ở Sa Thầy, Kon Tum) làm “Giáo hội trưởng”. Lúc này, tổ chức “Tin lành Đấng Christ” bị phân thành hai nhóm nhỏ, hoạt động riêng biệt, nhưng âm mưu, ý đồ, phương thức, thủ đoạn tương tự nhau. 

Bề ngoài, CHPC tổ chức sinh hoạt tôn giáo bình thường với các hoạt động hát thánh ca, chia sẻ kinh thánh và cầu nguyện. Tuy nhiên bên trong, CHPC chính là một tổ chức phản động đội lốt tôn giáo để tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Phương thức, thủ đoạn hoạt động của CHPC không có gì mới, tương tự như “Tin lành Đêga” trước đây và tổ chức phản động “Hội thánh Tin lành đấng Christ” ở Mỹ hiện nay. 

 Đó là tập hợp tín đồ là người DTTS ở trong nước liên kết với các nhóm Tin lành khác và số đối tượng phản động người Việt lưu vong lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo để chống phá Việt Nam, đòi thành lập “nhà nước riêng, tôn giáo riêng” cho người DTTS. Để phát triển tổ chức phản động của mình, A Ga đã cộng tác, liên kết với các tổ chức phản động nước ngoài khác như “Ủy ban Cứu trợ người vượt biển” (BPSOS) của Nguyễn Đình Thắng ở Mỹ, “nhóm “Người Thượng đứng lên vì công lý” (MSFJ) của Y Quynh Bdăp ở Thái Lan để tạo dựng, phát triển cơ sở bên trong.

    Thông qua các ứng dụng trên mạng xã hội.., A Ga đã kết nối với các đối tượng bên trong để tuyên truyền, củng cố niềm tin, lôi kéo mọi người tham gia CHPC, mở rộng tín đồ, tập hợp lực lượng, từng bước công khai hóa hoạt động. Bên cạnh đó, A Ga và các đối tượng phản động lưu vong khác tích cực móc nối, lôi kéo, hướng dẫn các tín đồ theo đạo tin lành thuần túy trong nước tham gia các buổi tập huấn trực tuyến về nhân quyền mà thực chất chính là các buổi đào tạo cách thức viết “báo cáo vi phạm” về nhân quyền, tự do tôn giáo; đào tạo kỹ năng hoạt động xã hội dân sự”; hướng dẫn phương pháp thu thập, cung cấp các thông tin sai lệch về tình hình trong nước để xuyên tạc, vu cáo trên mạng xã hội và các diễn đàn quốc tế; hướng dẫn cách thức đối phó với cơ quan Công an khi bị phát hiện. Với thủ đoạn này, từ tháng 9/2020 đến nay, CHPC đã phát triển được một số tín đồ tại các tỉnh: Đắk Lắk, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và Phú Yên.

    Qua công tác nắm tình hình, lực lượng Công an đã phát hiện được toàn bộ hoạt động của tổ chức phản động “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” cũng như hoạt động vi phạm pháp luật của các đối tượng tham gia trong nước.  

    Thế nhưng, với bản chất ngoan cố, số cốt cán của UMCC trước đây chưa chịu từ bỏ hoạt động vẫn lén lút móc nối, lôi kéo, phát triển lực lượng, ý đồ thành lập một tổ chức mới, trên nền tảng của tổ chức UMCC trước đó, tuy nhiên đều bị lực lượng chức năng phát hiện, đấu tranh, phá rã.

    “Tin lành Đấng Christ” là tổ chức phản động đội lốt tôn giáo để tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Do đó, mọi hoạt động liên quan đến tổ chức này đều là hành vi vi phạm pháp luật. Nhà nước Việt Nam luôn bảo đảm quyền tự do tin tưởng của người dân. Mọi hoạt động lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để xâm phạm an ninh quốc gia đều sẽ bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật./.