Thứ Năm, 7 tháng 7, 2022

Giải quyết mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế ở Việt Nam hiện nay


Trong thời đại Hồ Chí Minh, sự kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng chính là bài học thành công của cách mạng Việt Nam trong các thời kỳ lịch sử.

Thứ nhất, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng để giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế.

Cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kiên định lựa chọn con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng quốc tế. Tinh thần quốc tế trong sáng của Người thể hiện ở sự kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, đoàn kết với nhân dân các nước vì mục tiêu giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột, đoàn kết với nhân loại tiến bộ, vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với nhau. Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hòa bình thế giới”. Qua đó, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.

Thứ hai, kết hợp hài hòa mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế trong đường lối đối ngoại của Việt Nam.

Điều này được thể hiện rõ nhất qua đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đó là “độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại”; “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) đã làm rõ mối quan hệ mật thiết và biện chứng giữa độc lập, tự chủ; đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế. Đại hội XIII đề ra phương châm: “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Đây là phương châm phù hợp với đường lối đối ngoại mà Việt Nam đã đề ra; đồng thời khẳng định giá trị của đối ngoại Việt Nam là “hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”, thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, hội nhập quốc tế, sẵn sàng tham gia đóng góp cho cộng đồng quốc tế cũng như giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu.

Mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế của Việt Nam cũng được thể hiện qua tư duy về lợi ích quốc gia - dân tộc. Kim chỉ nam cho tư duy và hành động của Việt Nam là trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, đồng thời hài hòa với lợi ích của các đối tác, lợi ích chung của khu vực và quốc tế. Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”. Việc “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc” không phải là xem nhẹ chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, càng không phải bỏ qua trách nhiệm quốc tế.

Cần xác định rõ rằng, ngày nay, mọi việc làm vì tiến bộ và phát triển chung của nhân loại đều là đưa nhân loại tiến gần hơn đến chủ nghĩa xã hội. Đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, đồng thời tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, mong muốn là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong quan hệ quốc tế vì độc lập, hòa bình và tiến bộ chính là làm tốt nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Trước sau như một ủng hộ các đảng cộng sản và công nhân, các phong trào tiến bộ xã hội trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung của thời đại; mở rộng quan hệ với các đảng cánh tả, đảng cầm quyền và những đảng khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”.

Trong môi trường quốc tế với sự nổi lên của chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa cường quyền, Đảng ta đã khẳng định Việt Nam không theo chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, hẹp hòi, mà thúc đẩy lợi ích trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Các nguyên tắc này bao gồm: Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; hợp tác bình đẳng và cùng có lợi; giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Đó là những nguyên tắc phổ quát và tiến bộ mà toàn thể nhân loại đang nỗ lực gìn giữ và thực hiện.

Thực tiễn hơn 35 năm đổi mới cho thấy, đường lối đối ngoại nhất quán và những đóng góp chủ động, tích cực của Việt Nam đối với khu vực và quốc tế đã chứng minh tính đúng đắn của sự kết hợp giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Tiến trình hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam trở thành một bộ phận gắn kết với thế giới. Thực tiễn những đóng góp của Việt Nam đã được bạn bè quốc tế ghi nhận, đất nước đạt được vị thế chưa từng có trên trường quốc tế. Từ chỗ bị bao vây cấm vận về kinh tế và cô lập về chính trị - ngoại giao, đến nay, cục diện đối ngoại Việt Nam được mở rộng với quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với gần 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, đã trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới của 15 hiệp định thương mại tự do (FTA) với khoảng 60 đối tác. Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 30 nước, trong đó có tất cả các nước lớn, 17/20 nước thuộc Nhóm 20 nền kinh tế lớn (G-20) và toàn bộ các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Thứ ba, tiếp tục phát huy giá trị chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

Để đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản, bảo đảm sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, cần lưu ý một số vấn đề sau:

Một là, cần nhận thức mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế vô sản một cách khách quan, khoa học để không rơi vào tư duy siêu hình. Một mặt, không rơi vào “chủ nghĩa quốc tế hư vô” mà quên đi một thực tế và cũng là quy luật rằng, giai cấp công nhân, giai cấp lãnh đạo các đảng cộng sản cần phải gánh vác trách nhiệm giải phóng quốc gia - dân tộc của mình và xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa trên đất nước mình. Mặt khác, không rơi vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan, vị kỷ, tuyệt đối hóa lợi ích quốc gia - dân tộc mà quên đi nghĩa vụ quốc tế.

Hai là, cần phân biệt rõ chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Chủ nghĩa quốc tế vô sản nếu được kết hợp với chủ nghĩa dân tộc chân chính sẽ tạo ra sức mạnh thúc đẩy quá trình phát triển của mỗi nước trên thế giới.

Ba là, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan khi đặt lợi ích dân tộc lên trên hết nhưng lại tách rời Đảng Cộng sản Việt Nam với dân tộc, tách rời mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, có những quan điểm cho rằng, lực lượng nào lãnh đạo không quan trọng, miễn là đặt lợi ích dân tộc lên trên hết; không có chủ nghĩa xã hội vẫn có độc lập dân tộc (?!). Đây là quan điểm hết sức sai lầm, phản động và tác động tiêu cực đến việc thực hiện chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.

Bốn là, cần đấu tranh phản bác một số luận điểm xuyên tạc, sai trái rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam vì coi trọng hệ tư tưởng mà “bỏ quên” lợi ích quốc gia, dân tộc trong việc giải quyết một số vấn đề về biên giới lãnh thổ (?!). “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc” dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi luôn là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng ta khi mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới.

Tựu trung, mối quan hệ giữa quốc gia, dân tộc và quốc tế là mối quan hệ không thể tách rời. Do vậy, cần “luôn kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản”. Nếu tinh thần yêu nước không chân chính và tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn đến chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa sô-vanh, biệt lập, kỳ thị chủng tộc hoặc chủ nghĩa bành trướng, bá quyền. Tất cả những khuynh hướng lệch lạc ấy có thể dẫn đến sự suy yếu, rạn vỡ, thậm chí là đổ vỡ của một quốc gia - dân tộc hay một nhà nước đa quốc gia, dân tộc, phá vỡ tình đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chung... Bài học thành công của việc kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại của Đảng ta được thể hiện rõ trong kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Bài học đó cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong kỷ nguyên của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cũng như trong một thế giới đang biến chuyển sâu sắc.

HAIVAN


Biểu hiện của mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế hiện nay


Mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế không đơn giản là mối quan hệ có hai chiều đối lập, mà còn là mối quan hệ mật thiết, biện chứng với nhau, được thể hiện ở các xu hướng:

Một là, xu hướng bành trướng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan nước lớn dẫn đến quá trình quốc tế hóa một cách ép buộc. 

Chủ nghĩa dân tộc cực đoan luôn có xu hướng bành trướng dẫn đến quá trình quốc tế hóa một cách ép buộc, thông qua quá trình xâm lược thuộc địa, xâm lăng về kinh tế, chính trị, văn hóa. Với tư tưởng phân biệt giữa một dân tộc “ưu tú, vĩ đại, khuôn mẫu” với các quốc gia - dân tộc khác “man di, mọi rợ, lạc hậu, cần được khai hóa, đô hộ”, thậm chí phải bị tiêu diệt..., quá trình quốc tế hóa này đã tạo ra một sự liên kết giữa quốc gia một cách không tự nguyện mà chỉ xuất phát từ phía chủ quan của quốc gia bá quyền. Trong lịch sử hiện đại, các nước thực dân, đế quốc với những cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa trên danh nghĩa “khai hóa văn minh” chính là biểu hiện của xu hướng này. Ngược lại với chủ nghĩa đế quốc, quốc tế hóa chủ nghĩa cộng sản về mặt lý thuyết dựa trên cơ sở tự nguyện giữa các quốc gia, dân tộc.

Hiện nay, biểu hiện của xu hướng bành trướng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan là chủ nghĩa sô-vanh, chủ nghĩa bá quyền.

Về chính trị, các nước lớn tìm cách áp đặt luật lệ lên các nước nhỏ, bỏ qua luật pháp quốc tế hoặc tạo ra một luật chơi riêng có lợi cho mình. Các nước lớn ràng buộc các nước nhỏ bằng những hiệp định song phương, can thiệp để thay đổi thể chế, thậm chí nếu cần sẽ xâm phạm chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

Về kinh tế, các nước lớn muốn thông qua “sự lệ thuộc” về kinh tế để áp đặt về chính trị. Trong cuốn “Lời thú tội của một sát thủ kinh tế” (xuất bản năm 2004), John Perkins đã chỉ ra, Mỹ tìm cách xây dựng một đế chế của riêng mình nhằm đưa các nước đang phát triển và kém phát triển vào vòng xoáy nợ nần để đặt ra những yêu cầu về kinh tế, chính trị ràng buộc và có lợi cho Mỹ. Bên cạnh đó, các nước lớn còn có thể tự đặt ra những luật chơi kinh tế chung cho toàn cầu.

Về văn hóa - xã hội, các nước lớn tìm cách áp đặt hệ giá trị, tư tưởng đối với các nước nghèo và đang phát triển nhằm tạo ra một “chuẩn mực chung” cho thế giới. Một khối lượng lớn các sản phẩm văn hóa từ các nước phát triển du nhập vào các nước đang phát triển. Thực tế cho thấy, văn hóa, lối sống của Mỹ và các nước phương Tây đang lan tràn ở nhiều nước.

Hội nhập quốc tế là do sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất, thể hiện mối liên hệ giữa các quốc gia. Rõ ràng, trong quá trình toàn cầu hóa, các nước mạnh với những lợi thế của mình sẽ có ảnh hưởng lớn đến phần còn lại của thế giới, thông qua đó truyền bá các “giá trị” của nước mình và chủ nghĩa tự do nhằm duy trì ưu thế quân sự và thúc đẩy lợi ích kinh tế. Như vậy, có thể thấy, chủ nghĩa quốc tế đang bị lợi dụng nhằm phục vụ cho những mưu tính của chủ nghĩa quốc gia - dân tộc cực đoan.

Tất nhiên, cũng cần nhìn nhận xu hướng này trong tính hai mặt của nó. Đó là khi các nước lớn mở rộng tầm ảnh hưởng của mình trong quá trình toàn cầu hóa, vừa tạo ra thách thức nhưng cũng là cơ hội để các nước đang và kém phát triển có thể tận dụng để vươn lên. Tiếp thu các thành tựu khoa học - công nghệ cũng như các giá trị văn hóa tiên tiến… là một trong những mặt tích cực mà các nước đang và kém phát triển cần nắm bắt trong xu thế khách quan này.

Hai là, chủ nghĩa dân tộc nước nhỏ chống lại xu hướng quốc tế hóa của chủ nghĩa dân tộc cực đoan nước lớn.

Xu hướng này có nguồn gốc từ chủ nghĩa quốc gia - dân tộc nhằm bảo vệ quyền sinh tồn, phát triển như một thực thể chính trị độc lập và chống lại xu hướng “quốc tế hóa” của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Với tư tưởng các dân tộc dù lớn hay nhỏ, dù phát triển hay kém phát triển… đều có quyền bình đẳng, mục tiêu của xu hướng này là bảo vệ lãnh thổ, không gian sinh tồn, bảo vệ tộc người - nòi giống, bảo vệ độc lập, tự do và quyền được phát triển, bảo vệ bản sắc…

Hiện nay, biểu hiện của xu hướng này chính là chống xu hướng toàn cầu hóa dẫn đến chủ nghĩa dân tộc kinh tế. Bởi toàn cầu hóa không chỉ mang lại những tác động tích cực mà còn có cả những tác động tiêu cực. Toàn cầu hóa đang đặt các nước đang và kém phát triển trước những thách thức lớn; làm trầm trọng thêm bất công xã hội, tăng khoảng cách giàu nghèo trong từng nước và giữa các nước với nhau. Chính các mặt tiêu cực này đã khiến chủ nghĩa dân tộc kinh tế ở cả các nước đang và kém phát triển trỗi dậy.

Bên cạnh đó, theo nhiều quan điểm, toàn cầu hóa còn được xem là quá trình phương Tây hóa mà cốt lõi là “Mỹ hóa” về mặt văn hóa, trong đó lối sống phương Tây được truyền bá và thực hiện một cách phổ biến. Điều này khiến các phương thức sống khác cùng với hệ thống các giá trị và hình mẫu văn hóa khác, đặc biệt là bản sắc văn hóa dân tộc, đứng trước nguy cơ bị xói mòn, hòa tan. Điều này tất yếu dẫn đến chủ nghĩa dân tộc văn hóa của các nước nhỏ cần tìm cách bảo vệ bản sắc dân tộc mình trước làn sóng “xâm lăng” của văn hóa phương Tây.

Ba là, xu hướng chủ nghĩa dân tộc nước lớn chống lại xu thế quốc tế.

Thực tế chính trị trong một thế giới toàn cầu hóa cho thấy, một đảng phái hay chính quyền nào đó sẽ nhận được sự tín nhiệm cao của người dân nếu nhận thức đầy đủ, toàn diện vấn đề chủ nghĩa dân tộc trong đường lối, chính sách. Có những quốc gia sử dụng chủ nghĩa dân tộc như một “lá bài” để đạt được lợi ích thông qua hành vi đề cao lợi ích quốc gia, chỉ quan tâm đến quyền lợi của quốc gia, dân tộc mà không quan tâm, thậm chí làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của các quốc gia khác. Từ đó, chối bỏ trách nhiệm và nghĩa vụ đối với cộng đồng quốc tế, không gắn lợi ích dân tộc với quốc tế. Có thể thấy, do đặt lợi ích nước Mỹ lên trên hết, nên chính sách của Tổng thống Mỹ Donald Trump theo đường lối thực dụng, đặc biệt về kinh tế, đã hạn chế quan tâm đến các vấn đề toàn cầu. Do vậy, trong giai đoạn Tổng thống Donald Trump cầm quyền, ông đã có những quyết định rút Mỹ khỏi một số tổ chức quốc tế cũng như các hiệp ước quốc tế, như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc…

Xu hướng này còn biểu hiện ở tư tưởng “phản toàn cầu hóa”, theo đuổi chủ nghĩa bảo hộ. Thực tế, không riêng Mỹ, chủ nghĩa bảo hộ đã trở thành xu hướng trên toàn cầu kể từ năm 2008, khi các quốc gia sử dụng các chính sách mới nhằm hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp nội địa trước sức ép cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau (áp dụng hạn ngạch, nâng thuế nhập khẩu, gia tăng các yêu cầu kỹ thuật…). Theo Tổ chức Cảnh báo thương mại toàn cầu (GTA), thương mại toàn cầu đang nghiêng theo xu hướng bảo hộ. Chỉ số đo lường tác động của chính sách bảo hộ thương mại tại mỗi quốc gia đều dương trong giai đoạn từ năm 2009 tới tháng 8-2018. Con số không ngừng gia tăng cho thấy chủ nghĩa bảo hộ đang lan rộng.

Ngoài ra, xu hướng này còn thể hiện ở tư tưởng bài ngoại, chống nhập cư. Hàng loạt đảng phái, phong trào nổi lên gần đây ở châu Âu cho thấy rõ điều này. Như vậy, chính chủ nghĩa dân tộc cực đoan đã dẫn đến việc không thể giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế. Do vậy, các quốc gia hiện nay cần hướng đến chủ nghĩa dân tộc chân chính thiết lập nên chủ nghĩa quốc tế trên cơ sở của thế giới quan hiện đại: hòa bình, hữu nghị, dựa trên luật lệ, tôn trọng quyền tự quyết, độc lập và hội nhập quốc tế để cùng phát triển. Chủ nghĩa quốc tế dựa trên chủ nghĩa dân tộc chân chính chính là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích của quốc gia trong mối quan hệ với lợi ích của các quốc gia khác trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế; luật pháp quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế mà không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia - dân tộc khác.

HAIVAN

Chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực đoan - hai biểu hiện trái ngược trong quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế

 

Chủ nghĩa dân tộc (nationalism) không phải là một khái niệm mới. Trong lịch sử loài người, chủ nghĩa dân tộc đã manh nha hình thành từ khi các “dân tộc” ra đời. Chủ nghĩa dân tộc có thể được xem xét ở nhiều khía cạnh, như một loại tình cảm dân tộc, một loại hình tư tưởng, một quá trình xây dựng dân tộc, một hành động tập thể…

Chủ nghĩa dân tộc với tư cách là tình cảm dân tộc, là tình cảm trung thành, tình yêu, sự gắn bó với dân tộc mình. Tình cảm này được hình thành nhờ những yếu tố chung như nguồn gốc và đặc điểm nhân chủng, lịch sử chung, cùng khu vực cư trú, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo… Đó là những yếu tố khiến các cá nhân cảm thấy giống nhau, gắn bó với nhau trong cộng đồng. Tình cảm dân tộc có thể được nhận thấy thông qua quá trình cố kết dân tộc và quốc gia thành những cộng đồng khác nhau, thông qua những mối quan hệ khác nhau giữa người cùng dân tộc với người khác dân tộc và thông qua bản sắc dân tộc.

Chủ nghĩa dân tộc với tư cách là một loại hình tư tưởng (một hệ tư tưởng hay ý thức hệ), đó là những tư tưởng về quyền tự quyết, quyền tự trị, quyền bảo vệ bản sắc và các giá trị riêng của mỗi dân tộc. Trên phương diện quan hệ quốc tế, tư tưởng dân tộc được phản ánh trong tư tưởng lập quốc hay khẳng định chủ quyền quốc gia, trong sự bảo đảm và phát triển lợi ích quốc gia. Theo Từ điển Bách khoa của Viện Từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam, chủ nghĩa dân tộc là “hệ tư tưởng chính trị và biểu hiện tâm lý đòi hỏi quyền lợi độc lập, tự chủ và phát triển của cộng đồng quốc gia dân tộc”.

Chủ nghĩa dân tộc với biểu hiện là một phong trào chính trị: John Breuilly - giáo sư về chủ nghĩa dân tộc và dân tộc tại Trường Kinh tế London (Anh) - cho rằng: “Chủ nghĩa dân tộc là phong trào chính trị nhằm hướng đến hoặc thực hiện quyền lực nhà nước và biện minh cho các hành động như vậy với các lý lẽ mang tính dân tộc chủ nghĩa”. Theo ông, các lý lẽ mang tính dân tộc chủ nghĩa là học thuyết chính trị dựa trên ba khẳng định cơ bản: Một là, sự tồn tại của dân tộc với đặc điểm rõ ràng và đặc biệt; hai là, các quyền lợi và giá trị của dân tộc này được ưu tiên so với các quyền lợi và giá trị khác; ba là, dân tộc phải độc lập, điều này đòi hỏi ít nhất phải đạt được chủ quyền về chính trị.

Theo nghĩa này, chủ nghĩa dân tộc còn là quá trình xây dựng hoặc tham gia các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Đó có thể là quá trình thống nhất quốc gia gắn liền với tên tuổi của các nhân vật lịch sử; hoặc quá trình tái thống nhất đất nước sau chiến tranh; hay các phong trào giành độc lập của các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân.

Chủ nghĩa dân tộc với đặc điểm là một hiện tượng văn hóa - xã hội, là sự tích hợp của những thần thoại và biểu tượng truyền thống. Dưới góc nhìn văn hóa, Anthony D. Smith - nhà xã hội học lịch sử người Anh - nhận xét, chủ nghĩa dân tộc là loại hình của văn hóa, gồm tư tưởng, ngôn ngữ, huyền thoại, biểu tượng, ý thức trong sự tương liên với toàn cầu. Ở khía cạnh này, S. Kramer khẳng định, mặc dù chủ nghĩa dân tộc có nguồn gốc từ các cuộc cách mạng chính trị nhưng nền tảng cơ bản vẫn là văn hóa. Ông lập luận rằng, chủ nghĩa dân tộc với ý tưởng là các quốc gia nên đại diện cho các dân tộc thống nhất về văn hóa; và chủ nghĩa dân tộc là một lực lượng văn hóa nói lên khát vọng sâu sắc của con người nhằm kết nối với bên ngoài.

Trên cơ sở nghiên cứu các định nghĩa của các học giả trong nước và quốc tế về chủ nghĩa dân tộc, có thể nhận định, chủ nghĩa dân tộc (nationalism) là một thứ tình cảm, một loại hình tư tưởng, một phong trào thực tiễn hay một hiện tượng văn hóa liên quan đến sự sinh tồn, phát triển và quyền lợi của dân tộc, được tạo ra trên cơ sở tình yêu, lòng trung thành và sự quan tâm sâu sắc của các thành viên đối với lợi ích dân tộc mình.

Một khái niệm liên quan đến chủ nghĩa dân tộc là Chủ nghĩa quốc tế (internationalism). Khái niệm này để chỉ mối quan hệ giữa các quốc gia - dân tộc. Chủ nghĩa quốc tế ra đời khi chủ nghĩa tư bản hình thành, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hóa cao theo xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa. Chính nền sản xuất đại công nghiệp đã tạo ra một nền sản xuất, trao đổi và tiêu dùng mang tính quy mô toàn cầu. Điều này phá bỏ mọi hàng rào ngăn cách giữa các quốc gia, tạo nên một thị trường thế giới thống nhất, khiến các quốc gia phụ thuộc lẫn nhau, thúc đẩy sự liên kết. Bên cạnh đó, sự hợp tác giữa các quốc gia còn xuất phát từ những vấn đề mà từng quốc gia, dân tộc riêng lẻ không thể tự giải quyết được, đòi hỏi sự chung tay của cộng đồng quốc tế, như bảo vệ môi trường, xóa đói, giảm nghèo, chống bất bình đẳng giới…

Biểu hiện cho mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế được thể hiện qua hai dạng thức của chủ nghĩa dân tộc, đó là chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Chủ nghĩa dân tộc chân chính xuất phát từ tình cảm, lòng trung thành đối với đất nước nhưng không vì thế mà xem dân tộc mình ưu việt hơn dân tộc khác, do đó chủ nghĩa dân tộc chân chính biểu hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc chân chính là nền tảng, động lực cho tự do, độc lập, quyền tự quyết và phẩm giá của các dân tộc trước những áp bức, thống trị và bất công; là cơ sở để xây dựng mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc.  

Trong khi đó, chủ nghĩa dân tộc cực đoan “là xu hướng tư tưởng tuyệt đối hóa giá trị dân tộc mình, đặt dân tộc mình ở vị trí cao nhất trong toàn bộ hệ thống giá trị, đi đến chỗ khoa trương, bài ngoại, tự phụ, coi dân tộc mình cao hơn tất cả và gây thiệt hại cho dân tộc khác”. Chính vì thế, chủ nghĩa dân tộc cực đoan dễ dẫn đến xu hướng biệt lập, cục bộ, vị kỷ, chống lại xu hướng hợp tác, liên kết và hội nhập quốc tế, thậm chí có thể thúc đẩy xu hướng chiến tranh, xâm lược. Do đó, nó làm cản trở sự giao thoa và hợp tác quốc tế, làm suy giảm lòng tin chiến lược giữa các quốc gia.

HAIVAN

Đích đến cuối cùng của cuộc đấu tranh “sinh - tử” với giặc nội xâm

Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị toàn quốc tổng kết chặng đường 10 năm đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vừa qua đã phát đi nhiều thông điệp quan trọng, vốn được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân mong đợi.

VỤ VIỆT Á ,VÀI SUY NGẪM

 

Vụ đại án Việt Á đang từ từ khép lại. Tôi tự suy ngẫm và nhận ra rằng đây là một vụ án đau buồn với 5 điều nhất.

1. Số quan chức dính án đông nhất.

2. Quy mô và phạm vi vụ án rộng nhất.

3. Số tiền móc túi của dân nhiều nhất.

4. Thời gian hành dân dài nhất.

5. Ngành Y Tế mất niềm tin của dân nặng nhất.

    Cũng như một cái ung nhọt lâu ngày. Nay phải giải phẫu dẫu đau buồn. Nhưng thà kết thúc bằng một nỗi đau còn hơn kéo dài nỗi đau mà không biết khi nào mới kết thúc.

BẠN - THÙ; ĐỐI TƯỢNG - ĐỐI TÁC

 

Khi đất nước bắt đầu công cuộc đổi mới cuối những năm 1990, chúng ta tuyên bố với thế giới "Việt Nam mong muốn là bạn của tất cả các nước, là thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế". Nhưng suốt nhiều năm, chúng ta quan niệm rằng một quốc gia là bạn khi họ hoàn toàn đứng về phía mình, ngược lại tức là thù. Tư duy này vào năm 2000 cơ bản đã lỗi thời, lý do quan trọng nhất là bức màn sắt đã bị gỡ bỏ, thế cục hai phe trên thế giới không còn nữa.

CÁI GIÁ ĐÃ TRẢ CHO SỰ ĐỘC LẬP VÀ ĐI TÌM CÂU HỎI: "HỌC SỬ ĐỂ LÀM GÌ"

 

“Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết”.

Đó là câu trả lời của Liệt sĩ Đỗ Sĩ Họa khi quân Trung Quốc kêu gọi đầu hàng trong cuộc chiến Biên giới 1979. Và... đó cũng là câu trả lời của dân tộc Việt Nam trong suốt 4.000 năm qua. Chưa bao giờ chúng ta chịu quỳ gối chấp nhận làm kiếp nô lệ. Thủ tướng Anh Winston Churchill có một câu nói nổi tiếng thế này: "Một đất nước né tránh chiến tranh bằng cách chịu nhục, thì dân tộc đó sẽ phải lãnh đủ cả hai thứ: chiến tranh và sự nhục nhã". Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ Tịch Hồ Chí Minh khẳng định: ''...Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ...'' Đáng tiếc, những kẻ thù của chúng ta chưa bao giờ hiểu được cái gọi là: ''Ý chí và sức mạnh của cả một dân tộc''.

CÔNG TÁC ĐẤU TRANH CHỐNG “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG CỦA CÁC ĐƠN VỊ QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

 

Như chúng ta đã biết, “Diễn biến hoà bình” là chiến lược của Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, được thực hiện bằng cách không sử dụng vũ trang mà dùng chiến tranh tâm lý để tiến hành chống phá, đi đến lật đổ Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Ngày nay, khi công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, số người Việt Nam sử dụng điện thoại thông minh để truy cập trang mạng xã hội chiếm đa số là điều kiện hết sức thuận lợi cho Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “Diễn biến hoà bình”. Do vậy, việc đấu tranh chống “Diễn biến hoà bình” trên các trang mạng xã hội là vấn đề cần được hết sức quan tâm và coi trọng, nhất là trong các đơn vị quân đội hiện nay.

ĐÍCH ĐẾN CUỐI CÙNG CỦA CUỘC ĐẤU TRANH "SINH - T.Ử" VỚI GIẶC NỘI XÂM

 

Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị toàn quốc tổng kết chặng đường 10 năm đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vừa qua đã phát đi nhiều thông điệp quan trọng, vốn được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân mong đợi.

Trước hết đó là cam kết chính trị của Đảng, Nhà nước sẽ tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng với quyết tâm cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn, quyết liệt và bài bản hơn, không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, mặc dù phía trước còn rất nhiều khó khăn, thách thức.


Từ thực tế, hiện đang xảy ra câu chuyện thiếu thuốc trong các bệnh viện do không dám tổ chức đấu thầu; tình trạng ách tắc hàng nghìn hồ sơ đất đai từ đầu năm đến nay tại TP.HCM và nhiều tỉnh, thành phía Nam.


Lý do, cơ quan thuế cho rằng giá khai thuế thấp hơn so với giá giao dịch thông thường, yêu cầu người dân, doanh nghiệp phải giải trình, cam kết kê khai đúng giao dịch thực tế hoặc điều chỉnh giá trên hợp đồng công chứng và hồ sơ nộp thuế... Điều này cho thấy trong cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ giữ cương vị lãnh đạo, quản lý đang xuất hiện tâm lý làm việc “cầm chừng”, “né tránh”, “sợ sai”, “sợ trách nhiệm”…


Virus “trì trệ” cũng tác hại không kém gì tham nhũng. Nhưng không vì thế mà cuộc chiến chống “giặc nội xâm” chùng xuống; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng chỉ làm “chùn bước” những ai có động cơ không trong sáng, đã trót “nhúng chàm” và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu bản lĩnh, thiếu kiến thức, kinh nghiệm.


Tổng Bí thư đã khẳng định rõ: Những ai nhụt chí, không dám làm thì dẹp sang một bên để người khác làm. Việc Trung ương quyết định lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh là tiếng còi tiếp tục thúc đẩy sự chuyển động của cả hệ thống chính trị, nhằm tạo chuyển biến rõ nét hơn nữa trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương, cơ sở.


Cùng với đó là quyết tâm đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, đảm bảo thật sự dân chủ, công khai, minh bạch, chống chạy chức, chạy quyền để lựa chọn được đúng người, nhất là người đứng đầu đủ năng lực, uy tín, bản lĩnh “liêm”, “sạch”.


Xét đến cùng, cơ quan, tổ chức mất sức chiến đấu, không dám phê bình, nên các tín hiệu cảnh báo không được kích hoạt, cán bộ vi phạm cứ thế “trượt dài”, rồi vi phạm nhỏ tích tụ lâu thành sai phạm lớn, sai phạm của cá nhân thành sai phạm của tập thể, thậm chí lan ra cả hệ thống, có nguyên nhân quan trọng do người đứng đầu thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý, độc đoán chuyên quyền.


Thực tế vừa qua cho thấy, đằng sau những vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực, nhất là những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, kéo dài đều có sự dung túng, tiếp tay, bao che, thậm chí là đồng phạm của cán bộ, công chức.


Vì làm tốt công tác cán bộ để chọn đúng người, giao đúng việc, thường xuyên kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn có ý nghĩa quyết định đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kiên quyết không bố trí vào cơ quan lãnh đạo các cấp những người có biểu hiện tham nhũng, tiêu cực.


Nếu đâu đó còn câu chuyện "Chân mình còn lấm bê bê, Lại cầm bó đuốc đi rê chân người" thì câu trả lời cho kết quả phòng, chống tham nhũng có lẽ ai cũng biết.


Và trên hết, đó là thông điệp của niềm tin. Hàng nghìn vụ án, bị cáo phạm tội tham nhũng bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, hàng trăm cán bộ cấp cao bị xử lý, hàng nghìn tỷ đồng tham nhũng được thu hồi,… nhưng thành công lớn nhất trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua là niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ được tăng cường.


Con số 93% người dân được hỏi bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là động lực lớn để các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng tiêu cực yên tâm thực thi nhiệm vụ.


Niềm tin của nhân dân là thước đo hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Sức mạnh của nhân dân là vô địch, mất niềm tin của dân là mất tất cả. Tăng cường và củng cố hơn nữa niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ là sứ mệnh thiêng liêng và là đích đến cuối cùng của cuộc đấu tranh “sinh - t.ử” với g.i.ặ.c n.ộ.i x.â.m.

HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN LÀ MỤC TIÊU PHẤN ĐẤU CỦA ĐẢNG TA

 

Hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu phấn đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi thành lập, Đảng luôn hết lòng, hết sức phụng sự nhân dân. Hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao. Trong thời gian tới, cần tích cực hiện thực hóa mục tiêu mang lại hạnh phúc cho nhân dân theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.


HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN LÀ GÌ?


Ngày 20/6/2012, với sự nhất trí của 193/193 quốc gia, Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc lấy ngày 20/3 hằng năm là Ngày Quốc tế Hạnh phúc nhằm tôn vinh, phát triển và nâng cao giá trị hạnh phúc trên toàn cầu. Theo đó, Ngày Hạnh phúc không chỉ là ngày mang ý nghĩa biểu trưng mà là ngày của hành động tích cực, nỗ lực nhiều hơn để đem lại hạnh phúc cho con người. Tại Hội nghị cao cấp của Liên Hợp Quốc về Hạnh phúc ngày 2/4/2012, Liên Hợp Quốc khuyến cáo coi hạnh phúc là thước đo tiến bộ, công bằng xã hội và là mục tiêu của chính sách công, với mức độ hài lòng của người dân về các chỉ báo cơ bản như thu nhập bình quân theo đầu người, hỗ trợ xã hội, tự do lựa chọn cuộc sống, sự rộng lượng, vị tha của các thành viên; sức khỏe cộng đồng, thái độ và phản ứng tích cực xã hội, tính đa dạng và sự cởi mở của văn hóa, sự đa dạng và biến đổi tích cực của môi trường sinh thái…


Các nghiên cứu về hạnh phúc được tiếp cận từ nhiều hướng khác nhau theo các cặp quan hệ tương tác như lịch sử - văn hóa, kinh tế - xã hội, cá nhân - gia đình, con người - xã hội và có hàng trăm định nghĩa về hạnh phúc nhưng đều có điểm chung là “một xã hội sẽ được đánh giá tốt đẹp khi đem lại hạnh phúc cho nhiều người”(1). Theo đó, hạnh phúc được đo lường qua các chỉ báo như mức độ hài lòng về kinh tế - vật chất; môi trường tự nhiên - xã hội; mức độ hài lòng về quan hệ gia đình - xã hội; về đời sống cá nhân - cộng đồng.


Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh - người chiến sĩ cộng sản vĩ đại, hạnh phúc là dâng hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó”(2). Người hy sinh hạnh phúc cá nhân để đi tìm hạnh phúc cho mọi người dân Việt Nam. Khi dân tộc hạnh phúc thì Người hạnh phúc.


HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN LÀ MỤC TIÊU PHẤN ĐẤU


Tư tưởng "Lấy dân làm gốc" - nguồn gốc của mọi thành công, từ bao đời nay là quan điểm trị quốc chủ đạo nghìn đời của cha ông ta. Kế thừa tư tưởng đó và thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, trong tư tưởng chỉ đạo cũng như trong thực tiễn hành động, trong toàn bộ quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước, bài học “lấy dân làm gốc”được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa, khẳng định vừa là nền tảng, vừa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, Người luôn luôn đề cao vai trò làm chủ của nhân dân, quyền lực của dân, luôn tin vào khả năng và sức mạnh của dân, rằng còn dân là còn nước, được lòng dân là được tất cả.


Trải qua thực tiễn cách mạng, Đảng ta đã hun đúc nên truyền thống gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, lấy phục vụ nhân dân làm mục tiêu, động lực phấn đấu. Ngay trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, khi mới được thành lập Đảng đã đề ra mục tiêu: “A. Về phương diện xã hội thì: a) Dân chúng được tự do tổ chức; b) Nam nữ bình quyền .vv..; c) Phổ thông giáo dục theo công nông hóa. B. Về phương diện chính trị: a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. b) Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập. c) Dựng ra Chính phủ công nông binh. d) Tổ chức ra quân đội công nông”(3).


Rõ ràng, mục tiêu của Đảng luôn gắn liền với nguyện vọng tự do, độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Mở đầu Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ vào năm 1776 “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”(4).


Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó chỉ rõ, Chính phủ phải bằng những biện pháp, hành động quyết liệt thực hiện tốt chính sách diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm; giữ vững chính quyền và tổ chức kháng chiến, kiến quốc thành công mang lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Bởi “Nếu nước nhà độc lập rồi mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói. Người quan niệm hạnh phúc của nhân dân phải luôn gắn với độc lập dân tộc và ngược lại, đây là 2 phạm trù có mối quan hệ biện chứng với nhau.


Với sự nỗ lực của Đảng, sự hưởng ứng tích cực của quần chúng nhân dân, hạnh phúc ấm no của nhân dân ngày càng được hoàn thiện. Kể từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy hạnh phúc của Nhân dân là mục tiêu phấn đấu cao cả và xuyên suốt các nhiệm kỳ Đại hội Đảng, mọi chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đều hướng tới hiện thực hóa mục tiêu đó.


Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định “quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền lợi và lợi ích chính đáng của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(5). Để hướng tới bảo đảm hạnh phúc cho nhân dân, Đại hội XIII xác định “Thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân”(6) trên cơ sở tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc; xây dựng các cơ chế, chính sách, phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam; phát huy tối đa nhân tố con người - coi con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển.


Phát biểu tại phiên bế mạc Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tiếp tục nhấn mạnh, không phải Đại hội xong là coi như xong. Đây chỉ là mở đầu, làm được hay không, có biến Nghị quyết Đại hội thành hiện thực sinh động hay không, có làm ra của cải vật chất, mang lại “giàu có và hạnh phúc” cho nhân dân hay không mới là thành công thực tế của Đại hội.


Theo đó, hạnh phúc của nhân dân chỉ có thể được thực hiện một cách thực chất khi Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát sự phân hóa giàu nghèo, kiểm soát và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Bảo đảm phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân để “không ai bị bỏ lại phía sau”. Thực hiện cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ - bền vững. Triển khai, thực hiện chính sách giảm nghèo, tập trung giải quyết nhóm nghèo, vùng nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, miền, dân tộc đây là cơ sở vững chắc nhất bảo đảm hạnh phúc cho nhân dân.


Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu tổng quát: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(7). Đồng thời, tại Đại hội XIII của Đảng đã xác định: Đến năm 2025, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030 phấn đấu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao.


Để công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì hạnh phúc của nhân dân đạt kết quả tốt, cần không ngừng chú trọng, thực hiện chất lượng, hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp sau:


Một là, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phải làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh toàn diện. Kiên định, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Đảng phải lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu, động lực để phấn đấu trên cơ sở tăng cường khối đại đoàn kết, gắn bó chặt chẽ giữa Đảng với nhân dân, đề cao lợi ích của nhân dân bảo đảm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


Hai là, quán triệt sâu sắc và thực hiện quan điểm “dân là gốc”, thực sự vì hạnh phúc của nhân dân; tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm; mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; thắt chặt mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân; củng cố và ang cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, vì chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm hạnh phúc lâu dài cho nhân dân.


Ba là, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, cần có quyết tâm cao, nỗ lực lớn, năng động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhằm phát huy mọi nguồn lực, tính ưu việt của chế độ và sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân.


Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ. Kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.


Năm là, phát huy tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và hệ thống chính trị giữ vững kỷ cương; bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội; coi trọng nhân tố con người, luôn coi hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu, động lực phấn đấu của Đảng… Cụ thể hóa và triển khai thực hiện chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ “6 dám”: dám nghĩ, dám làm, dám nói, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá, sáng tạo và dám đương đầu theo Kết luận số 14-KL/TW Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.


Lý luận và thực tiễn đều cho thấy công cuộc cách mạng xây dựng xã hội chủ nghĩa, đất nước Độc lập – Tự do – Hạnh phúc của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sự nghiệp sáng tạo và vĩ đại. Và hơn 90 năm qua, Đảng luôn lấy ấm no, hạnh phúc của nhân dân là thước đo giá trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, không gắn bó với nhân dân và không thật sự chăm lo cho ấm no, hạnh phúc của nhân dân thì Đảng không còn lý do để tồn tại. Đó là sự nhất quán trong tư tưởng và hành động của Đảng ta, trong suy nghĩ và việc làm của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đó cũng là cội nguồn làm nên sức sống, sự trường tồn của Đảng Cộng sản Việt Nam, khi ý Đảng – lòng dân luôn hòa quyện và trở thành sức mạnh vô địch đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn nhằm chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân.


Mục tiêu cao cả tối thượng của Đảng Cộng sản Việt Nam là vì Hạnh phúc của nhân dân. Do vậy, mỗi cán bộ đảng viên cần tuyệt đối trung thành với con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn, thực hiện trọn vẹn 4 nhiệm vụ của người đảng viên đã thề khi đứng dưới lá cờ Đảng, cần không ngừng học tập, rèn luyện để có “đôi chân vững và đôi bàn tay sạch” đúng như lời Tổng Bí thư căn dặn. Bảo vệ Đảng là bảo vệ chính mình, nhất là trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản tại Việt Nam. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần cách mạng, rèn đức luyện tài, trở thành người cán bộ vừa hồng, vừa chuyên, không ngừng rèn luyện đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy.


Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: Chúng ta - những người chiến sĩ cách mạng sẽ vì danh dự của Đảng Cộng sản Việt Nam, danh dự của người đảng viên mà sống, chiến đấu, học tập, lao động vì sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, vì mục tiêu cao cả nhất, nhân văn nhất mà Đảng ta đã lựa chọn đó là: Mang lại Hạnh phúc cho nhân dân.

Tuân thủ kỷ cương, thượng tôn pháp luật

 

Trong một lần trò chuyện với lãnh đạo Tổng công ty (TCT) Tân cảng Sài Gòn, khi đề cập đến những thành công nổi bật của doanh nghiệp này trên cả 3 trụ cột: Khai thác cảng, dịch vụ logistics, vận tải biển và ngành kinh tế biển, chúng tôi được nghe các anh chia sẻ: “Chính sự đổi mới, sáng tạo và tinh thần tuân thủ kỷ cương, thượng tôn pháp luật là một trong những nhân tố quan trọng góp phần giúp Tân cảng Sài Gòn ngày càng lớn mạnh, khẳng định vị thế, thương hiệu của Bộ đội Cụ Hồ trên mặt trận kinh tế, thực hiện thắng lợi mục tiêu kết hợp kinh tế với quốc phòng”.

Cũng với bí quyết kinh doanh chân chính và tinh thần thượng tôn pháp luật, Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội (Viettel), TCT Trực thăng Việt Nam-Binh đoàn 18, TCT 28 (Tổng cục Hậu cần), TCT Sông Thu (Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng)... và nhiều doanh nghiệp quân đội (DNQĐ) đã ghi dấu ấn thành công không chỉ trong nước mà cả trên thương trường quốc tế... Thành công ấy là sự tổng hòa nhiều yếu tố, trong đó có sự tôi rèn từ môi trường quân ngũ, thẩm thấu tính kỷ luật và tinh thần thượng tôn pháp luật. Minh chứng cho điều này, chúng tôi nhớ câu chuyện của Thượng tá Hồ Huỳnh Thanh Hằng, Phó giám đốc Trung tâm Dịch vụ Logistics (TCT Tân cảng Sài Gòn), nói về cách giữ chữ tín và ý thức tuân thủ kỷ cương, thượng tôn pháp luật của DNQĐ. Chị kể rằng, trên thương trường, việc giữ chữ tín hết sức quan trọng. Đó là cơ sở để duy trì hợp tác bền vững, lâu dài với đối tác, khách hàng. Chính vì vậy, những người lính làm kinh tế luôn ý thức rõ trách nhiệm gìn giữ, tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, luôn có ý thức kỷ luật, tôn trọng kỷ cương, quyết tâm đổi mới, sáng tạo để sản xuất, kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh, xây dựng thương hiệu bằng chính ý chí, khả năng và sự nỗ lực vượt bậc.

Mặt khác, hoạt động của các DNQĐ không chỉ thực hiện nhiệm vụ kinh tế đơn thuần mà luôn gắn phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm an sinh xã hội, xây dựng thế trận quốc phòng và địa bàn an toàn, vững chắc. Gắn kinh tế với quốc phòng vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu đòi hỏi DNQĐ phải xác định rõ trách nhiệm với công việc của mình và luôn tôn trọng kỷ luật, pháp luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Với ý chí, nghị lực và những phẩm chất đặc trưng đã được đúc kết thành truyền thống tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, doanh nhân mặc áo lính luôn tự tin vượt khó, chấp nhận thử thách, khẳng định bản lĩnh, thương hiệu. Đó là thành quả của sự tôi rèn trong môi trường đặc thù kỷ luật sắt, tự giác, nghiêm minh.

Kỷ luật nghiêm, thượng tôn pháp luật là một trong những đặc trưng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, được nêu rõ trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021: “Kỷ luật tự giác, nghiêm minh; gương mẫu chấp hành pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ, quy định của quân đội”.

Kỷ luật là sức mạnh của quân đội, là nét đẹp mang đặc trưng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”. Kỷ luật trong quân đội được thể hiện ở ý thức, hành động của toàn thể quân nhân trong thực hiện mọi nhiệm vụ, mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh. “Thương trường là chiến trường”, những người lính trên mặt trận kinh tế càng phải thấu triệt tinh thần kỷ luật sắt và chấp hành nghiêm kỷ luật để bảo đảm thống nhất, trên dưới đồng lòng, ngăn ngừa những biểu hiện, hành vi tiêu cực, đoàn kết giành thắng lợi trên mặt trận không tiếng súng nhưng đầy thử thách, cám dỗ. Bởi vậy, vấn đề kỷ luật trong quân đội nói chung và đối với doanh nhân mặc áo lính nói riêng là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu, là sức mạnh nền tảng làm nên mọi thành công trong thực hiện nhiệm vụ. Kỷ luật khi đã thấm sâu vào nhận thức, tình cảm của mọi quân nhân sẽ hướng dẫn hành động của họ và trở thành sức mạnh vật chất giúp đội ngũ doanh nhân-chiến sĩ vượt qua khó khăn, trở ngại để khẳng định bản lĩnh, thương hiệu trên thương trường.

Pháp luật tạo hành lang pháp lý để doanh nghiệp hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, phát triển bền vững gắn với thượng tôn pháp luật. Thực tế cho thấy, nhiều DNQĐ không chỉ thúc đẩy hoạt động kinh doanh nhằm tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận mà còn luôn tuân thủ pháp luật, kết hợp với thực hiện các mục tiêu xã hội và bảo vệ môi trường, tôn trọng lợi ích khách hàng, đối tác. Càng những doanh nghiệp lớn mạnh, thành công, càng xác định rõ tầm quan trọng của việc chấp hành nghiêm quy định của pháp luật, dựa vào pháp luật để hoạt động và phát triển; thiếu ý thức thượng tôn pháp luật chính là đánh mất niềm tin của đối tác, khách hàng. Việc tuyệt đối tuân thủ pháp luật cũng chính là hướng đi đúng đắn để DNQĐ xây dựng uy tín và đặt nền tảng cho sự phát triển lâu dài, bền vững. Những doanh nhân-chiến sĩ thành đạt không chỉ có khả năng tư duy vượt trước trong lĩnh vực kinh tế mà họ còn được đối tác, cộng đồng tín nhiệm, tin yêu nhờ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, có nếp sống kỷ luật, kỷ cương và luôn coi trọng pháp luật.

Để tiếp tục duy trì nghiêm kỷ luật, chấp hành nghiêm pháp luật trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, góp phần giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, việc giáo dục, bồi dưỡng thường xuyên cho doanh nhân-chiến sĩ những chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh để bảo đảm phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế là thực sự cần thiết. Tuân thủ pháp luật là trách nhiệm, là đạo đức của người kinh doanh, nhất là đối với DNQĐ, làm sáng đẹp hơn hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trên mặt trận kinh tế. Bên cạnh đó, Nhà nước cần bổ sung, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; rà soát các quy định của pháp luật liên quan đến đầu tư, các điều kiện sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và DNQĐ nói riêng để điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi, bảo đảm sự đồng bộ, hiệu quả; có giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong các quy định của pháp luật mà doanh nghiệp thường gặp phải... để giúp DNQĐ không ngừng lớn mạnh, góp phần giữ vững và lan tỏa phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trên mặt trận kinh tế.

Tự giác học tập, phẩm chất vốn có của người quân nhân

 

Một trong những đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được Quân ủy Trung ương chỉ rõ trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 là “tích cực huấn luyện, học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ mọi mặt và kiến thức chuyên môn”.

Trong cuộc trò chuyện với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, cựu chiến binh, nhà văn Đỗ Hàn, Giám đốc Trung tâm Quyền tác giả văn học Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam, cho rằng: Quân đội ta là một trường học lớn, quân nhân được học tập toàn diện để nâng cao trình độ mọi mặt, góp phần bồi đắp và tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Vì thế, cấp ủy, chỉ huy đơn vị quan tâm, tạo điều kiện để quân nhân nghiên cứu, học tập chính là thực hiện Nghị quyết 847 hiệu quả.

Phóng viên (PV): Đồng chí từng có 4 năm trong quân ngũ vào đầu thập niên 1980. Đó là giai đoạn đất nước và quân đội đối diện với nhiều khó khăn vật chất. Vậy, tinh thần học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ mọi mặt của bộ đội thời đó như thế nào, thưa đồng chí?

Nhà văn Đỗ Hàn: Nhìn lại, giai đoạn nào trước đổi mới, đất nước và Quân đội ta cũng đều khó khăn, vất vả. Tuy nhiên, dù có thiếu thốn cái ăn, cái mặc, tinh thần ham học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ của quân nhân không vì thế mà giảm sút.

Trong chiến tranh chống Mỹ, cứu nước, chuyện thương binh nằm dưỡng thương vẫn tranh thủ mượn cả chục đầu sách để đọc tránh lãng phí thời gian là rất bình thường. Thời chúng tôi cũng thế, ở cấp đại đội có tủ sách nho nhỏ, anh em tranh thủ giờ nghỉ, ngày nghỉ đọc “ngấu nghiến”. Chế độ đọc báo thực hiện nghiêm, mọi quân nhân được cập nhật tin tức thời sự đầy đủ.

Điều đáng chú ý, quân đội rất chú trọng nắm bắt, phát hiện quân nhân có năng khiếu, sở trường nào đó để động viên phát huy, bồi dưỡng. Bản thân tôi có sở trường kẻ biển, kẻ chữ, viết báo tường, cấp trên mời các nhà văn ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội thời đó, như Thanh Tịnh, Ngô Thảo... đến hướng dẫn cách viết. Từ đó, tôi mới “lờ mờ” biết sáng tác văn chương là thế nào, vượt qua sự ghi chép “máy móc”. Chính trong thời gian quân ngũ, tình yêu văn học lớn dần dù trước khi vào bộ đội tôi là giảng viên toán. Về sau, khi trở thành nhà văn chuyên nghiệp, tôi luôn gắn bó với đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng như một sự tri ân quân đội đã ươm mầm sự nghiệp văn chương cho một anh lính vô danh.

Nghị quyết 847 được Quân ủy Trung ương chỉ rõ việc “tích cực huấn luyện, học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ mọi mặt và kiến thức chuyên môn” một lần nữa khẳng định quân đội là trường học lớn, giúp quân nhân hoàn thiện kiến thức, hiểu biết, góp phần bồi đắp và tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

PV: Nhiều thanh niên thực hiện nghĩa vụ quân sự mới tốt nghiệp THPT, kiến thức chưa nhiều, kinh nghiệm, vốn sống xã hội có khi là con số không. Theo đồng chí, cần chú trọng học tập những nội dung nào để mỗi người có thể nâng cao trình độ của mình?

Nhà văn Đỗ Hàn: Khi bước vào môi trường quân đội, nhiều bạn trẻ không tránh khỏi cảm thấy hụt hẫng. Trước khi nhập ngũ tham gia mạng xã hội, chơi game, rồi bao nhiêu thú vui giải trí hiện đại, sinh hoạt tự do... Còn trong quân ngũ các bạn phải huấn luyện những nội dung mới mẻ, sinh hoạt theo chế độ nghiêm ngặt, mọi việc không thể như trước.

Tôi cho rằng, trước hết người chỉ huy đơn vị cần tuân thủ nghiêm túc chế độ thời gian huấn luyện, vui chơi, học tập, thực hiện “giờ nào việc nấy”. Có những nơi, có những lúc thời gian vui chơi, học tập của chiến sĩ bị cắt xén, đảo lộn. Một số chỉ huy cũng không thực sự chịu khó làm “thầy”, biết sáng tạo, biết kết hợp học mà chơi thiết thực, hiệu quả. Xem truyền hình, tôi thấy có đơn vị dạy tiếng Anh giao tiếp, dạy văn nghệ, thi tìm hiểu lịch sử... rất vui vẻ, thiết thực. Hy vọng những mô hình hay, cách làm hiệu quả được phổ biến rộng rãi ở nhiều đơn vị.

Tôi rất tâm đắc với cụm từ “nâng cao trình độ mọi mặt”. Đã là quân nhân, đòi hỏi trước hết và trên hết phải huấn luyện giỏi, nắm vững kiến thức quân sự, quốc phòng; nhưng cũng không quên học tập, nâng cao hiểu biết những vấn đề về chính trị, xã hội, lịch sử, văn hóa... Như thế, mới là người quân nhân hiểu biết toàn diện. Tôi tin, nếu được quan tâm, bồi dưỡng, nhiều bạn trẻ sau khi hết thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự sẽ có bản lĩnh, kiến thức, trình độ để lập thân, lập nghiệp thành công.

PV: Lười học tập, rèn luyện được xem là một trong những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân mà Nghị quyết 847 chỉ ra. “Căn bệnh” này tác hại như thế nào với quân nhân, thưa đồng chí?

Nhà văn Đỗ Hàn: Quân nhân là những người lao động trong lĩnh vực quân sự. Cũng như bao ngành nghề khác, muốn làm tốt công việc được giao, không có cách nào khác phải nâng cao trình độ mọi mặt.

Người càng ở vị trí cao, có quyền lực chỉ huy càng lớn thì càng phải nâng cao trình độ mới có tầm nhìn chiến lược để lãnh đạo chỉ huy hiệu quả. Tiếp xúc với nhiều doanh nghiệp tư nhân, tôi thấy đội ngũ lãnh đạo vẫn dành thời gian cập nhật kiến thức mới, tìm hiểu mô hình quản trị và công nghệ mới, giúp doanh nghiệp không ngừng phát triển, làm ăn hiệu quả.

Mặc dù quân đội có đặc thù riêng nhưng tôi cho rằng không có lý gì mà quân nhân lại không dành thời gian nâng cao trình độ của mình. Mỗi cá nhân có công việc, chuyên môn riêng. Hãy bắt đầu từ chính công việc của mình, muốn làm thật tốt, hiệu quả chắc chắn phải tích cực, chủ động học tập, nghiên cứu cải tiến phương pháp, cách thức làm việc.

PV: Với tư cách là một nhà văn, cựu chiến binh, đồng chí có nhắn gửi gì với các quân nhân hiện nay về vấn đề tích cực học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ?

Nhà văn Đỗ Hàn: Cơ sở vật chất, điều kiện để học tập, nghiên cứu có tốt; lãnh đạo chỉ huy đơn vị có quan tâm, tạo điều kiện nhưng để đạt hiệu quả trong việc nâng cao trình độ, chỉ có thể dựa vào ý chí bản thân mỗi người. Dân gian đúc kết: “Học thì ấm vào thân”.

Nếu hiểu theo kiểu thuần túy lợi ích thiếu tích cực là học để phục vụ cho việc thăng quan tiến chức thì chẳng lẽ không phát triển thành “ông này bà nọ” thì không cần học nữa? Học tập, nghiên cứu là nhu cầu tự thân, một trong những chiều kích của bản thể con người. Có trình độ toàn diện sẽ tự nâng tầm, làm mới bản thân và tạo dựng nhân cách, tâm hồn lành mạnh.

Cho nên, mới có câu ngạn ngữ nổi tiếng: “Học tập là cuốn sách không có trang cuối”, mà tôi hiểu chính là để khuyên chúng ta không thể đứng yên mà luôn làm mới chính mình.

Trăm sự phi lý phía sau “bộ cánh tự do tôn giáo”

 

Một trong những nguyên nhân khiến các thế lực thù địch và đối tượng xấu thường xuyên bịa đặt, vu cáo về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là nhằm bẻ lái luật pháp về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam theo các tiêu chuẩn phương Tây.

Những đòi hỏi vô lý, quá trớn

Những năm qua, do cách nhìn thiên lệch, thiếu thiện chí nên một số cá nhân, tổ chức hoạt động dưới danh nghĩa “người bảo vệ” tự do tôn giáo và nhân quyền thế giới vẫn tung ra những thông tin thiếu khách quan, những nhận định sai trái về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. 

Điển hình là gần đây, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) công bố báo cáo về tình hình tự do tôn giáo quốc tế năm 2021, trong đó nêu tình hình và kết quả thực hiện tôn giáo của 27 nước và một số thực thể, tổ chức trên thế giới mà USCIRF đánh giá là có những vi phạm “nghiêm trọng” hoặc “đặc biệt nghiêm trọng” để đề xuất Bộ Ngoại giao Mỹ đưa vào “danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt” hoặc “danh sách cần theo dõi đặc biệt” về tự do tôn giáo, từ đó nhằm áp đặt chế tài với các quốc gia này trong hỗ trợ tài chính và hợp tác trên một số lĩnh vực.

Trong nội dung báo cáo về Việt Nam, USCIRF đưa ra nhận xét với giọng điệu đầy kẻ cả rằng điều kiện tự do tôn giáo của Việt Nam trong năm 2021 không có gì khác biệt so với năm 2020. Và, thông qua việc đả kích tình hình bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, USCIRF thậm chí còn đòi sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam.

Phải khẳng định rằng, không chỉ riêng báo cáo năm 2021 mà các báo cáo thường niên của USCIRF đưa ra trong những năm gần đây đều được đánh giá là chưa chính xác, thiếu thiện chí, thiếu khách quan về tình hình tự do tôn giáo ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Thậm chí, ngay cả trong chính giới Mỹ và các tổ chức nhân quyền ở Mỹ cũng xuất hiện những ý kiến cho rằng, cách tiếp cận của USCIRF nặng về chỉ trích, không giúp cải thiện tự do tôn giáo trên toàn cầu đúng với mục đích mà Quốc hội và Chính phủ Mỹ đặt ra.

Trên thực tế, Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng tôn giáo, trong đó có cả tôn giáo nội sinh và tôn giáo ngoại nhập và từng được ví như một “bảo tàng” về tín ngưỡng, tôn giáo của thế giới. Theo thống kê cập nhật từ Ban Tôn giáo Chính phủ, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và hơn 26,5 triệu tín đồ, chức sắc của các tôn giáo. Tính đến hết năm 2021 đã có 16 tôn giáo được Nhà nước Việt Nam công nhận, trong đó có Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo Hòa hảo...

Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là bảo đảm và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân, bảo đảm công bằng, không phân biệt đối xử với các tôn giáo. Việt Nam cũng là một trong số ít các quốc gia trên thế giới có đạo luật về tôn giáo, cụ thể là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua ngày 18-11-2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2018. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam quy định rất rõ các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật, không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Đồng thời, Nhà nước Việt Nam tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước và cộng đồng, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân. Nhà nước cũng bảo hộ các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo và tài sản hợp pháp của các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo, xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường, xâm phạm đời sống xã hội cũng như thân thể, tính mạng, sức khỏe của nhân dân... Và việc xử lý đối với các hoạt động vi phạm pháp luật liên quan đến tôn giáo cũng dựa trên những quy định này.

Quyền tự do tôn giáo là vấn đề có tính lịch sử, nghĩa là phụ thuộc vào từng thời điểm lịch sử cụ thể ở từng quốc gia, gắn với từng thể chế chính trị-xã hội và điều kiện kinh tế-văn hóa-xã hội cụ thể nhất định. Nói cách khác, không thể tồn tại một khái niệm về quyền tự do tôn giáo chung chung, trừu tượng mà không gắn với một bối cảnh và thực thể nhất định.

Vì lẽ đó, không thể đem giá trị, quan niệm về tự do tôn giáo ở một quốc gia này để áp dụng hay đo lường, đánh giá mức độ quyền tự do tôn giáo ở một quốc gia khác. Đặc biệt, trên phương diện quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia, thể chế chính trị bình đẳng, độc lập thì càng không thể đem tiêu chuẩn về tự do tôn giáo ở quốc gia này để áp đặt lên một quốc gia khác và buộc quốc gia đó phải tuân theo.

Đây cũng là những điều mà USCIRF hay bất cứ cá nhân, tổ chức nào đang muốn đưa ra những đòi hỏi quá trớn đối với việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cần phải học thuộc!

Cần xem lại cách nhìn, quan niệm về tự do tôn giáo

Những năm gần đây, sự sôi động trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam được thể hiện ở việc liên tục gia tăng số lượng các cơ sở thờ tự trong tôn giáo và tín đồ. Bất chấp điều đó, các thế lực thù địch vẫn vu cáo Việt Nam ngăn cản tự do tôn giáo, không công nhận các tổ chức tôn giáo.

Theo số liệu từ Ban Tôn giáo Chính phủ, nếu như năm 1985, số lượng tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam vào khoảng 14 triệu, thì đến năm 2021 đã tăng lên hơn 26,5 triệu. Thành tựu trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam còn được thể hiện qua sự gia tăng số lượng các trường đào tạo chức sắc.

Tính đến tháng 4-2022, các tôn giáo ở Việt Nam có 66 cơ sở đào tạo chức sắc với 10.000 học viên đang theo học, riêng Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 47 cơ sở đào tạo, trong đó có 4 học viện Phật giáo. Các cơ sở thờ tự cũng được quan tâm sửa chữa, xây mới. Tính đến ngày 31-12-2021, cả nước có 29.800 cơ sở thờ tự của các tôn giáo, tăng thêm 5.800 cơ sở so với năm 2008.

Hiện ở Việt Nam cũng có nhiều hệ thống tổ chức giáo hội có tầm hoạt động quốc tế, đặc biệt là Công giáo, Phật giáo và một số tổ chức tôn giáo có nguồn gốc nước ngoài du nhập vào Việt Nam, thể hiện thông qua việc mở rộng quan hệ với các tổ chức tôn giáo các nước và tiến hành các hoạt động thiện nguyện ở nước ngoài. Chẳng hạn như giữa tháng 6 vừa qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức lễ trao tặng tài trợ, giúp đỡ nhân dân Sri Lanka vượt qua khó khăn do cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị tại đất nước này.

Không chỉ phát triển mạnh mẽ về số lượng, các tổ chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc ở Việt Nam đã chứng tỏ tầm ảnh hưởng tích cực đối với đời sống, sẵn sàng đóng góp cho cộng đồng thông qua các hoạt động thiện nguyện và đồng hành với các hoạt động của đất nước, mà những gì diễn ra trong giai đoạn đại dịch Covid-19 phức tạp là một ví dụ điển hình.

Những con số và ví dụ nói trên một mặt phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác khẳng định Việt Nam không phân biệt giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo hay không; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào dù nội sinh hay được truyền từ nước ngoài, dù là tôn giáo đã ổn định lâu dài hay mới được công nhận.

Thực tế cũng cho thấy, các tín đồ tôn giáo ở Việt Nam ngày càng đông và họ được tự do hành lễ dù ở nhà riêng hay nơi thờ tự. Mỗi người Việt Nam cũng thường có tín ngưỡng riêng, chẳng hạn như thờ cúng tổ tiên, ngày rằm mùng một thắp hương... nhưng vẫn có thể theo tôn giáo. Ngoài ra, nhiều lễ hội tôn giáo diễn ra hằng năm không còn là chuyện riêng của từng tôn giáo mà đã có sức lan tỏa lớn trong cộng đồng xã hội, qua đó làm giàu thêm đời sống tinh thần của nhân dân. 

Qua đó để thấy rằng, việc một số cá nhân, tổ chức nước ngoài thường xuyên bóp méo hoặc có cái nhìn sai lệch về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam có thể do mưu đồ rắp tâm chống phá Việt Nam thông qua vấn đề dân chủ, tôn giáo và nhân quyền, hoặc cũng có thể do sự khác biệt trong cách nhìn và quan niệm của họ về vấn đề này. 

Can thiệp sâu vào tình hình tự do nhân quyền cũng như tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các quốc gia khác và cố bắt các quốc gia ấy phải mặc “bộ cánh tự do tôn giáo” mang màu sắc phương Tây là điều không thể chấp nhận được. Bộ cánh ấy qua mô tả thì rất mỹ miều và hợp thời, nhưng liệu đã có ai thừa nhận sự chuẩn mực của nó?