Thứ Tư, 2 tháng 3, 2022

Việt Nam vẫn là trọng điểm chống phá của “Diễn biến hòa bình”

    Hiện nay, thế giới đang chứng kiến nhiều sự thay đổi sâu sắc. “Do tác động của đại dịch COVID-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới”. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, dưới nhiều hình thức mới, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Hợp tác, cạnh tranh, sự va chạm, cọ xát, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, các trung tâm quyền lực ngày càng gia tăng. Trong cách thức tiến hành, các nước lớn coi trọng sử dụng “quyền lực thông minh”, kết hợp giữa “quyền lực cứng” (chỉ huy, cưỡng bức, định đoạt dựa trên sức mạnh kinh tế, quân sự) với “quyền lực mềm” (khả năng thuyết phục, thu hút, tạo ảnh hưởng dựa trên sự hấp dẫn của giá trị) một cách uyển chuyển, khôn khéo. Trong bối cảnh quốc tế và các khu vực diễn biến phức tạp, khôn lường đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” dưới một bộ mặt mới, ngày càng bộc lộ rõ sự tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc.

Cho dù có “bộ mặt mới” thì bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch; vẫn là một kiểu “chiến tranh không có tiếng súng” nhưng vô cùng nguy hiểm với tính chất chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu, phi vũ trang. Đã từng cay đắng thất bại trong chiến tranh, nay các thế lực thù địch lớn tiếng tuyên bố sẽ “thắng trong hòa bình”, “thắng bằng kinh tế thị trường” và Việt Nam vẫn là tiêu điểm, vẫn hội tụ đủ các yếu tố là trọng tâm chống phá của những thủ đoạn mới trên đây. Bởi lẽ, là một nước xã hội chủ nghĩa luôn tiên phong trong phong trào độc lập dân tộc, không chịu lệ thuộc vào bên ngoài, Việt Nam nắm giữ vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn nữa, những thành tựu hơn 36 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, tuy nhiên trong nội bộ, hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội... còn diễn biến khá phức tạp. Thêm vào đó, thay đổi được chế độ chính trị, bộ máy cầm quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch sẽ có nhiều lợi thế khi thực hiện các mưu đồ chính trị mới trong thế giới đương đại. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, tiếp tục diễn ra vô cùng phức tạp, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Vấn đề quan trọng có ý nghĩa định hướng chiến lược trong cuộc chiến này là phải tăng cường nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng bộ mặt thật, “bình mới, rượu cũ” của chiến lược “diễn biến hòa bình”; đồng thời, xác định đấu tranh phòng, chống, làm thất bại “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương. Về cơ bản lâu dài, kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Đảng và Nhà nước đã xác định, trong đó, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, thống nhất nhận thức và tư tưởng, hành động, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là cơ sở nền tảng. Thực hiện đồng bộ các giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là giải pháp đột phá, nhất là khi “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm, thay vì tác động từ bên ngoài vào sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy chúng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mũi nhọn xung kích chính là vũ khí phê phán thông qua đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Và cho dù “diễn biến hòa bình” có thay đổi phương thức, điều chỉnh thủ đoạn, diễn biến theo chiều hướng nào, mang bộ mặt nào đi nữa thì mục tiêu cuối cùng của họ không có gì khác là hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, tập trung xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong tình hình mới./.

TMT 03.3

CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU TRÒ NGUY HIỂM!

         Ca ngợi, tán dương, thậm chí trao “giải thưởng” cho các đối tượng vi phạm pháp luật, chống phá Đảng, Nhà nước là một trong những chiêu trò nguy hiểm của các thế lực phản động, thù địch. Điều này đòi hỏi chúng ta cần đề cao cảnh giác, đấu tranh vạch trần bản chất của chiêu trò nói trên.

Từ lâu, 3 mẹ con Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư và các cá nhân Đinh Thị Thu Thủy, Nguyễn Văn Túc đã được biết đến là những đối tượng thường xuyên lợi dụng mạng xã hội để soạn thảo, tán phát thông tin, tài liệu chống phá Nhà nước. Việc xét xử, kết án các đối tượng này là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy vậy, mới đây, trang thông tin điện tử của tổ chức "Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” đã đưa tin về việc trao cái gọi là "Giải thưởng nhân quyền Việt Nam năm 2021” cho các đối tượng nói trên. Thực chất, đây chỉ là chiêu trò nhằm mục đích kích động, cổ súy cho những hành động chống phá, đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Trước hết, cần khẳng định, Cấn Thị Thêu và con trai Trịnh Bá Tư là hai đối tượng mang tư tưởng tiêu cực, bất mãn chính trị. Kết quả điều tra của cơ quan chức năng cho thấy, trong thời gian từ ngày 9 - 14/01/2020, Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Tư đã sử dụng tài khoản facebook cá nhân phát trực tiếp 08 video có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam... Quá trình điều tra, khám xét nơi ở của các đối tượng, lực lượng chức năng thu giữ được một số đồ vật, tài liệu có nội dung liên quan đến hoạt động tuyên truyền chống Nhà nước như: "Cẩm nang nuôi tù”, "Phản kháng phi bạo lực”, "Đặt bàn tay lên Việt Nam”, "Chính trị bình dân”... Với các hành vi vi phạm đó, tháng 5/2021, Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Hòa Bình đã tuyên phạt Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Tư mỗi bị cáo 8 năm tù giam cùng về tội "Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, 3 năm quản chế tại địa phương sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

Đối tượng Trịnh Bá Phương (con trai của Cấn Thị Thêu) cũng bị Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Hà Nội khởi tố bị can, thi hành lệnh bắt tạm giam để điều tra về tội "Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 117, Bộ luật Hình sự năm 2015. Với các hành vi soạn thảo, đăng tải, phát tán nhiều video clip, bài viết có nội dung xuyên tạc, bịa đặt, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân nhằm mục đích chống Nhà nước, ngày 15/12/2021 tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử TAND TP Hà Nội đã tuyên phạt Trịnh Bá Phương mức án 10 năm tù.

Hai cá nhân còn lại được “trao thưởng” cũng là những đối tượng đang thụ án vì các hành vi chống phá chính quyền. Trong đó, Đinh Thị Thu Thủy đã mở nhiều tài khoản Facebook cá nhân để biên tập, đăng tải, chia sẻ hàng trăm tài liệu tuyên truyền, xuyên tạc... bôi nhọ danh dự lãnh đạo Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng chống đối; tung tin thất thiệt, bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân nhằm chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đầu năm 2021, TAND tỉnh Hậu Giang đã tuyên án 7 năm tù và 2 năm quản chế đối với Đinh Thị Thu Thủy về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo khoản 1 Điều 117 Bộ luật Hình sự 2015. Trước đó, tháng 4/2018, đối tượng Nguyễn Văn Túc cũng đã bị TAND tỉnh Thái Bình tuyên 13 năm tù giam và 5 năm quản chế về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Theo điều tra, Nguyễn Văn Túc là một thành viên của “Hội anh em dân chủ”, giữ các vị trí như trưởng nhóm ở Thái Bình, sau đó làm Phó Ban đại diện, rồi Phó chủ tịch thứ nhất của tổ chức này với “bề dày thành tích” trong tiến hành các hoạt động chống chính quyền nhân dân.

Nhìn qua “thành tích” của 5 đối tượng được trao cái gọi là "Giải thưởng nhân quyền Việt Nam năm 2021” có thể thấy, điểm chung của những đối tượng này là đều đang chấp hành án tù về các tội tuyên truyền chống Nhà nước, hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Việc trao giải cho các đối tượng vi phạm pháp luật, đi ngược lại lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và Nhân dân đã phản ánh rõ nhất bản chất của cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam 2021”, cũng như động cơ, mục đích của tổ chức "Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”.

Rõ ràng, cái đích mà tổ chức trên muốn nhắm đến là xuyên tạc, bóp méo tình hình nhân quyền ở Việt Nam; xuyên tạc, bôi nhọ nhằm tạo cớ để các tổ chức, cá nhân nước ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Thực tế hành động việc làm của các đối tượng nêu trên là hành động chống phá Nhà nước. Việc xét xử, tuyên án các đối tượng đó hoàn toàn phù hợp với quy định của luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế. Bởi dù ở Việt Nam hay bất cứ quốc gia nào, hành vi phạm tội chống phá Nhà nước đều sẽ bị xử lý nghiêm minh.

Với chiến lược “diễn biến hòa bình” và mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam, thời gian qua không ít tổ chức nước ngoài đã sử dụng chiêu trò ngợi ca, tán dương, vinh danh, trao “giải thưởng”, “giải thưởng quốc tế” cho các đối tượng vi phạm pháp luật, chống phá Đảng, Nhà nước ta. Thực chất đây là chiêu trò hết sức nguy hiểm, vừa bóp méo tình hình nhân quyền tại Việt Nam, vừa “hà hơi, tiếp sức” cho các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, các phần tử vi phạm pháp luật ở trong nước…

Câu chuyện về cái gọi là "Giải thưởng nhân quyền Việt Nam năm 2021” mới đây chỉ là một ví dụ cho chiêu trò này. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần đề cao cảnh giác, nhận rõ bản chất của vấn đề. Từ đó tích cực đấu tranh, vạch trần động cơ chính trị đen tối phía sau chiêu trò nguy hiểm nói trên; góp phần bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, Nhà nước và bảo vệ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta hiện nay./.

Yêu nước ST.

Kiên trì bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng trong tình hình hiện nay

 

Cương lĩnh và đường lối đổi mới của Đảng được xây dựng trên cơ sở nhận thức đúng đắn, sâu sắc bản chất cách mạng, phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, Cương lĩnh, đường lối đó đứng vững và được hiện thực hóa, có khả năng chống lại mọi sự xuyên tạc và chống phá của các thế lực thù địch cả về lý luận và thực tiễn.

Phản bác quan điểm “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế”

 

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng đến nay đã chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, trong đó có lĩnh vực kinh tế. Vậy mà gần đây lại xuất hiện quan điểm cho rằng “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế”.

Đề phòng bệnh hãnh tiến, hiếu thắng

 

Có một điểm chung từ những vụ án, vụ việc tiêu cực bị đưa ra ánh sáng công lý thời gian qua, đó là đối tượng phạm tội, vi phạm kỷ luật, suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống... là người trẻ chiếm tỷ lệ cao.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH CHỐNG KHỦNG BỐ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Hoạt động khủng bố trên thế giới diễn ra hết sức phức tạp, không ngừng gia tăng cả về số vụ, quy mô, phương thức và tính chất ngày càng manh động, nguy hiểm, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh của nhiều quốc gia. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức, sớm nhận diện và có biện pháp phòng, chống khủng bố có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Để công tác này ngày càng hiệu quả, đi vào nền nếp, tạo thế chủ động, cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:
       - Các cấp, các ngành, đơn vị và mọi người dân cần không ngừng nâng cao nhận thức về công tác phòng chống khủng bố, làm cho mọi người thấy rõ tính chất nguy hiểm của tội phạm khủng bố và hậu quả cũng như tác hại của nó, tránh tư
 tưởng chủ quan.
       - Tiếp tục tăng cường hơn nữa công tác quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ cũng như ngăn chặn, xử lý có hiệu quả tình trạng buôn bán, vận chuyển, sử dụng trái phép chất nổ, chất cháy, chất độc hại, tiền chất nố nhằm từng bước làm triệt tiêu nguồn nguyên liệu để phục vụ cho việc tấn công khủng bố, phá hoại.

- Thực hiện có hiệu quả công tác quản lý nhà nước về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; phối hợp với các đơn vị, địa phương có liên quan kiểm soát chặt các cửa khẩu biên giới

- Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ ở các địa bàn phức tạp về ANTT; phối hợp các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và tích cực vận động nhân dân tham gia phòng, chống khủng bố để tạo ra thế trận an ninh vững chắc, chủ động phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn các hành vi khủng bố.

- Thường xuyên rà soát, điều chỉnh, bổ sung các phương án phòng chống khủng bố; tổ chức thực hiện diễn tập với những tình huống giả định sát với thực tế của từng đơn vị, địa phương. UBND tỉnh tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện và tổ chức cho các lực lượng chức năng thực thi nhiệm vụ phòng, chống khủng bố tiếp tục được nghiên cứu, học tập kinh nghiệm về công tác này.

Trong tình mới, tình hình khủng bố vẫn là vấn đề đặt ra cho mỗi chúng ta phải hết sức cảnh giác. Nhận thức và tuyên truyền cho mọi cán bộ chiến sỹ trong toàn đơn vị và nân dân nhận thức một cách đầy đủ. Từ đó, có những giải pháp đấu tranh có hiệu quả góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới..

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG THAM NHỮNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 Trong tình hình hiện nay, cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng cần tiếp tục, lâu dài và quyết liệt. Vì vậy, để kịp thời ngăn chặn tham nhũng cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các thể chế về quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, đặc biệt là các quy định liên quan đến kiểm soát quyền lực của cán bộ, công chức. Thông qua công tác nắm tình hình thực tiễn cũng như từ kết quả của những vụ án tham nhũng đã được phát hiện, điều tra, xét xử thời gian qua, chủ động phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế - xã hội, những lỗ hổng trong các văn bản quy phạm pháp luật để tham mưu, hoàn thiện, góp phần phòng ngừa tham nhũng, lãng phí.

Thứ hai, coi trọng công tác tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, thực hiện nghiêm theo những tiêu chuẩn, tiêu chí đã được Trung ương hướng dẫn, chỉ đạo. Căn cứ vào thực tế tình hình của ngành, lĩnh vực, địa phương để cụ thể hóa thành các bộ tiêu chuẩn quy định từng chức vụ, chức danh, nhiệm vụ công tác cho phù hợp. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn tu dưỡng, rèn luyện bản thân trong mọi hoàn cảnh, thường xuyên tự soi, tự sửa với bản thân mình. 

Thứ ba, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện những hành vi tham nhũng, lãng phí, siết chặt kỷ cương trong Đảng cũng như quản lý kinh tế, xã hội. Phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, các cơ quan thanh tra, kiểm tra phải chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước ban hành chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn về phòng, chống tham nhũng.

Thứ tư, thúc đẩy nhanh tiến độ phát hiện, điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, lãng phí, thu hồi tối đa tài sản thất thoát về cho Nhà nước, đặc biệt là những vụ án được dư luận quan tâm. Qua đó thể hiện sự nghiêm minh, tinh thần thượng tôn pháp luật, giữ vững niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự trong sạch của bộ máy quản lý nhà nước.

Thứ năm, phát huy tối đa vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông trong đấu tranh, phòng, chống tham nhũng. Vai trò của các cơ quan thông tấn là vô cùng quan trọng trong tuyên truyền về tính công khai, minh bạch của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, góp phần phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, Qua đó, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình, tạo hiệu ứng đồng tình, ủng hộ, chung tay cùng Đảng và Nhà nước quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng./.

Trong điều kiện mới, để đấu tranh và đẩy lùi tham nhũng, mỗi chúng ta là cán bộ, đảng viên cần kiên trì đấu tranh với các biểu hiện và hành động tham nhũng, Đồng thời đấu tranh phản bác những luận điệu của các thế lực thù địch phủ nhận thành quả phòng chống tham nhũng thời gian qua của chúng ta. Từ đó, đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng,toàn dân để cuộc đấu tranh đạt được kết quả to lớn hơn nữa trong công cuộc xây dựng bà bảo vệ Tổ quốc.  

NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ PHÒNG CHỐNG KHỦNG BỐ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 Hoạt động khủng bố là một hiện tượng chính trị, xã hội rất phức tạp, có liên quan đến lợi ích của mỗi quốc gia, dân tộc, nhưng hiểu và nhận thức về nó còn có những quan niệm khác nhau.    

Tội phạm khủng bố xâm phạm sự vững mạnh của chính quyền nhân dân; an ninh đối nội, đối ngoại; tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể của con người, cơ sở vật chất, tài sản… Về mặt hành vi, tội phạm khủng bố sử dụng bạo lực, đe dọa sử dụng bạo lực hoặc cả các hình thức không mang tính bạo lực như khủng bố bằng công nghệ thông tin (tin tặc), làm ô nhiễm nguồn nước, phát tán mầm bệnh…

- Đặc điểm hoạt động khủng bố thường được tiến hành có tổ chức, theo kế hoạch tỉ mỉ, chi tiết; do các phần tử khủng bố được tuyển mộ, huấn luyện, đào tạo bài bản; mục tiêu tấn công nhằm vào những nơi dễ gây ra sự kinh hoàng, sự chú ý rộng rãi trong dư luận; thường gắn liền với vấn đề tôn giáo, ly khai, tự trị dân tộc; gây hậu quả to lớn, khó lường về nhiều mặt cho xã hội.
         - Tính chất hoạt động khủng bố thể hiện màu sắc chính trị sâu sắc, thường gắn với các yêu sách kinh tế, ngoại giao; là tội phạm đặc biệt ngay hiểm, thể hiện rõ tính bạo lực, cực đoan, tàn bạo và bí mật hành động.
        - Phương thức, thủ đoạn khủng bố rất đa dạng, thay đổi theo từng thời kỳ, phổ biến là các phương thức, như: Đánh bom khủng bố (cài đặt bom mìn; đánh bom liều chết; đánh bom kép; sử dụng bom phóng xạ, sinh học, hóa học, chất nổ lỏng, chất nổ dẻo, tiền chất thuốc nổ tấn công khủng bố); bắt giữ con tin; khủng bố “miệng”; tấn công bằng vũ khí thô sơ tự chế; sử dụng phương tiện giao thông vận tải như một vũ khí tấn công; tấn công mạng viễn thông, Internet…       

Để nâng cao nhận thức về khủng bố, chúng ta cần làm tốt công tác tuyên truyền cho các cấp, các ngành và Nhân dân về khủng bố và công tác phòng chống khủng bố. Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành và địa phương, không ngừng nâng cao nhận thức về công tác phòng chống khủng bố, làm cho mọi người thấy rõ tính chất nguy hiểm của tội phạm khủng bố và hậu quả cũng như tác hại của nó, tránh tư  tưởng chủ quan.

ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 Bảo vệ chủ quyền quốc gia, trong đó có chủ quyền quốc gia trên biển là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Để giữ vững chủ quyền quốc gia trên biển chúng ta cần đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liên của Tổ quốc.

Thứ nhất, tăng cường giáo dục, tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và nhân dân những quy định pháp lý về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam; về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Hình thức tuyên truyền phải phong phú, linh hoạt. Ngoài việc tuyên truyền trên sách báo, các phương tiện thông tin truyền thống; cần đẩy mạnh tuyên truyền trên internet và mạng xã hội để nhân dân dễ dàng tiếp cận những thông tin chính thống về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Thứ hai, phát huy vai trò của báo chí, truyền thông internet trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước và phản bác các thông tin sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động. Đồng thời, kịp thời phát hiện, đấu tranh lên án những hành động sai trái trên biển cũng như những hành vi lợi dụng những diễn biến phức tạp trên biển để thực hiện mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay.

Thứ ba, tăng cường công tác đảm bảo an ninh mạng và quản lý đối với các trang mạng xã hội hoạt động tại Việt Nam. “Tăng cường công tác bảo đảm an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới”; Luật An toàn thông tin mạng năm 2016 và Luật An ninh mạng năm 2018.

Thứ tư, cần tiếp tục minh bạch hóa chính sách; chính xác hóa và cụ thể hóa thông tin về tình hình biển, đảo của Việt Nam. Internet là kênh thông tin phổ biến hiện nay, do đó, chúng ta cần tích cực đăng tải các bài viết thể hiện rõ lập trường, quan điểm của Việt Nam đối với những vấn đề trên biển. Tích cực tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại và an ninh - quốc phòng của Việt Nam đến người dân trong và ngoài nước cũng như cộng đồng quốc tế.

Thứ năm, áp dụng các giải pháp kỹ thuật tăng cường rà quét, bóc gỡ, ngăn chặn những thông tin xấu độc về tình hình biển Đông nói chung và vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam nói riêng. Tăng cường xử lý các đối tượng đăng tải, chia sẻ các bài viết, video, hình ảnh có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề chủ quyền biển, đảo.

Trong tình hình mới, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển là nhiệm vụ thiêng liêng của cả hệ thống chính trị và toàn dân, chung ta cần tăng cường đấu tranh giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia, chống lại mọi hành vi vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia được luật pháp quốc tế công nhận, được quy định trong luật pháp Việt Nam

TÍCH CỰC ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc đấu tranh lâu dài, đầy cam go, phức tạp. Trong quá trình đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng và coi đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Thời gian qua, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả cụ thể rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội và thực sự, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được quốc tế ghi nhận.

Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng, nhất là nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân về phòng, chống tham nhũng. Kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng được công khai. Các cơ quan thông tấn, báo chí đã tích cực đồng hành cùng Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng trong phòng, chống tham nhũng; vừa tuyên truyền vừa tích cực đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta; qua đó định hướng tốt dư luận, tạo sự quyết tâm, đồng thuận sâu rộng trong toàn xã hội trong công tác phòng, chống tham nhũng.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán được tiến hành thường xuyên, liên tục và kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nhiều hành vi tham nhũng, lãng phí.Với tinh thần khách quan, công minh, các cơ quan chức năng “đã tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, tập trung vào những lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng. Khẩn trương kết luận thanh tra, xác định rõ đúng sai, nguyên nhân, xử lý nghiêm đối với những tổ chức, cá nhân có sai phạm tại các dự án:

Thời gian qua, các cơ quan chức năng đã tích cực phát hiện, điều tra, xử lý nhiều vụ án, đã kết thúc điều tra, truy tố và đưa ra xét xử “với các mức án nghiêm khắc, đúng quy định của pháp luật, rất nghiêm minh nhưng cũng rất nhân văn; nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, kể cả những vụ án kéo dài từ nhiều năm trước đã được chỉ đạo xử lý dứt điểm, nghiêm minh. Đây là một trong những điểm sáng, kết quả nổi bật, thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước cũng như hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Nghệ thuật chọn mục tiêu, tạo thế trong tác chiến.

Trong Chiến dịch Bắc Quảng Ngãi năm 1967, trận tiến công của bộ đội chủ lực Quân khu 5 tiêu diệt quân đồng minh của Mỹ ở cứ điểm Quang Thạnh có ý nghĩa lớn, để lại nhiều bài học kinh nghiệm, trong đó nổi bật là ta chủ động lựa chọn mục tiêu, bố trí lực lượng tạo thế và linh hoạt trong tác chiến. "Nhổ" cứ điểm Quang Thạnh Căn cứ vào tình hình địch, địa hình và khả năng của ta, Bộ tư lệnh chiến dịch xác định địa bàn tác chiến chủ yếu của chiến dịch ở phía tây Quốc lộ 1, mục tiêu quan trọng là cứ điểm Quang Thạnh thuộc xã Kim Sơn (nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi), do Tiểu đoàn 3, Lữ đoàn “Rồng Xanh” và 1 đại đội bộ binh thuộc sư đoàn “Mãnh Hổ” Nam Triều Tiên đóng giữ. Cứ điểm được xây dựng trên đồi cao 35m, bao quanh là các lớp hàng rào dây thép gai và nhiều bãi mìn. Bên trong chia làm 3 khu phòng ngự (1, 2, 3) với 3 tuyến chiến hào. Trên đỉnh đồi địch xây dựng hai lô cốt lớn, có thể quan sát và khống chế được khu vực rộng. Ngoài ra, các cứ điểm Núi Võ, Ông Râu, Bà Rụ và các trận địa pháo binh trong khu vực sẵn sàng chi viện và ứng cứu khi cần thiết. Nghệ thuật chọn mục tiêu, tạo thế trong tác chiến Trung đoàn Bộ binh 1 (gồm 3 Tiểu đoàn 40, 60, 90) thuộc Sư đoàn 2 (Quân khu 5) được giao nhiệm vụ tấn công cứ điểm Quang Thạnh. Sau khi trinh sát nắm địch, Trung đoàn Bộ binh 1 bố trí lực lượng trên 3 hướng. Hướng chủ yếu do Tiểu đoàn 40 đảm nhiệm, đánh từ phía tây đột phá vào khu 1-khu vực phòng ngự chủ yếu của địch. Hướng tiến công thứ yếu do Tiểu đoàn 60 đột phá từ phía tây bắc vào khu 2. Hướng phối hợp do Đại đội 2 (Tiểu đoàn 40) đột phá từ phía nam vào sườn đông khu 1. 3 giờ 30 phút ngày 15-2-1967, hỏa lực của ta đồng loạt bắn vào cứ điểm. Trên hướng tiến công chủ yếu, Tiểu đoàn 40 sau khi đánh chiếm được tuyến hào 1 bị địch tập trung hỏa lực ngăn chặn. Trên hướng tiến công thứ yếu, Tiểu đoàn 60 sau khi mở thông cửa mở đã nhanh chóng phát triển tiến công vào chiếm tuyến 2 nhưng bị địch phản kích. Ở hướng phối hợp, sau khi mở xong cửa mở, Đại đội 2 (Tiểu đoàn 40) tổ chức 4 đợt xung phong nhưng không thành. Cả 3 hướng tiến công của ta đều bị địch ngăn chặn quyết liệt không phát triển được. Trước tình hình đó, chỉ huy trung đoàn quyết định đưa một đại đội dự bị của Tiểu đoàn 90 vào tăng cường cho hướng tiến công chủ yếu; đưa toàn bộ lực lượng dự bị còn lại của Tiểu đoàn 90 vào tham gia chiến đấu, mở thêm một hướng tiến công mới từ phía nam đánh vào cứ điểm địch. Trước sức tiến công mãnh liệt của ta trên các hướng, sau một thời gian chống cự, địch rút vào sở chỉ huy ở khu 3 cố thủ. Đến 5 giờ ngày 15-2, quân ta chiếm được hầu hết cứ điểm, nhưng một bộ phận quân địch dựa vào hầm ngầm ẩn náu. Địch dùng pháo binh ở khu vực lân cận bắn phá, gây cho ta một số tổn thất nhất định. Nhận thấy nếu ta cứ kéo dài trận đánh ban ngày sẽ không có lợi, 7 giờ 10 phút ngày 15-2, chỉ huy Trung đoàn Bộ binh 1 quyết định cho rút toàn bộ lực lượng ra ngoài, kết thúc trận đánh. Trận Quang Thạnh tuy chưa giành thắng lợi trọn vẹn nhưng đã đánh dấu bước phát triển về nghệ thuật đánh trận then chốt chiến dịch, trong đó nổi bật là ta chủ động lựa chọn mục tiêu tiến công, bố trí lực lượng tạo thế, mở cửa đánh chiếm đầu cầu, đưa lực lượng dự bị vào chiến đấu, phát triển chiến đấu trong trung tâm phòng ngự của địch, linh hoạt thực hiện tác chiến theo kế hoạch đề ra. Kinh nghiệm của trận Quang Thạnh cũng như các trận đánh khác trong Chiến dịch Bắc Quảng Ngãi tiếp tục được ta vận dụng và phát triển sáng tạo, giành nhiều thắng lợi sau này.

Phản bác quan điểm “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế”.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng đến nay đã chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, trong đó có lĩnh vực kinh tế. Vậy mà gần đây lại xuất hiện quan điểm cho rằng “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế”. Phản biện hay phản bội? Từ lúc chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng, lợi dụng việc góp ý văn kiện, một số người đã “phản biện” quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ nên tập trung lãnh đạo chính trị, không nên lãnh đạo kinh tế”; “Đảng chỉ nên tự khuôn mình trong phạm vi “chính trị”, còn kinh tế là địa hạt của giới kinh doanh”... Hai năm gần đây, do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid-19, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam chững lại, một số người lại đổ lỗi cho “Đảng Cộng sản Việt Nam không biết lãnh đạo kinh tế”, họ lại tiếp tục “phản biện” trên các mạng xã hội, trả lời báo chí nước ngoài rằng: “Đảng không nên “lấn sân” của Quốc hội, Chính phủ trong lĩnh vực kinh tế” và “khuyến nghị”: “Trong lĩnh vực kinh tế, đã có Quốc hội ban hành pháp luật và giám sát tối cao, đã có Chính phủ quản lý điều hành, không cần Đảng lãnh đạo”... Đó là những quan điểm sai lầm, lợi dụng phản biện để phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân. Thực tiễn đã khẳng định kinh tế và chính trị có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, quy định và chế ước lẫn nhau. Trên thế giới hiện nay, không có đảng phái chính trị nào không gắn kết với kinh tế. Lênin đã từng chỉ ra rằng, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, là kinh tế cô đọng lại. Phản bác quan điểm “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế” Kinh tế quyết định chính trị, chính trị phản ánh kinh tế, nhưng chính trị không thụ động trước kinh tế, mà có vai trò tác động trở lại với kinh tế hoặc tích cực, thúc đẩy kinh tế phát triển, nếu là chính trị đúng đắn, sáng suốt; hoặc tiêu cực, kìm hãm sự phát triển kinh tế và xã hội, nếu là chính trị sai lầm. Các đảng lớn của các nước tư bản phát triển đều đưa ra đường lối chính trị, dẫn dắt sự phát triển xã hội theo lý tưởng, mục tiêu đã lựa chọn. Trong đường lối chính trị đó đều có đường lối phát triển kinh tế. Thực tiễn tại Việt Nam trong thế kỷ qua cho thấy, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, trong đó có lĩnh vực kinh tế. Cũng có lúc Đảng ta có sai lầm, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo kinh tế, nhưng trong suốt 92 năm qua, chưa bao giờ Đảng ta xem nhẹ, buông lỏng vấn đề lãnh đạo kinh tế. Nhờ chú trọng lãnh đạo kinh tế, bảo đảm sự đúng đắn và nhất quán về quan điểm chính trị trong lãnh đạo kinh tế mà Đảng ta đã nhanh chóng sửa chữa được khuyết điểm, giải quyết thành công nhiều nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế quan trọng, nhất là hơn 35 năm qua thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. Khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường Để “chứng minh” rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam không nên lãnh đạo kinh tế”, một số người xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta, họ cho rằng “không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)”; “KTTT, các quy luật của KTTT và định hướng XHCN là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; ghép định hướng XHCN vào KTTT là sự gán ghép chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn”... Có lẽ những người nói trên đã không hiểu hoặc cố tình không hiểu bản chất của cơ chế thị trường và những khuyết tật của KTTT. Nguồn gốc và bản chất của KTTT là kinh tế hàng hóa; các phạm trù giá trị, giá cả, hàng hóa, tiền tệ, các quy luật cạnh tranh, quy luật cung-cầu, quy luật giá trị của kinh tế hàng hóa cũng là các phạm trù và quy luật của KTTT. Các phạm trù, quy luật này có trước chủ nghĩa tư bản (CNTB), được CNTB nắm lấy, sử dụng để phát triển thành KTTT tư bản chủ nghĩa. Trải qua thời gian, KTTT tư bản chủ nghĩa cũng có nhiều biến đổi. Thời kỳ đầu khi mới ra đời, KTTT tư bản chủ nghĩa là KTTT tự do cạnh tranh, chưa có sự can thiệp của nhà nước. Sự điều tiết của “bàn tay vô hình” của thị trường đã đưa đến nhiều hệ quả tiêu cực, đặc biệt là các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ, nảy sinh ra nhiều khuyết tật của cơ chế thị trường, đòi hỏi phải có bàn tay quản lý của nhà nước. Ngày nay, nền KTTT hiện đại của các nước tư bản phát triển trên thế giới đều là nền KTTT có sự quản lý của nhà nước, vừa có điều tiết bởi “bàn tay vô hình” của thị trường, vừa có điều tiết bằng “bàn tay hữu hình” của nhà nước; trong đó, điều tiết của thị trường là cơ sở, nền tảng và điều tiết của nhà nước trên cơ sở tôn trọng điều tiết của thị trường (công cụ quản lý, điều tiết kinh tế của nhà nước là luật pháp, chính sách và các nguồn lực kinh tế của nhà nước). Thực tế cho thấy, KTTT có sự quản lý của nhà nước ở các nước trên thế giới không phải hoàn toàn giống nhau, mà có nhiều mô hình khác nhau, tùy thuộc vào mức độ can thiệp và nội dung, định hướng can thiệp của nhà nước. Có mô hình KTTT tự do ở những nước mức độ can thiệp của nhà nước vào kinh tế thấp; nhà nước chỉ bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, tự do kinh doanh, bảo đảm trật tự, ổn định xã hội, còn để phạm vi điều tiết của thị trường lớn, điều tiết mọi hoạt động kinh tế. Có mô hình KTTT xã hội, nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để tạo cơ hội như nhau cho mọi người tham gia phát triển và hưởng thành quả phát triển, chống lại độc quyền, phát triển kinh tế theo định hướng xã hội (như ở Đức). Có mô hình KTTT phúc lợi xã hội, nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để điều tiết thu nhập, phát triển các dịch vụ xã hội công, bảo đảm phúc lợi cho người dân, đặc biệt là những người cần được trợ giúp là trẻ em, người già, người thất nghiệp... (như ở các nước Bắc Âu). Có mô hình KTTT nhà nước phát triển, nhà nước không chỉ tạo thể chế, môi trường cho các chủ thể kinh tế hoạt động, mà còn có chiến lược, chính sách và sử dụng các nguồn lực kinh tế của nhà nước để định hướng và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế (như ở Nhật Bản, Hàn Quốc)... Phát triển KTTT định hướng XHCN là sự lựa chọn đúng đắn và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm hạn chế những khuyết tật của KTTT. Định hướng XHCN của nền KTTT được bảo đảm bởi vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, được thể hiện ở hệ thống pháp luật, chính sách, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để tạo ra môi trường kinh doanh công khai, minh bạch, thuận lợi, tạo động lực phát triển kinh tế nhanh, bền vững; gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế; thể hiện ở quan hệ phân phối để mọi người đều được hưởng thành quả phát triển đất nước. Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, mô hình kinh tế mà chúng ta xây dựng là mô hình KTTT định hướng XHCN. Đây là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã được hiến định trong Hiến pháp, văn bản pháp lý cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp cũng hiến định Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Trong đó có lĩnh vực kinh tế. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng không làm thay các cơ quan Nhà nước. Đảng lãnh đạo kinh tế bằng cách tạo ra bảo đảm chính trị cho hoạt động kinh tế, xác định phương hướng chính trị cho hoạt động kinh tế đúng đắn và lành mạnh . Chăm lo dân sinh, nâng cao dân trí, bảo đảm dân quyền để thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ thực chất của nhân dân là định hướng mục tiêu lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để đạt được mục tiêu đó, Đảng chủ trương “phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm”. Lãnh đạo kinh tế của Đảng đã trở thành mắt xích chủ yếu, quan trọng, thiết thực và quyết định nhất trong toàn bộ đường lối lãnh đạo, trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, kinh tế Việt Nam trong thời gian qua đã vượt qua bao gian nan, thử thách, được cả thế giới ngưỡng mộ, đặc biệt là trong thời kỳ phải đối mặt với đại dịch Covid-19. Ngân hàng Standard Chartered mới đây đã đưa ra dự báo, nền kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi mạnh mẽ trong năm 2022, với tốc độ tăng trưởng 6,7%, tăng trưởng năm 2023 là 7% và Việt Nam tiếp tục có triển vọng tích cực trong trung hạn. Trong bản Cập nhật kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 2, Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh khởi đầu năm 2022, nền kinh tế Việt Nam có nhiều tín hiệu tích cực. Fitch Ratings là một trong những tổ chức có cái nhìn lạc quan nhất về kinh tế Việt Nam với dự báo kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 7,9% trong năm nay và 6,5% vào năm 2023. Báo chí quốc tế trong thời gian gần đây đã có nhiều bài đánh giá tích cực triển vọng kinh tế Việt Nam nhờ chính sách ứng phó linh hoạt với Covid-19, hoạt động sản xuất, kinh tế đang ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ. Chuyên trang tư vấn đầu tư ở châu Á Vietnam Briefing của công ty Dezan Shira nhận định, các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mới mà Việt Nam tham gia sẽ đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ tăng trưởng kinh tế khi Việt Nam mở cửa biên giới, tăng tốc phục hồi. Các FTA không chỉ giúp phát triển kinh tế, mạng lưới sản xuất, mà còn góp phần nâng cao các tiêu chuẩn lao động. Tờ Reuters cũng có bài viết khẳng định: Nhờ các chính sách linh hoạt của Chính phủ Việt Nam, các hoạt động kinh doanh đã được khôi phục, đặc biệt là từ quý IV năm trước, nhờ đó, ngành dệt may Việt Nam đã hạn chế đáng kể sự gián đoạn chuỗi cung ứng, kỳ vọng tăng mạnh xuất khẩu trong năm nay. Thực tiễn đã trả lời rõ ràng cho câu hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam có nên lãnh đạo kinh tế hay không. Thực tiễn cũng đã khẳng định những luận điệu tuyên truyền “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế" là xuyên tạc, kích động. Chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ quan điểm sai trái này.

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc về hòa hợp dân tộc

 

Thứ nhất, hoàn toàn ngộ nhận và sai lầm khi các thế lực thù địch tự nhận mình là “người đại diện” cho “nguyện vọng của đa số” để tuyên truyền, đề xuất về cái gọi là “phương cách hòa hợp”.

Xét ở góc độ luật pháp, “đại diện” là việc một người, một cơ quan, tổ chức nhân danh người, cơ quan, tổ chức khác xác lập, thực hiện hành vi pháp lí trong phạm vi thẩm quyền đại diện. Quyền đại diện được xác lập theo sự ủy quyền, theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật… Trong hiến pháp và pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới, “đại diện” là một trong những chế định quan trọng được ghi nhận. Ví dụ như tại Mục 1, Điều 3 của Hiến pháp Nga: “Nhân dân Nga đa sắc tộc là đại diện cho chủ quyền và là nguồn duy nhất của quyền lực ở Liên bang Nga”(10), hoặc trong Điều 135, Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam, “quyền đại diện” cũng được quy định rõ: “Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện; theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật”(11)… Lấy cơ sở pháp lý làm căn cứ, chúng ta thấy những hoạt động (từ phát ngôn cho đến các hành động cụ thể) của những người trong Việt Tân, Việt Quốc, Khối 8406, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời… chỉ nhân danh cho chính bản thân họ hoặc cho một nhóm người “cùng chung tham vọng”; việc đưa ra các “tuyên ngôn” chẳng qua chỉ là chiêu bài lừa mị những người nhẹ dạ cả tin, những người đã lâu không có điều kiện nắm bắt tình hình trong nước…; các bài viết đăng tải trên Internet của họ chỉ thể hiện quan điểm cá nhân, nhóm người và hoàn toàn không phải là quan điểm đại diện cho nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, những người này không có bất kỳ cơ sở pháp lý nào (sự ủy quyền, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, điều lệ pháp nhân, quy định của pháp luật…) để có thể “đại diện” cho số đông hay “nguyện vọng của đa số”, nhất là khi nguyện vọng của đa số ở đây không phải là mong ước chính đáng, phù hợp của tất cả các tầng lớp nhân dân và các tổ chức chính trị – xã hội Việt Nam, mà chỉ là tham vọng của một nhóm người mang mưu đồ ích kỷ, xấu xa.

Khi đã không có cơ sở pháp lý để “đại diện” cho “nguyện vọng của đa số” thì cái gọi là “phương cách hòa hợp” cũng chỉ là viển vông. Đối với những kẻ không có tư cách đại diện, lại thường xuyên sử dụng các hành động khủng bố thì dĩ nhiên các “phương cách hòa hợp” chỉ đơn thuần là một cách diễn đạt nhằm đánh tráo khái niệm, và mục đích chính là nhằm lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, cuối cùng là đòi đa nguyên đa đảng tại Việt Nam.

Thứ hai, ấu trĩ và sai lầm khi lợi dụng tính chất dễ dàng tìm kiếm, truy cập của mạng Internet để dẫn lại, chỉnh sửa (edit) các thông tin một cách bừa bãi, không có và không cần nguồn kiểm chứng… nhằm xuyên tạc, phá hoại chính sách hòa hợp dân tộc.

Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện nay, nhất là khi nhân loại đã bước vào kỷ nguyên số thì việc dẫn nguồn, biên tập lại một cách méo mó thông tin sớm muộn cũng sẽ bị phát hiện, tẩy chay. Trong khi đó, chỉ cần lướt qua trên Internet, người ta rất dễ tìm được những thông tin đã được kiểm chứng rõ ràng. Ví dụ như các chương trình “Xuân Quê hương”, “Trại hè dành cho thanh thiếu niên người Việt ở nước ngoài”… mà chúng ta đã và đang tiến hành đã được rất nhiều hãng thông tấn báo chí, các website trên thế giới thừa nhận và đăng tải. Mặt khác, tình trạng tin giả hiện nay cũng đã được hầu hết các tổ chức, quốc gia cảnh báo và bài trừ. Về vấn đề này, xin dẫn lại một khuyến nghị trên Trang tin tức của Tòa thánh Vatican (Vatican News) trong việc cảnh báo những tin giả (fake new) âm mưu chia rẽ sự đoàn kết về tôn giáo (trong đó có Công giáo) ở Việt Nam như sau: “Trong thời đại hiện nay, Internet nói chung và mạng xã hội nói riêng là mảnh đất tốt để chúng ta có thể thực hiện việc loan báo Tin Mừng. Tuy nhiên, nó đồng thời cũng là mảnh đất màu mỡ cho những thông tin “phản – Tin Mừng” phát triển, nhưng lại mạo danh hay núp dưới danh nghĩa của Giáo hội Công giáo. Trong hoàn cảnh ở Việt Nam, điều này vô cùng nguy hiểm!”(12).

Thứ năm, sai lầm khi cho rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn còn cấm đoán và hạn chế các nghiên cứu về văn hóa, văn học miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975 để quy chụp rằng chưa có sự hòa giải, hòa hợp dân tộc.

Thời gian qua, đặc biệt là từ những năm ‘80 của thế kỷ XX trở lại đây, việc nghiên cứu văn hóa, văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 đã có nhiều chuyển biến, cởi mở, “quan điểm chính thức được khẳng định hiện nay là, ủng hộ việc đẩy mạnh nghiên cứu, chọn lọc phổ biến các giá trị đích thực của văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975 trên tinh thần hòa hợp dân tộc để hàn gắn vết thương, đoàn kết mọi người cùng nhìn về một phía, thực hiện hòa hợp dân tộc bằng con đường văn hóa văn nghệ.”(13). Đặc biệt, trong nghiên cứu khoa học chuyên sâu, đã có nhiều luận văn, luận án, chuyên luận lấy văn hóa, văn học đô thị miền Nam (1954-1975) làm đối tượng nghiên cứu, như: Khảo sát sự du nhập của phân tâm học và chủ nghĩa hiện sinh vào văn học đô thị miền Nam trước năm 1975 của Nguyễn Phúc (Luận án Tiến sĩ, 1995); Lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1954–1975 của Trần Hoài Anh (Luận án Tiến sĩ, 2009); Vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết đô thị miền Nam 1954–1975 của Nguyễn Thị Việt Nga (Luận án Tiến sĩ, 2012); Con người và những giá trị văn hóa truyền thống trong văn xuôi đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975 của Nguyễn Thị Thu Trang (Luận án Tiến sĩ, 2008); Đặc điểm tùy bút ở đô thị miền Nam (1954–1975) của Bùi Tiến Sỹ (Luận án Tiến sĩ, năm 2017); Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945-1975 của Nguyễn Bá Thành (Nxb. Đại học Quốc gia, 2016); Những nguồn cảm hứng trong văn học của Huỳnh Như Phương (Nxb. Văn nghệ, 2009); Văn học Sài Gòn 1954-1975: Những chuyện bên lề của Lê Văn Nghĩa (Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2020)… Ngoài ra, nhiều tác phẩm văn – sử – triết học cùng các công trình nghiên cứu có giá trị xuất bản trước 1975 ở miền Nam, nay cũng đã được công nhận và lưu hành… Như vậy, không có cái gọi là “tồn tại những cấm đoán” trong nghiên cứu khoa học về miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975, có chăng, chỉ là sự cố tình dựng chuyện và sự vu khống của các thế lực thù địch.

Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai tốt đẹp là quan điểm hòa hợp, hòa giải nhân văn của bất cứ quốc gia tiến bộ nào trên thế giới. Với tư cách là một quốc gia có độc lập chủ quyền, có luật pháp và có vị thế quan trọng trên chính trường quốc tế, Việt Nam đã và đang làm tốt công tác hòa hợp dân tộc, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Tuy nhiên, hòa hợp không đồng nghĩa với xuyên tạc lịch sử, với vi phạm pháp luật. Chúng ta dang rộng vòng tay chào đón mọi người con Việt Nam từ khắp nơi trên thế giới trở về trong hòa bình, trở về với tâm thế xây dựng đất nước… nhưng chúng ta cũng cương quyết không chào đón, thậm chí phải loại bỏ những kẻ cơ hội, trở về nhằm mục đích chia rẽ, phạm pháp và phá hoại đoàn kết dân tộc./.

Hai quan điểm sai trái về tư tưởng hòa hợp dân tộc

 

Trong quan hệ tôn giáo, thực tiễn cũng đã chứng minh Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo và không có sự mâu thuẫn hoặc xung đột giữa các tôn giáo, tín ngưỡng; các tôn giáo ở Việt Nam luôn được tôn trọng, bình đẳng, không bị phân biệt đối xử và được Nhà nước bảo hộ hoạt động bằng pháp luật; người dân được thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo… Điều này đã được kiểm chứng, thừa nhận bởi nhiều quốc gia, nhiều tổ chức tôn giáo lớn trên thế giới. Trong Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế – Việt Nam 2018 của Đại sứ quán và Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Việt Nam đã khẳng định: “Hiến pháp (của Việt Nam) quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bao gồm cả quyền tự do không theo một tôn giáo nào. (…) Hiến pháp quy định tất cả các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật và nhà nước phải tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Hiến pháp cấm công dân vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” và “Việt Nam là thành viên của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị”(3).

Trong sinh hoạt, vào những ngày lễ lớn của các tôn giáo ở Việt Nam (Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, Hồi giáo…), lãnh đạo Đảng và Nhà nước đều tới thăm, chúc mừng và cùng các tôn giáo hướng tới lẽ sống “tốt đời đẹp đạo”. Đặc biệt, với đặc tính dung hòa sẵn có của đời sống văn hóa Việt Nam, trong hầu hết các lễ hội tôn giáo, ngoài sự hiện diện của tín đồ, còn có rất nhiều người dân, thậm chí là tín đồ của các tôn giáo khác cũng đến xem lễ, tham quan, du lịch, tìm hiểu văn hóa, tín ngưỡng…

Thứ hai, rất ấu trĩ khi cho rằng các chính sách, luật pháp về hòa giải, hòa hợp dân tộc ở Việt Nam hiện nay là “đãi bôi”, “con đường nửa vời”; Đảng và Nhà nước Việt Nam không có thiện chí trong quá trình hòa hợp dân tộc.

Phát huy truyền thống văn hóa dân tộc kết hợp thực hiện lời dạy của Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc: “Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang”(4), Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các chính sách, luật pháp cùng những hành động thiết thực về hòa giải, hòa hợp dân tộc, có thể kể đến Nghị quyết số 36-NQ/TW về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Quy chế miễn thị thực cho người Việt Nam ở nước ngoài, Chỉ thị 45-CT/TW về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới… Đặc biệt, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã được Đảng cụ thể hóa vào các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, như: “đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước”(5), “Hỗ trợ để người Việt Nam ở nước ngoài có địa vị pháp lý vững chắc, phát triển kinh tế và đời sống, hòa nhập xã hội nước sở tại”(6), “Làm tốt công tác bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài và tranh thủ tối đa nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đóng góp phục vụ phát triển đất nước”(7). Các cơ quan chuyên trách về công tác người Việt ở nước ngoài (Ủy ban người Việt ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao) cũng đã làm tốt công tác hòa hợp, hòa giải dân tộc thông qua giúp người Việt Nam ở nước ngoài ổn định cuộc sống, hội nhập vào xã hội sở tại, hướng về Tổ quốc…

Những lý lẽ nêu trên cho thấy: không hề có cái gọi là “đãi bôi” hay “con đường nửa vời” trong việc ban hành các chính sách, luật pháp về hòa giải, hòa hợp dân tộc của Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta luôn tỏ rõ thiện chí trong quá trình hòa hợp dân tộc. Trong đó, việc chủ động chào đón sự trở về của những kiều bào từng làm việc cho chế độ cũ, từng rời bỏ đất nước… là minh chứng tiêu biểu nhất. Trường hợp của nguyên Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ là một ví dụ điển hình. Trở về quê hương sau gần 30 năm xa xứ, ông đã khẳng định: “Đại đoàn kết dân tộc là chính sách đúng đắn của chính phủ Việt Nam, trong đó xem kiều bào ở nước ngoài là một bộ phận của cộng đồng dân tộc Việt Nam”(8). Hoặc như trường hợp của nguyên chuẩn tướng, quyền Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hoà Nguyễn Hữu Hạnh: Từ khi còn nắm giữ quyền lực trong chế độ cũ cho đến lúc qua đời (2019) tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhân sĩ Nguyễn Hữu Hạnh đã có những việc làm thiết thực, trở thành “một tấm gương tiêu biểu của những người Việt Nam chân chính, có tinh thần dân tộc và yêu nước, cho dù chỗ đứng ở đâu, cương vị thế nào vẫn luôn hướng về đất nước và dân tộc”(9).

Không chỉ dang tay đón nhận những người con Việt Nam thiết tha thực tâm trở về với đất mẹ, Đảng và Nhà nước còn có những việc làm thiết thực, nhân văn để giúp đỡ, bảo hộ công dân đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Việc hỗ trợ người bị nạn (bao gồm cộng đồng người Việt) trong cơn bão Katrina năm 2005 ở Mỹ; việc khuyến cáo và có những hành động kịp thời để bảo hộ công dân tránh khỏi những tổn thất về người và của trước những xung đột, biểu tình, đảo chính ở một số nước, khu vực; việc tiến hành đưa người Việt ở nước ngoài trở về Tổ quốc trước đại dịch COVID-19… đã chứng minh cho thiện chí hòa hợp và tinh thần “không ai bị bỏ lại phía sau”.

SAI LẦM CỦA CÁC QUAN ĐIỂM, LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ HÒA HỢP DÂN TỘC

 


Nhìn chung, dù được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng tựu trung, các quan điểm sai trái trên đều nhằm cùng mục đích: cố tình xuyên tạc, bôi nhọ chính sách hòa hợp của Đảng và Nhà nước ta, qua đó hòng kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thay đổi và phá hoại sự ổn định chính trị – xã hội và cuối cùng là đòi đa nguyên đa đảng.

Qua nhận diện các quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc về hòa hợp dân tộc, chúng tôi xin làm rõ các nội dung sau:

Thứ nhất, sai lầm khi cho rằng ở Việt Nam không có hòa hợp dân tộc thực sự

Thực tiễn cho thấy, trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, nhất là từ khi có Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, ở Việt Nam không có sự bất đồng và mâu thuẫn giữa các tộc người với nhau, đặc biệt là giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số.

Chúng ta biết rằng, mâu thuẫn hoặc xung đột tộc người, tôn giáo thường bắt nguồn từ sự khác biệt về hệ tư tưởng, lợi ích (kinh tế) và cả những khác biệt văn hóa… giữa các tộc người, tôn giáo. Tuy nhiên điều này chỉ đúng ở tầm bao quát chung của nhân loại, hoặc đã và đang diễn ra ở một số nước, khu vực trên thế giới. còn ở Việt Nam lại hoàn toàn khác. Trải qua suốt chiều dài lịch sử, Việt Nam cũng đã có những xung đột hoặc cuộc chiến xảy ra (ví dụ như sự chuyển tiếp, thay thế quyền lực giữa các vương triều: Đinh, Lý, Trần, Hồ, Lê…; phân tranh Trịnh – Nguyễn; Đàng Trong – Đàng Ngoài…) nhưng các cuộc chiến, xung đột này (bao gồm những liên minh và đối địch, tạm thời hay lâu dài) không phải là xung đột hoặc chiến tranh mang màu sắc thanh trừng sắc tộc, tôn giáo mà chỉ là các cuộc chiến, xung đột dựa trên quyền lợi thiết thân với tính chất chuyển giao hoặc thôn tính quyền lực, lợi ích được thực hiện bởi các vua, chúa; ở mỗi bên “tham chiến”, đội quân thường là sự tập hợp lực lượng bao gồm những người cùng chung mục đích về lợi ích kinh tế, quyền lợi hay địa vị xã hội… được xuất thân từ nhiều thành phần dân tộc, tầng lớp xã hội khác nhau.

Hiện nay, Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng chung sống lâu đời, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, với hơn 14 triệu người (chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước)(2). Mặc dù người Kinh là dân tộc chiếm đa số, nhưng thực tế cho thấy dưới sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, vai trò và tham gia vào bộ máy chính quyền cũng như những đóng góp vào đời sống xã hội của người dân tộc thiểu số ngày càng được đảm bảo. Đơn cử như trong Quốc hội, số lượng đại biểu Quốc hội người dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã tăng dần theo các khóa: Khóa I: 10,2%, khóa XIII: 15,6%, khóa XIV: 17,3%, khóa XII: 17,7%, khóa XV: 17,84%.

CẢNH GIÁC VỚI CÁI GỌI LÀ "ĐẢNG SỨC SỐNG MỚI VIỆT NAM";

         Như tin đã đưa, 9h ngày 22/5, Công an huyện Mai Sơn (Sơn La) đã phát hiện, bắt giữ Lương Văn Định (tên gọi khác là Lương Long Định), sinh năm 1972, trú tại tiểu khu 12, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La về hành vi tàng trữ trái phép vũ khí. Khi bị bắt, đối tượng mang theo một khẩu súng tự chế, 26 viên đạn, 1 hộp kim loại hình trụ có 4 dây dẫn lõi màu đồng, dao nhọn.

Điều đáng chú ý là khi lục soát hành lý, công an thu giữ thêm 1 lá cờ có ngôi sao vàng ở giữa và 6 ngôi sao xung quanh cùng một số băng rôn có nội dung yêu sách như: "Đảng Cộng sản Việt Nam, Chính phủ và Quốc hội phải 'tự giải tán' giao quyền lực lại cho 'Đảng sức sống mới Việt Nam' vào ngày bầu cử 23/5"; "Đảng sức sống mới Việt Nam' nắm quyền tạm thời để Mỹ cùng các nước phương Tây vào giám sát thành lập 'chính quyền dân chủ đa đảng, đa nguyên”...

Cũng thật nực cười, cứ tưởng đối tượng này "tâm thần" nhưng hóa ra không phải, nó làm thật.

Hiện công an đang tiếp tục điều tra làm rõ hành vi của Định, trong đó có nguồn gốc lá cờ và cái gọi là "Đảng sức sống mới Việt Nam” này đã thành lập và hoạt động chưa, do ai lập ra, ở nước ngoài hay trong nước???

Vì vậy, nhân dân trên cả nước thấy ở đâu có những nhóm người tụ tập, có các loại băng rôn, khẩu hiệu và lá cờ (trong hình gạch chéo bên dưới) đang sinh hoạt, hội họp cần báo ngay cho cơ quan Công an nơi gần nhất để xử lý!
Yêu nước ST.

Kiên quyết giữ vững và bảo vệ ngọn cờ soi đường chỉ lối của Đảng

 

Tổng kết quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng XHCN và xây dựng CNXH, nhất là những thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công bố tác phẩm rất quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”.

Từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới của thời đại, tác phẩm của Tổng Bí thư đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề mới về lý luận và thực tiễn, khẳng định bản chất cách mạng và khoa học trong nhận thức và hành động thực tế xây dựng CNXH ở Việt Nam, làm rõ CNXH là gì và đi lên CNXH bằng cách nào, từ phương châm, hình thức, bước đi phù hợp để hoàn thiện đường lối quan điểm và tổ chức thực hiện, làm sao để vừa theo đúng quy luật chung, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt Nam. Điều đó đòi hỏi xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái phổ biến và tính đặc thù.

Tác phẩm đã làm rõ hơn nội dung và khả năng bỏ qua chủ nghĩa tư bản, kế thừa những thành tựu, giá trị văn minh nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Tác phẩm nhấn mạnh yếu tố bảo đảm xây dựng thành công CNXH là phải có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản chân chính cách mạng dựa trên học thuyết cách mạng, tính khoa học và cách mạng triệt để của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Tác phẩm của Tổng Bí thư có giá trị lý luận căn bản và ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn sâu sắc, toàn diện đưa Việt Nam tiến tới một nước XHCN hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Tác phẩm có sự đóng góp xứng đáng vào kho tàng lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH mà các nước trên thế giới đang hướng tới. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng đặt ra yêu cầu cần thiết phải học tập, quán triệt sâu sắc tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư.

HAIVAN

ĐÀO MINH QUÂN – TÊN TÂM THẦN CHÍNH TRỊ


          Đào Minh Quân là cái tên không quá xa lạ với cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại, bởi cái tổ chức ô hợp “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” và những trò lố, tự huyễn hoặc, mộng tưởng của Đào Minh Quân.

          Đào Minh Quân nguyên là Trung uý nguỵ của chế độ Việt Nam cộng hoà; Năm 1979, Đào Minh Quân vượt biên sang Mỹ, năm 1991 Quân cùng đồng bọn thành lập tổ chức “Tân dân chủ” sau đó đổi thành “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” và tự phong mình là “Thủ tướng”, tự thành lập các ban và phong hàm trong quận đội cho một số đối tượng gia nhập tổ chức. Sau khi thành lập tổ chức, Đào Minh Quân cùng đồng bọn đã dụ dỗ, lôi kéo nhiều người nhẹ dạ, cả tin trong và ngoài nước tham gia. Bọn chúng ra sức xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam; ca ngợi chế độ Việt Nam cộng hòa, đòi xoá bỏ chế độ cộng sản Việt Nam, kêu gọi khôi phục cái gọi là "Nền đệ tam cộng hòa", đưa Đào Minh Quân lên làm "tổng thống". Năm 2017 chúng thành lập các nhóm “Phượng hoàng”, “Mãng xã”, “Biệt động quân”, “Đại Việt” nhằm khủng bố, phá hoại ở trong nước; chúng đã thực hiện vụ ném bom xăng gây cháy kho tạm giữ xe vi phạm của Công an Đồng Nai; đặt bom xăng tại nhà xe và cổng ga đến quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất. Tháng 4 năm 2017, Công an Việt Nam đã khởi tố, bắt tạm giam 15 đối tượng là thành viên của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” về tội “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”; đồng thời tháng 8/2017, Bộ Công an ra quyết định khởi tố bị can, truy nã Đào Minh Quân và tháng 1 năm 2018, đã xác định tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” là tổ chức khủng bố.

          Nói về những trò lố của kẻ tâm thần chính trị Đào Minh Quân, tác giả Lê Xuân Nhuận ở Mỹ có bài viết trên trang sachhiem.net vạch trần bản chất nhố nhăng, bịp bợm của Đào Minh Quân và cái gọi là “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” của hắn. Theo như tác giả thì đó là căn bệnh mà một só người Việt ở Mỹ mắc phải đó là bệnh khao khát làm lãnh tụ, họ mơ được Hoa Kỳ phong ban, làm Thủ tướng một nước Việt Nam tưởng tượng nào đó, nên tự vẽ trên những lá thư mà Hoa Kỳ không cần quan tâm. Họ mặc y phục oai vệ, đeo đủ thứ lon lá, mong lật đổ chính quyền Việt Nam, và có một số người "tưởng thiệt", sẵn sàng chạy theo giấc mơ đó để làm... lon ton. Đúng như luật sư Hoàng Duy Hùng, người Mỹ gốc Việt ở Houston viết “Vì một số người muốn làm thủ tướng, tổng thống” mà bây giờ tại hải ngoại “chính phủ” mọc ra như nấm, tựu trung chỉ vì muốn làm “lãnh tụ” để khoe trên mạng, không cần biết hệ luỵ đến đâu. Họ tính truyền bệnh tâm thần vào người Việt ở trong nước, nên mong bà con hãy tỉnh táo”.

          Đào Minh Quân như vậy để thấy rằng những cái gì mà Quân nói trên mạng chẳng có gì là đáng tin, thế nên cũng đừng ai để ý đến việc Quân nói làm gì. Vì Quân nói có khác gì kẻ tâm thần kể chuyện. Thế nên, chuyện mới đây trên facebook của mình Quân có bài “Lâm Khùng hay Lâm khủng bố” nhằm “Bú fame” khi xuyên tạc về bài viết trên các báo đài trong nước về “6 nguy cơ khủng bố ở Việt Nam”. Mở đầu bài viết Quân đã thể hiện sự ngu dốt của mình khi “chẻ chữ” đối với thông tin “Bộ Công an cho rằng ở Việt Nam chưa có tổ chức khủng bố quốc tế hoạt động nhưng đã phát hiện âm mưu nhằm vào công dân ở nước ngoài hoặc dùng Việt Nam làm nơi ẩn náu”. Đây là nhận định đúng đắn của Bộ Công an trên cơ sở tình hình thực tiễn, theo đó ở Việt nam chưa có tổ chức khủng bố quốc tế hoạt động (như các tổ chức Al-Qaeda, IS, Abu Sayyaf…) nhưng đã phát hiện âm mưu khủng bố nhằm vào công dân ở nước ngoài, điển hình như tổ chức khủng bố “Việt Tân” đã thành lập “Đội sát thủ K9” ở nước ngoài nhằm khủng bố, thủ tiêu những nhà báo gốc Việt đưa tin vạch mặt hoạt động lừa đảo kiều bào của Hoàng Cơ Minh và đồng bọn. Thế nhưng Quân lại dốt nát cho rằng đây là thông tin “có tính diễu cợt và ngốc nghếch”, rồi lu loa đây là “trò hề của Tô Lâm”. Nhưng sâu xa trong bài viết của Quân chính là việc quân tự “nâng bi” tổ chức của mình và nói xấu các tổ chức khủng bố khác là “Việt Tân” và “Triều Đại Việt”. Quân tự huyễn hoặc rằng “Chính phủ” của y là “Chính phủ có chính danh, được Hoa Kỳ và quốc tế nhìn nhận, với những Công hàm do chính Tổng thống và những vị lãnh đạo Liên hiệp Âu Châu gửi đến”, “Chính phủ đã nhận được 10 triệu phiếu của đồng bào Việt Nam trưng cầu dân ý bầu cho Đức Quốc công Tổng thống Đào Minh Quân”. Đúng là thật nực cười với trò “thủ dâm” của Quân khùng. Với bệnh hoang tưởng của Quân, bây giờ cộng đồng người Việt ở hải ngoại đã chán ngấy với Quân, Quân tới đâu đều bị coi như “ghẻ”, các tổ chức và hội đoàn biết Đào Minh Quân chuyên môn lừa gạt để kiếm tiền nên tẩy chay, nên đuổi Quân như đuổi tà.

          Nói chung, chuyện về Đào Minh Quân nhiều vô kể, nhưng có thể tóm lược bằng câu thơ của nữ sĩ Minh Hà “Nhìn con mẹ quá não nề, con ơi con chỉ đóng hề mà thôi”.