Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2024

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐỂ DU LỊCH BIỂN ĐẢO VIỆT NAM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG!

         Làm thế nào để du lịch biển đảo Việt Nam phát triển, tạo được sắc thái riêng với nhiều sản phẩm du lịch đa dạng, đáp ứng nhu cầu của khách du lịch trong và ngoài nước, song vẫn giữ gìn, bảo vệ được môi trường, hệ sinh thái, cảnh quan, đảm bảo an ninh quốc gia, chủ quyền lãnh thổ... đòi hỏi cần phải có những giải pháp phù hợp, kịp thời!

Phát huy thế mạnh quốc gia biển đảo
Việt Nam là quốc gia có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch biển đảo. Thời gian qua, du lịch biển, đảo đã được chú ý phát triển để trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, đã có nhiều tác động tích cực đến đời sống kinh tế - xã hội, song vẫn còn nhiều bất cập. Để du lịch biển đảo phát triển bền vững, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách, chương trình, chiến lược cụ thể.

Du lịch biển, đảo đã và đang là loại hình du lịch được đầu tư khai thác và phát triển, nhất là các quốc gia có lợi thế về biển, trong đó có Việt Nam.

Tài nguyên biển đảo của Việt Nam phong phú và đa dạng, bao gồm tài nguyên tự nhiên biển đảo, tài nguyên nhân văn... do đó phát triển du lịch biển, đảo được coi là một nhiệm vụ quan trọng góp phần đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, là sự lựa chọn ưu tiên hàng đầu của ngành du lịch Việt Nam. Du lịch biển, đảo cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác, tạo thêm việc làm cho xã hội, nhất là khu vực ven biển, đảm bảo khai thác có hiệu quả những tiềm năng và lợi thế về du lịch biển, đảo gắn với đảm bảo an ninh quốc phòng, phù hợp với xu thế hội nhập của Việt Nam với khu vực và quốc tế. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 22/1/2020 đã xác định du lịch biển, đảo là một trong 4 dòng sản phẩm chính của du lịch Việt Nam. Chiến lược phát triền bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cũng đã xác định Phát triển du lịch biển, đảo là một trong những nội dung góp phần hình thành các khu kinh tế biển trọng điểm.

Tiềm năng phát triển du lịch biển, đảo Việt Nam
Là quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Á, có 3 mặt giáp biển với bờ biển dài trên 3.260 km và gần 3.000 hòn đảo lớn nhỏ cùng 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, biển đảo Việt Nam có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược quốc phòng, an ninh quốc gia, phát triển kinh tế và du lịch. Các bãi biển nước ta phân bố trải đều từ bắc vào nam, từ Móng Cái đến Hà Tiên với hàng loạt bãi tắm đẹp, cát mịn, nước trong xanh như Trà Cổ, Sầm Sơn, Cửa Lò, Cửa Tùng, Lăng Cô, Mỹ Khê, Sa Huỳnh, Quy Nhơn, Nha Trang, Ninh Chữ, Mũi Né, Long Hải, Vũng Tàu… Cùng với bờ biển dài, nước ta có một hệ thống đảo, vịnh phong phú trải dài từ vùng biển Quảng Ninh đến Kiên Giang với nhiều cảnh quan nổi tiếng như Đảo Cô Tô, Bạch Long Vỹ, Cát Bà, Phú Quốc… và nhiều vịnh đẹp nổi tiếng như Vịnh Hạ Long, Vịnh Lan Hạ (Hải Phòng), Vịnh Xuân Đài (Phú Yên), Vịnh Lăng Cô (Thừa Thiên Huế), Vịnh Nha Trang (Khánh Hòa)…

Lãnh thổ du lịch biển đảo là nơi hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi với nguồn tài nguyên tự nhiên, nguồn tài nguyên nhân văn đa dạng và phong phú, tập trung tới 07/13 di sản thế giới ở Việt Nam; 06/08 khu dự trữ sinh quyển, nhiều vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên; nhiều di tích văn hoá - lịch sử. Trong số 25 Vườn Quốc gia ở Việt Nam thì có 4 VQG trên đảo gồm VQG Cát Bà, VQG Bái Tử Long, VQG Côn Đảo, VQG Phú Quốc; 7 VQG thuộc các tỉnh ven biển là U Minh Thượng (Kiên Giang), Bạch Mã (Huế), Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình), Pù Mát (Nghệ An), Vũ Quang (Hà Tĩnh), Bến Én (Thanh Hóa), Cúc Phương (Ninh Bình). Vùng ven biển có 22/55 khu bảo tồn thiên nhiên, trong đó có nhiều khu bảo tồn thiên nhiên có giá trị để phát triển du lịch như Sơn Trà, Bà Nà (Đà Nẵng), Cù lao Chàm (Quảng Nam), Hòn Mun (Khánh Hòa).

Ngoài ra, các đảo ven biển nước ta còn lưu giữ khá nhiều di tích lịch sử, lễ hội văn hóa (trong khoảng hơn 100 lễ hội tiêu biểu ở Việt Nam thì có 35 lễ hội thuộc vùng ven biển), ẩm thực làng biển với nhiều làng nghề như nuôi, chế biến hải sản, nuôi cấy ngọc trai…

Không phải ngẫu nhiên mà Tạp chí Forbes của Mỹ đã bầu chọn bãi biển Đà Nẵng là 1 trong 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh. Tạp chí Time (Mỹ) bình chọn đảo Phú Quốc là hòn đảo có sức hút và nằm trong 100 điểm đến hấp dẫn nhất. Giải thưởng Asia's Best Awards 2022 do tạp chí Travel & Leisure phiên bản Đông Nam Á giới thiệu đã bình chọn đảo Phú Quốc và Côn Đảo của Việt Nam nằm trong 10 đảo hàng đầu của Đông Nam Á. Phú Quốc và Côn Đảo cũng đã đóng góp cho ngành du lịch Việt Nam nhiều giải thưởng có giá trị như giải thưởng khu nghỉ dưỡng hàng đầu thế giới vào năm 2018 dành cho Sixsence Côn Đảo; giải thưởng khu nghỉ dưỡng villa hàng đầu thế giới năm 2019 dành cho Premier Village Phú Quốc. Vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới. Năm 2022, Việt Nam đã vinh dự được đề cử 61 hạng mục giải thưởng của World Travel Awards khu vực châu Á năm 2022, trong đó có những hạng mục quan trọng tầm quốc gia như điểm đến hàng đầu châu Á, điểm đến du lịch biển hàng đầu châu Á, điểm đến văn hóa hàng đầu châu Á, điểm đến di sản hàng đầu châu Á, điểm đến thiên nhiên hàng đầu châu Á.

Với những đặc điểm trên, Việt Nam có nhiều tiềm năng và điều kiện để xây dựng khu du lịch biển đảo có sức cạnh tranh cao, chủ động xây dựng các sản phẩm du lịch biển đảo, đặc biệt là loại hình du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thể thao biển, du lịch sinh thái, du lịch MICE… mang đặc trưng, bản sắc riêng, có sự khác biệt giữa các vùng, miền đồng thời đem lại hiệu quả cho nhiều ngành kinh tế, tạo việc làm, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần quảng bá hình ảnh về đất nước, con người Việt Nam với quốc tế.

Đa dạng các sản phẩm du lịch biển, đảo ở Việt Nam
Trong thời gian qua, ngành du lịch Việt Nam đã tập trung khai thác và phát triển một số sản phẩm du lịch biển, đảo cụ thể như:
Tham quan các di sản thế giới ở vùng ven biển: Sản phẩm du lịch này đã và đang thu hút khá động lượng khách du lịch trong nước và quốc tế. Hiện nay, hầu hết trong các tours du lịch của các hãng lữ hành sản phẩm du lịch này được chào bán trên tất cả các thị trường nguồn du lịch Việt Nam.

Tham quan các di tích lịch sử văn hóa, di tích cách mạng: Sản phẩm du lịch này được hầu hết các địa phương ven biển chú ý khai thác bởi việc xây dựng loại sản phẩm du lịch này không phức tạp, không phải đầu tư nhiều, có thể thu hút được nhân lực địa phương tham gia.

Tham quan cảnh quan: Đây là nhóm sản phẩm du lịch khá quen thuộc ở hầu hết các vùng ven biển. Theo đánh giá của Tổng cục Du lịch Việt Nam và Viện nghiên cứu phát triển du lịch, những năm qua, sản phẩm được xem là hấp dẫn nhất thuộc nhóm sản phẩm này là tham quan cảnh quan vịnh Hạ Long, vịnh Cảnh Dương, Lăng Cô (Thừa Thiên Huế), bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), vịnh Văn Phong, Nha Trang (Khánh Hoà), vịnh Xuân Đài, Vũng Rô (Phú Yên), vịnh Vĩnh Hy (Ninh Thuận)…; cảnh quan các đảo ven bờ như Cô Tô (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng), Cồn Cỏ (Quảng Trị), Cù lao Chàm (Quảng Nam), Lý Sơn (Quảng Ngãi), Phú Quý (Bình Thuận)…

Phát huy lợi thế về tài nguyên du lịch, những năm gần đây, du lịch Việt Nam đã có những bước phát triển với tốc độ khá nhanh, trong đó du lịch biển đảo có một sức hút đối với khách du lịch trong nước và quốc tế. Việc thực hiện Đề án Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển đến năm 2020 đã tạo cơ sở để ngành du lịch Việt Nam hướng tới sản phẩm du lịch hấp dẫn gắn với tài nguyên biển đảo có sức hút với khách du lịch trong nước và quốc tế. Đề án đã xác định và tập trung khai thác 4 không gian ven biển với các địa bàn trọng điểm nhằm tạo sức hút, điểm nhấn, kết nối với thị trường du lịch quốc tế.

Thời gian qua, những khu du lịch quốc gia, điểm du lịch quốc gia, đô thị du lịch được tập trung đầu tư phát triển, như: Hạ Long, Vân Đồn - Cô Tô, Trà Cổ, Bái Tử Long, Bạch Long Vĩ, Cát Bà, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Thiên Cầm, Cồn Cỏ, Cửa Tùng - Cửa Việt, Huế, Lăng Cô - Cảnh Dương, Đà Nẵng, Non Nước, Sơn Trà, Cù Lao Chàm, Hoàng Sa, Hội An, Sa Huỳnh, Mỹ Khê, Sơn Mỹ, Lý Sơn, Phương Mai, Xuân Đài, Bắc Cam Ranh, Trường Lũy, Trường Sa, Nha Trang, Ninh Chữ, Vĩnh Hy, Mũi Né, Phan Thiết, Phú Quý, Long Hải - Phước Hải, Côn Đảo, Vũng Tàu, Cần Giờ, Phú Quốc, Hà Tiên.

Phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù
Ngành du lịch Việt Nam cũng đã hướng tới việc tập trung phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù, để tạo ra động lực phát triển các trung tâm du lịch biển, đảo. Các khu, điểm du lịch biển trọng điểm được tập trung đầu tư, phát triển nhằm thu hút khách du lịch, thu hút đầu tư và hình thành những điểm đến tầm cỡ, có thương hiệu nổi bật trong khu vực và trên thế giới.

Bên cạnh đó, việc hình thành và xây dựng các tuyến du lịch biển và du lịch tàu biển cũng đã góp phần quan trọng trong việc đẩy mạnh hoạt động du lịch biển, đảo như: các tuyến xuất phát từ Hạ Long, Hải Phòng, Cửa Lò, Huế, Đà Nẵng, Sa Kỳ, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết, Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Hà Tiên và kết nối với các đảo và bãi biển Bạch Long Vĩ, Cát Bà, Cồn Cỏ, Cù lao Chàm, Lý Sơn, Hoàng Sa, Hòn Tre, Hòn Tằm, Trường Sa, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc.

Tổ chức không gian du lịch biển tập trung tại các vịnh và đô thị du lịch biển như: Hạ Long, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Hội An, Đà Nẵng, Nha Trang, Quy Nhơn, Xuân Đài, Vĩnh Hy, Phan Thiết - Mũi Né, Vũng Tàu, Hà Tiên.

Các chương trình hành động nhằm thúc đẩy phát triển du lịch biển, đảo tập trung theo hướng chiến lược ưu tiên như chương trình nâng cao nhận thức xã hội về du lịch, trong đó đặc biệt quan tâm phát triển du lịch biển, đảo gắn với bảo đảm an ninh - quốc phòng, chủ quyền quốc gia; điều tra tổng hợp về tài nguyên du lịch biển, bảo tồn tài nguyên biển, đặc biệt đối với hệ thống các đảo trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa; đầu tư hạ tầng then chốt phục vụ du lịch biển, hệ thống cảng du lịch, cầu tàu, bến neo đậu ven bờ, trên vịnh và trên các đảo; phát triển sản phẩm du lịch đặc thù các miền biển, ưu tiên và hỗ trợ phát triển các tuyến du lịch đảo xa, đặc biệt là dự án phát triển du lịch tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; phát huy giá trị văn hóa biển, ẩm thực biển phục vụ phát triển du lịch; phát triển nhân lực cho du lịch biển, đảo./.

Yêu nước ST.

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG TÌNH HÌNH MỚI!

     Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam là một trong những nội dung cơ bản, trọng tâm, xuyên suốt hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng về xây dựng Đảng nói riêng; thể hiện sự đúng đắn, nhạy bén, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Qua đó, góp phần tạo nền tảng tư tưởng, cơ sở khoa học để Đảng ta quán triệt, vận dụng trong công tác xây dựng Đảng và lãnh đạo cách mạng, bảo đảm cho Đảng ta luôn xứng đáng là lực lượng chính trị lãnh đạo toàn xã hội, nhân tố có ý nghĩa quyết định để cách mạng thắng lợi!

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Sau gần 10 năm bôn ba tìm đường cứu nước (1911-1920), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin con đường cứu nước đúng đắn - đưa cách mạng Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản, mở đường cho cách mạng Việt Nam thoát khỏi cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước và phát triển mạnh mẽ, gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới.

Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa và vận dụng sáng tạo luận điểm chủ nghĩa Mác-Lênin: “Cách mạng vô sản chỉ có thể giành thắng lợi khi có Đảng Cộng sản, chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo”, ngay từ rất sớm, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định vai trò to lớn, có ý nghĩa quyết định bởi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam. Người nhấn mạnh: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Vấn đề này được Người tiếp tục khẳng định: “Muốn thắng lợi, thì cách mạng phải có một đảng lãnh đạo. Đảng phải làm cho quần chúng giác ngộ vì đâu mà họ bị áp bức bóc lột; phải dạy cho quần chúng hiểu các quy luật phát triển của xã hội, để họ nhận rõ vì mục đích gì mà đấu tranh; chỉ rõ con đường giải phóng cho quần chúng, cổ động cho quần chúng kiên quyết cách mạng; làm cho quần chúng tin chắc cách mạng nhất định thắng lợi. Cách mạng là cuộc đấu tranh rất phức tạp. Muốn khỏi đi lạc phương hướng, quần chúng phải có Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường lối và định phương châm cho đúng. Trên thực tế, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 03/02/1930) là kết quả tất yếu của quá trình chuẩn bị đầy đủ của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Người đã kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước để hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vừa phù hợp với quy luật phát triển của thời đại, vừa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn cách mạng Việt Nam. 

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất, ngay từ đầu đảm đương sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam và có đường lối cách mạng đúng đắn; là chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, đội tiền phong của giai cấp công nhân, vừa mang bản chất giai cấp công nhân, vừa có tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc; có khả năng đoàn kết, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân đứng lên đấu tranh làm cách mạng, hợp thành nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”. Cũng từ đó, cách mạng Việt Nam trải qua nhiều thăng trầm, vượt qua bao nhiêu sóng gió, ngày càng tỏ rõ là lực lượng lãnh đạo tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Qua thực tế lãnh đạo các phong trào cách mạng, Đảng càng tỏ rõ phẩm chất, năng lực, uy tín cầm quyền. Đó cũng là minh chứng cho luận điểm vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Cách mạng muốn thắng lợi thì phải có một Đảng lãnh đạo. Như Người đã nhấn mạnh: “Đảng ta có cơ sở khắp cả nước, Đảng đã thu hút những người cách mạng nhất, ưu tú nhất của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng có chính cương, đường lối đúng. Đảng lãnh đạo toàn dân đoàn kết kháng chiến, tranh được nhiều thắng lợi”.

Dưới ánh sáng của đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn, Đảng ta đã vận động, tổ chức và lãnh đạo quần chúng nhân dân tiến hành các cao trào cách mạng rộng lớn, chuẩn bị thực lực cách mạng, nắm bắt thời cơ, chỉ đạo cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công, giành chính quyền trên phạm vi cả nước. Đây là thành quả rực rỡ đầu tiên của cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân ta đã lật đổ ách thống trị của đế quốc, phát xít cấu kết với giai cấp địa chủ phong kiến, thiết lập chế độ cộng hòa dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(5). Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi vẻ vang của hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, qua đó vai trò lãnh đạo của Đảng ta tiếp tục được khẳng định rõ rệt hơn: “Đảng lãnh đạo toàn dân kháng chiến suốt chín năm và đã thắng lợi. Hiệp định Giơnevơ năm 1954 công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. 

Đặc biệt, bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc và tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước trong bối cảnh quốc tế phức tạp, tình hình kinh tế, xã hội nước ta còn nhiều khó khăn. Song với sự trung thành và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng với đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, Nhân dân ta đã giành được những thành tựu quan trọng, khắc phục được hậu quả chiến tranh để lại, kinh tế - xã hội từng bước phát triển, đời sống Nhân dân từng bước được cải thiện, quan hệ quốc tế không ngừng được mở rộng, quốc phòng, an ninh được tăng cường, sức mạnh tổng hợp của đất nước tiếp tục được giữ vững và phát triển, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Điều đó càng khẳng định một cách sinh động và thuyết phục hơn sự đúng đắn trong thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Qua 36 năm tiến hành đổi mới đất nước, chưa bao giờ thế và lực của cách mạng Việt Nam, của đất nước ta lại lớn mạnh như ngày nay. Chưa bao giờ đại đa số Nhân dân Việt Nam lại có được cuộc sống yên bình, ấm no, hạnh phúc như ngày nay. Những thành tựu đạt được là “rất to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới… Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đó là kết quả sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó yếu tố hết sức quan trọng là Đảng ta luôn đặc biệt quan tâm đến việc tăng cường, củng cố vững chắc vai trò lãnh đạo của Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, trong thời gian qua “một bộ phận không nhỏ” cán bộ, đảng viên, có cả cán bộ cao cấp của Đảng sa vào chủ nghĩa cá nhân, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… điều này đã và đang đe dọa sự tồn vong của Đảng, làm lung lay vai trò lãnh đạo của Đảng, vô hình chung trở thành cái cớ để các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền tìm mọi cách xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” và thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Trong khi đó, tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, khó dự báo; yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế; âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn, nhất là thủ đoạn dùng chiêu bài đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, hòng từng bước hạn chế, đi đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn xã hội... Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, làm sâu sắc, cụ thể hóa và vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, trên cơ sở đó xác định rõ những vấn đề đặt ra trong tình hình mới có ý nghĩa rất quan trọng và cấp thiết.

VẬN DỤNG ĐÚNG ĐẮN, SÁNG TẠO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG TÌNH HÌNH MỚI!
Một là, kiên định, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng nâng cao bản lĩnh và năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đảng lãnh đạo cách mạng, trước hết phải xác lập được đường lối chính trị đúng đắn. Đó là nhân tố quan trọng để khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, điều kiện tiên quyết đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng. Vì vậy, Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đảng ta là Đảng lãnh đạo. Muốn lãnh đạo được phải hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin”. Đó là nguyên tắc, là một trong những tiêu chuẩn đánh giá bản chất giai cấp công nhân của Đảng, là thước đo bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, là vấn đề có tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta, là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong toàn bộ công tác tư tưởng, lý luận của chúng ta. Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. 

Nghiên cứu quá trình phát triển của Đảng ta cho thấy, khi bản lĩnh chính trị của Đảng vững vàng, kiên định, năng lực tổ chức thực tiễn giỏi thì cách mạng phát triển thuận lợi và giành thắng lợi, kể cả những thời kỳ lịch sử nhiều khó khăn thử thách như giai đoạn năm 1932-1935, Đảng ta đã nhanh chóng khôi phục và phát triển phong trào; thời kỳ năm 1945-1946, cách mạng nước ta nhanh chóng ra khỏi tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, hai cuộc kháng chiến trong tình thế lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh, Nhân dân ta vẫn giành được thắng lợi oanh liệt. Những kỳ tích đó là do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp và dân tộc, có năng lực tư duy sáng tạo và năng lực tổ chức thực tiễn tài giỏi. Mặt khác, lịch sử lãnh đạo cách mạng của Đảng cũng chứng minh, khi nào Đảng ta chậm đổi mới tư duy, giáo điều, rập khuôn máy móc trong vận dụng lý luận hoặc kinh nghiệm nước ngoài, lúc đó cách mạng gặp khó khăn tổn thất. Do đó, “Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đề ra”.

Hai là, đẩy mạnh xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị, tổ chức và cán bộ.
Xây dựng Đảng về tư tưởng là xây dựng, bảo vệ nền tảng của Đảng, nâng cao trí tuệ của Đảng. Theo đó, Đảng nhất thiết phải là một tổ chức tiêu biểu về trí tuệ của dân tộc. Đảng phải là lực lượng đủ trí tuệ để giải quyết kịp thời những vấn đề mà thực tiễn đặt ra, đưa ra những luận cứ khoa học và cách mạng làm đường hướng cho sự phát triển của đất nước, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, cần “tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Mặt khác, phải biết phát huy trí tuệ của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại nhằm xây dựng và phát triển đất nước. Trí tuệ của Đảng phải thể hiện ở năng lực cầm quyền, năng lực lãnh đạo sáng suốt, cùng năng lực dự báo các khả năng và triển vọng phát triển của đất nước, của quốc tế.v.v.

Xây dựng Đảng về chính trị được biểu hiện tập trung ở đường lối, chủ trương và hệ thống nghị quyết của Đảng phải mang tính khoa học, tính thực tiễn cao để lãnh đạo đất nước đi lên. Xây dựng Đảng về chính trị còn được biểu hiện ở mục đích và lập trường của một đảng cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn chúng ta không bao giờ được quên rằng, mục đích cuối cùng của Đảng là tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Lập trường kiên định của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ là sự thấm nhuần những tư tưởng trên để xây dựng bộ máy Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; là xây dựng văn hóa tự phê bình và phê bình, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; kỷ luật nghiêm minh, tự giác, góp phần tạo sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng; nâng cao chất lượng sinh hoạt của cấp ủy, chi bộ; quản lý chặt chẽ đảng viên. Đồng thời, đẩy mạnh xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trở thành hình mẫu, nét đẹp của “văn hóa công vụ”, “văn hóa trách nhiệm”, xứng đáng với vị trí vừa là người lãnh đạo xã hội, vừa là “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Theo đó, xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ phải coi trọng cả về số lượng và chất lượng; lựa chọn được những người ưu tú nhất từ quần chúng vào Đảng, phải thường xuyên chọn lọc, sàng lọc đảng viên một cách cẩn trọng, khách quan, sa thải những người không còn xứng đáng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa XII chỉ rõ: “Kiên quyết sàng lọc, miễn nhiệm, thay thế, cho từ chức đối với cán bộ làm việc kém hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ, yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, tín nhiệm thấp mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu”.

Ba là, tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức, thực hành văn hóa nêu gương, văn hóa gần dân, văn hóa trọng dân.
Xây dựng Đảng về đạo đức là xây dựng “nền gốc” tinh thần vững chắc của Đảng, là xây dựng sức mạnh nội sinh của cách mạng. Trong đó, “gương mẫu là một nội dung, một phương thức trọng yếu trong công việc lãnh đạo của Đảng”. Do vậy, sự gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức đảng chính là xây dựng Đảng về đạo đức. Điều đó đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải luôn làm kiểu mẫu trong công tác và lối sống, trong mọi lúc, mọi nơi, mọi việc; nói phải đi đôi với làm, nói ít làm nhiều để quần chúng noi theo. 

Cùng với đó, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, cho Nhân dân tin tưởng, ủng hộ, giúp đỡ, bảo vệ Đảng. Vì vậy, phải đẩy mạnh thực hiện nguyên tắc “văn hóa gần dân, văn hóa trọng dân, văn hóa vì dân” của mỗi cán bộ, đảng viên. Có gần dân mới hiểu dân, tin dân và được dân tin yêu mến phục, cán bộ, đảng viên mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Gần dân còn là để học hỏi dân, để làm tốt chức năng cầu nối giữa Nhân dân với Đảng, Nhà nước; qua đó sẽ trọng dân và phục vụ được Nhân dân tốt hơn.

Bốn là, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương đúng đắn, bằng giáo dục và thuyết phục chứ không phải bằng áp đặt mệnh lệnh hành chính, quan liêu. Đảng lãnh đạo, cầm quyền nhưng không chuyên quyền, độc đoán, không rơi vào nguy cơ quyền lực của Đảng bị hình thức hóa. Đảng cầm quyền bằng thực quyền của Đảng, bằng chuẩn tắc dân chủ với xã hội; bằng đạo đức nêu gương vì dân, có sức mạnh tự bảo vệ từ lòng dân. Vì vậy, phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. 

Năm là, tích cực đấu tranh có hiệu quả trên mặt trận tư tưởng, lý luận trong tình hình mới.
Mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta phải luôn kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, phản bác mọi luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ cương lĩnh, đường lối, bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa và Tổ quốc Việt Nam. Kiên quyết phê phán, bác bỏ những quan điểm đi ngược lại những gì thuộc về bản chất, nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời, phải trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đánh giá đúng đắn tính chất, hiệu quả từng bước đi, từng sách lược xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ mới./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NẠN GIẤY TỜ ĐÃ LÀM TỐN CỦA HAO CÔNG CỦA NHÂN DÂN!

     “Nạn giấy tờ đã làm tốn của hao công của nhân dân, nó cũng làm hỏng tư tưởng và tác phong của cán bộ... là mẹ đẻ ra nạn tham ô, lãng phí”!

Trong bài viết “Chống nạn giấy tờ” đăng tải trên báo Nhân Dân số 170, ngày 6 tháng 3 năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: Nạn giấy tờ đã làm tốn của hao công của nhân dân, nó cũng làm hỏng tư tưởng và tác phong của cán bộ... là mẹ đẻ ra nạn tham ô, lãng phí. Trong bài viết Người đã chỉ ra những biểu hiện, nguyên nhân, biện pháp khắc phục của nạn giấy tờ. Ở các bộ từ Trung ương đến cơ quan các xã, đặc biệt như các Bộ Tài chính, Canh nông, Nội vụ...

Chính nạn giấy tờ đã làm hỏng tác phong, tư tưởng cán bộ, khiến cán bộ xa rời công tác thực tế, hiệu quả không thiết thực; làm hao công, tốn của của nhân dân; là hiện tượng tai hại của bệnh quan liêu, nguồn gốc của tham ô, lãng phí. Người yêu cầu cán bộ phải thi đua tiễu trừ triệt để bệnh giấy tờ, đó là cách để thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, đạo đức của người cán bộ cách mạng.

Hiện nay, lời dạy ấy càng mang tính thời sự sâu sắc. Vận dụng tư tưởng của Người vào quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Việt Nam pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, cả hệ thống chính trị và trong Quân đội đang đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm đẩy nhanh hiệu quả công việc, tránh quan liêu, hình thức.

Xuất phát từ yêu cầu cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, phải đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, Quân đội phải tích cực bài trừ bệnh giấy tờ, thủ tục hành chính rườm rà, quan liêu mệnh lệnh, cán bộ chỉ huy gần gũi bộ đội, bộ đội gần gũi dân, tích cực làm việc thực tế, thiết thực, hăng hái thi đua xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đây cũng là một trong những nội dung cải cách hành chính của Quân đội./.
Yêu nước ST.

Thứ Bảy, 3 tháng 2, 2024

Bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ cần phải có phương pháp làm việc khoa học; việc lớn hay việc nhỏ đều phải được xem xét, nghiên cứu tỉ mỉ, chính xác, xây dựng chương trình, nội dung, kế hoạch, biện pháp sát thực và tổ chức hoạt động thực tiễn một cách khoa học. Phương pháp làm việc khoa học gắn với cuộc đời, sự nghiệp vĩ đại của Người có giá trị định hướng quan trọng trong bồi dưỡng và xây dựng phương pháp làm việc đối với đội ngũ cán bộ hiện nay, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới.

Phương pháp làm việc khoa học theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Ngày 5-6-1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc với ý chí, nghị lực phi thường cho hành trình “năm châu bốn biển”, vì mục đích “muốn đi ra ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào tôi sẽ trở về giúp đỡ đồng bào chúng ta”. Cuộc hành trình 30 năm với tình cảm yêu nước nồng nàn, ý chí cách mạng sâu sắc, khát vọng cháy bỏng là giải phóng nước nhà khỏi ách nô lệ của thực dân, đế quốc, cùng tư duy uyên bác của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rèn giũa, tôi luyện và định hình nên phương pháp làm việc khoa học của Người. Đó chính  sự kết hợp giữa tri thức, tình cảm, ý chí và thực tiễn cách mạng với quan điểm biện chứng khoa học trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Xưởng may 10, Người góp ý kiến về cách cắt may sao cho nhanh, tiết kiệm, bảo đảm chất lượng (năm 1959)_Ảnh: Tư liệu

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước khi thực hiện nhiệm vụ, bất kể việc gì, từ lớn đến nhỏ, người cán bộ đều phải xác định rõ mục đích, nội dung, chương trình, kế hoạch. Người yêu cầu tất cả cán bộ, công chức trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, đoàn thể từ Trung ương đến cơ sở phải xây dựng kế hoạch làm việc cụ thể, thiết thực, vừa sức; “nội dung một, kế hoạch mười, biện pháp phải hai mươi”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, người cách mạng phải có mục đích và tư tưởng đúng trong công việc thì hành động mới không sai lệch. Người yêu cầu mục đích, kế hoạch trong công việc phải rõ, như “người bắn cung phải hướng đích”. Kế hoạch làm việc phải cụ thể, sát thực, có trọng tâm, trọng điểm, không chung chung, dàn trải và phải có sự phân công trách nhiệm cụ thể. Người nhấn mạnh: “Cách mạng cũng như một bộ máy, phải có phân công, người làm việc này, người làm việc khác, nhưng việc nào cũng cần thiết, cũng quan trọng”Những quan điểm trên đã tạo nên những giá trị đặc sắc về phương pháp luận trong hoạt động thực tiễn, đó là tính mục đích, tính sát thực, khoa học của chương trình, kế hoạch và thực hành sáng tạolàm đến nơi đến chốn trong thực hiện các nhiệm vụ.

Theo Người, làm việc khoa học là phải giờ nào, việc ấy, chấp hành đúng giờ giấc, biết tôn trọng thời giờ của người khác, tránh lối làm việc tùy tiện, “được chăng hay chớ”, “bạ đâu hay đó”. Phong cách làm việc khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được biểu hiện ở chỗ: Khi làm xong một công việc, dù thành công hay thất bại, đều phải tiến hành tổng kết, rút kinh nghiệm để khắc phục sai lầm, khuyết điểm, thực hiện các nhiệm vụ được tốt hơn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở, cán bộ, đảng viên phải thường xuyên đi sâu thực tế, bám sát cơ sở, nắm chắc toàn diện tình hình, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, lắng nghe ý kiến  học hỏi kinh nghiệm của nhân dân. Người yêu cầu cán bộ phải sâu sát, nắm tới “cái ăn, cái mặc”; nắm tâm tư, nguyện vọng, niềm vui, nỗi buồn của nhân dân; muốn vậy, cán bộ ở cơ quan hay ở cơ sở phải luôn cụ thể, tỉ mỉ, phải kết hợp giữa “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh”. Người đã nghiêm khắc phê phán các cán bộ tự coi mình là “quan cách mạng”, “quan nhân dân”, quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân. Cán bộ cần thực hiện “lời nói đi đôi với việc làm”; phương pháp cơ bản trong tuyên truyền, vận động cách mạng là “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”; phải biết đặt lợi ích tập thể, lợi ích giai cấp lên trên lợi ích cá nhân. Người viết: “Nhất là đối với chữ CẦN, chữ KIỆM, chữ HY SINH, chữ CÔNG BẰNG thì các bạn phải thực hành trước, phải làm gương cho dân chúng theo”(5)Hệ thống triết lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị đặc biệt về phương pháp luận, đặc biệt là tính thống nhất biện chứng trong nhận thức và hành động, giữa lý luận và thực tiễn, nói đi đôi với làm, gần dân, sát dân, nêu gương trong công việc hằng ngày.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân sinh động, là tấm gương sáng ngời về phương pháp làm việc khoa học, khách quan, dân chủ, trung thực, sáng tạo. Đặc biệt, Người cũng rất quan tâm đến công việc bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp, tác phong làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó.

Hiện nay, cùng với việc đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc cũng đặt ra đòi hỏi cao về phẩm chất và năng lực ở đội ngũ cán bộ. Tuy nhiên, cùng với những ưu điểm, thì đội ngũ cán bộ hiện nay vẫn còn những hạn chế về phẩm chất, năng lực, trong đó có phương pháp làm việc. Ở một số cán bộ cấp chiến lược vẫn còn có những biểu hiện giáo điều, lý luận không gắn với thực tiễn, nói không đi đôi với làm,... Cán bộ cơ sở không đồng đều về trình độ chuyên môn, nghiệp vụchưa nắm vững khoa học - công nghệ hiện đại để áp dụng vào thực tiễn công tác. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên, trong đó có công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ còn một số hạn chế, nặng về lý thuyết, thiếu cập nhật kiến thức và kỹ năng lãnh đạo thực tiễn... Trước thực trạng trên, Đảng ta đã xác định một trong các nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIII là: “Xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Đội ngũ cán bộ cần được thường xuyên bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học theo tư tưởng Hồ Chí Minh; qua đó, làm cơ sở trực tiếp để xây dựng phương pháp công tác cụ thể cho hoạt động của cán bộ các cấp. Bởi lẽ, dù người cán bộ có tri thức, trình độ lý luận và năng lực, tâm huyết, nhưng nếu không được trang bị phương pháp làm việc khoa học thì khó có thể đạt được thành công trong công việc.

Tổ tuyên truyền bầu cử cùng các đồng chí cấp ủy, chính quyền xã Hiền Lương, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình kiểm tra và thực hiện những hướng dẫn sau cùng cho đại diện cử tri của các xóm trong xã_Ảnh: TTXVN

Một số giải pháp chủ yếu nhằm cải tiến phương pháp làm việc khoa học của đội ngũ cán bộ hiện nay

Để bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp:

Một là, nâng cao nhận thức về công tác bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ.

Cần nhận thức sâu sắc về tính khách quan, tất yếu phải thường xuyên cập nhật tri thức mới, phương pháp, kinh nghiệm làm việc cho đội ngũ cán bộ. Trong đó, phương pháp làm việc khoa học theo tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị đặc biệt, là cẩm nang vô giá, làm cơ sở trực tiếp để định hướng phương pháp làm việc cụ thể cho cán bộ các cấp.

Người làm công tác cán bộ ở mỗi cơ quan, đơn vị cần nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò và sự cần thiết phải bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học; hiểu rõ những nội dung cơ bản về phong cách làm việc khoa học theo tư tưởng Hồ Chí Minh; nắm chắc điểm mạnh, yếu trong phương pháp làm việc của đội ngũ cán bộ, đảng viên, từ đó có sự vận dụng phù hợp; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện lệch lạc về tư tưởng, những việc làm sai trái, thiếu trách nhiệm trong công tác bồi dưỡng, xây dựng phương pháp làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Hai là, bồi dưỡng hệ thống lý luận, phương pháp luận khoa học, cơ sở pháp lý và những nguyên tắc cho phương thức, biện pháp hoạt động của đội ngũ cán bộ.

Quá trình bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ trước hết cần chú trọng bồi dưỡng lý luận Mác - Lê-nin gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trong đó, đặc biệt chú ý bồi dưỡng hệ thống phương pháp, phong cách, tư duy làm việc của Người; phương pháp tư duy mới, hiện đại làm cơ sở, nền tảng để nâng cao năng lực tư duy, phương pháp làm việc khoa học của đội ngũ cán bộ hiện nay. Đội ngũ giảng viên, báo cáo viên có vai trò rất quan trọng trong bồi dưỡng hệ thống lý luận, phương pháp luận khoa học cho cán bộ. Cùng với nguồn nhân lực giảng viên, báo cáo viên tại cơ sở, cần có cơ chế mở rộng hợp tác thường xuyên với lực lượng giảng viên có chất lượng cao ở các cơ quan của Đảng, Nhà nước, các học viện, nhà trường và giảng viên là lãnh đạo các cơ quan, đơn vị…

Trong quá trình bồi dưỡng, cần giáo dục cho đội ngũ cán bộ có tinh thần, thái độ kiên quyết đấu tranh phê phán những căn bệnh chủ quan, gia trưởng, hách dịch, kiêu ngạo, quan liêu, mệnh lệnh, thiếu kỷ luật, ghen ghét, đố kỵ, cá nhân chủ nghĩa, tư lợi, giáo điều, máy móc, làm không đến nơi đến chốn, biếng nhác…

Văn hóa là sức mạnh nội sinh, là nền tảng tinh thần cho sự phát triển bền vững, vì vậy, đội ngũ cán bộ phải được bồi dưỡng về đạo đức, văn hóa, lối sống, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đặc biệt, phải chú trọng bồi dưỡng văn hóa lãnh đạo, quản lý; văn hóa chỉ huy, tổ chức, điều hành; văn hóa công sở, văn hóa ứng xử; văn hóa từ chức...

Ba là, bồi dưỡng, cập nhật những nội dung, phương pháp làm việc mới cho đội ngũ cán bộ.

Trước sự phát triển nhanh chóng của thời cuộc, yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao, cần thường xuyên, kịp thời bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ những nội dung về phương pháp lãnh đạo, quản lý mới, gắn với những chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước và định hướng cách thức tổ chức, triển khai hiệu quả. Đội ngũ cán bộ phải được quán triệt một cách toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, đặc biệt là những phương hướng, chủ trương, biện pháp mới, những phát triển đột phá... phù hợp với cương vị, chức trách được giao. Đội ngũ cán bộ cần nắm chắc những nội dung cốt lõi, nội dung mới, cấp thiết trên các lĩnh vực chuyên môn đảm nhiệm, từ đó xác định kế hoạch, giải pháp khoa học, cụ thể, sát hợp với công tác lãnh đạo, tổ chức quản lý của mình.

Trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và thực hiện chương trình cải cách hành chính của Chính phủ, đội ngũ cán bộ cần cập nhật những tri thức khoa học hiện đại, có năng lực, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ vào hoạt động thực tiễn; bắt nhịp với xu thế phát triển của thế giớiđẩy mạnh xây dựng chính quyền điện tử theo kịp sự phát triển, tiến bộ khoa học công nghệ. Đội ngũ cán bộ cần được bồi dưỡng cách thức khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị hiện đại trong công việc, làm việc qua mạng, trực tuyến; gương mẫu và tích cực vận động nhân dân tham gia dịch vụ công trực tuyến, văn hóa trên không gian mạng, chú trọng đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển nền kinh tế số, xã hội số.

Đội ngũ cán bộ phải có năng lực và kỹ năng giải quyết những vấn đề cấp bách, cấp thiết theo phạm vi, chức năng của cơ quan, đơn vị, nhất là trước tình hình diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19 như hiện naycần có bản lĩnh, tri thức, phương pháp làm việc để góp phần thực hiện mục tiêu kép, vừa phát triển kinh tế xã hội, vừa thích nghi, ngăn ngừa, phòng, chống hiệu quả đại dịch COVID-19.

Bốn là, đổi mới và nâng cao tính thực tiễn trong công tác bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ.

Cần linh hoạt, kịp thời lựa chọn các hình thức, biện pháp bồi dưỡng cụ thể, phù hợp với từng đối tượng. Đa dạng hóa các hình thức bồi dưỡng, đào tạo, như tập trung, bán tập trung; vừa làm, vừa học; bồi dưỡng từ xa, bồi dưỡng qua hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở; lấy người học làm trung tâm để thiết kế nội dung, phương pháp giảng dạy phù hợp, tránh tình trạng độc thoại” của giảng viên, tăng cường các hình thức tương tác trong công tác đào tạo, bồi dưỡng. Khuyến khích tinh thần tự học của cán bộ, “lấy tự học làm cốt”, “đề cao ý thức tự học và việc lựa chọn chương trình bồi dưỡng theo yêu cầu vị trí việc làm của cán bộ, công chức, viên chức”. Nâng cao chất lượng bồi dưỡng qua các loại hình sinh hoạt chuyên môn và theo phương châm “cấp trên bồi dưỡng cấp dướiKết hợp và phát huy hiệu quả hệ thống các thiết bị, phương tiện truyền thống và hiện đại cho công tác bồi dưỡng.

Nâng cao tính hiệu quả của công tác bồi dưỡng bằng phương pháp nêu gương. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp phải là những tấm gương sáng về phong cách, đạo đức, lối sống, chuyên môn để cho cấp dưới học tập, noi theo.

Cần chú ý bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ qua thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân, bảo đảm thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; tìm ra được những phương pháp tư duy mới, ý tưởng sáng tạo, cách làm hay; chú trọng công tác tổng kết thực tiễn. Nâng cao hiệu quả công tác luân chuyển cán bộ, qua đó rèn luyện bản lĩnh, tích lũy kinh nghiệm và tạo cơ hội cho cán bộ phát huy năng lực sáng tạo, mài sắc tư duy khoa học, vốn tri thức và phương pháp làm việc khoa học.

Năm là, hoàn thiện tiêu chuẩn các đối tượng cán bộ, góp phần nâng cao khả năng làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ.

Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần cụ thể hóa các tiêu chí về phẩm chất, nhân cách, năng lực phù hợp với từng đối tượng cán bộ theo chức danh, theo ngạch, vị trí việc làm, theo cấp hành chính hoặc theo ngành, lĩnh vực công tác để làm cơ sở triển khai trong thực tiễn, trong đó, tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cấp và đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, gắn với thực hiện tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.

Sáu là, thực hiện tốt chính sách cán bộ, đổi mới công tác thi đua - khen thưởng, tạo động lực cho cán bộ cải tiến phương pháp làm việc khoa học.

Thực hiện tốt chế độ đãi ngộ - sử dụng cán bộđổi mới công tác đánh giá, bình xét, thi đua - khen thưởng, lấy hiệu quả công việc làm thước đo quan trọng nhất. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ việc cải tiến phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả với phong trào thi đua học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị; đưa phong trào thực sự đi vào cuộc sống, khơi dậy, động viên, lôi cuốn cán bộ, đảng viên tích cực tham gia, hưởng ứng.

Phương pháp làm việc khoa học là một nội dung quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh, là tài sản hết sức giá trị trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Học tập phương pháp làm việc khoa học của Người chính là một cách để mỗi cán bộ, đảng viên thiết thực thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị khóa XII, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng./.

ST.

Hồ Chí Minh - Hiện thân của đổi mới; tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người soi sáng sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhân dân ta

Mấy thập niên gần đây, nhiều học giả Việt Nam và nước ngoài đã nghiên cứu rất sâu sắc về các khía cạnh cơ bản trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, có một vấn đề rất nổi bật là phản ánh giá trị bao trùm và cống hiến đặc sắc của Người - tư tưởng, đạo đức, phong cách đổi mới, lại chưa được đề cập đúng tầm. Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, với quyết tâm đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, khơi dậy ý chí, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; vì thế, làm rõ giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách đổi mới Hồ Chí Minh là công việc cấp thiết hiện nay.

Đổi mới, không ngừng đổi mới vì lợi ích của đất nước, dân tộc -  sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hy sinh, phấn đấu vô cùng cao đẹp và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cuộc đời một con người trọn đời vì dân, vì nước. Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Chính lòng yêu nước nồng nàn, ý thức trách nhiệm trước vận mệnh đất nước, dân tộc là động lực thôi thúc Người nung nấu tinh thần đổi mới từ rất sớm, đổi mới không ngừng.

Ngay từ năm 1911, khi đất nước còn đắm chìm trong đêm dài nô lệ, Nguyễn Ái Quốc -  Hồ Chí Minh đã quyết định đi tìm chân lý cứu nước, với một hướng đi mới, một phương pháp tiếp cận mới, phương thức hành động mới. Đi về phương Tây, tiếp thu những trào lưu tư tưởng mới, khảo nghiệm những cuộc cách mạng điển hình trên thế giới; “tắm mình” trong phong trào cách mạng của giai cấp vô sản và cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, bóc lột; đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tìm ra chân lý cứu nước và con đường giải phóng cho dân tộc. Đó là cuộc đổi mới vĩ đại đầu tiên của Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh, được thực hiện bằng một dự cảm thiên tài, một cuộc khảo nghiệm, đúc kết lịch sử, cách mạng nghiêm cẩn, khoa học, mang ý nghĩa quyết định đến vận mệnh của đất nước và của dân tộc.

Lắng nghe lời Bác dạy _Tranh: Tư liệu

Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới, đặc biệt là Cách mạng Tháng Mười Nga; đổi mới tư duy trong xây dựng, không ngừng hoàn thiện đường lối chiến lược, sách lược cách mạng; đổi mới phương thức lãnh đạo, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân giành độc lập, tự do; xây dựng Nhà nước cách mạng, tiến hành sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc; đánh bại các cuộc chiến tranh xâm lược, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất đất nước; từng bước đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, khắc phục đói nghèo, lạc hậu,... Tư duy đổi mới, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin phù hợp với điều kiện của Việt Nam và các nước thuộc địa, nhất là tư tưởng về Đảng Cộng sản cầm quyền, về cách mạng thuộc địa, về đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất, về nhà nước dân chủ nhân dân, về chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước thuộc địa nửa phong kiến,... là những cống hiến quan trọng vào kho tàng lý luận cách mạng thế giới, làm mới mẻ, sinh động và tăng thêm sức sống tiềm tàng của chủ nghĩa xã hội khoa học. Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ năm 1941, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng đến năm 1969, khi Người từ trần, là một công cuộc đổi mới liên tục của Đảng, nhân dân ta theo ngọn cờ và sự dẫn dắt của “Tổng công trình sư” đổi mới Hồ Chí Minh.

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự báo, tiên liệu bối cảnh thế giới, tình hình đất nước và phác thảo những đường nét cơ bản của công cuộc kiến thiết toàn diện đất nước sau chiến tranh theo tinh thần đổi mới, thể hiện trong bản Di chúc bất hủ. Người tiên liệu những công việc mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải quyết tâm phấn đấu thực hiện, từ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, chăm lo cho con người, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, chú trọng bồi dưỡng thế hệ trẻ, chuẩn bị thế hệ cách mạng kế cận cho đời sau, làm tròn nghĩa vụ quốc tế...; đến tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt quan tâm đến giáo dục, phát triển đội ngũ cán bộ, đảng viên,... Đó là sự đúc kết kinh nghiệm, bài học lịch sử, dự báo và định hướng phát triển đất nước theo tinh thần đổi mới. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bản phác thảo những đường nét chung nhất, bao quát nhất về công cuộc cải biến vĩ đại, nhằm xóa bỏ những gì cũ kỹ, lạc hậu, sáng tạo ra những giá trị mới, cuộc sống mới. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh kết tinh trong Di chúc lịch sử là nền tảng tư tưởng, tinh thần của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo từ Đại hội lần thứ VI của Đảng đến nay. Thực tiễn cách mạng Việt Nam mấy thập niên qua khẳng định tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của đổi mới, là mẫu hình để thiết kế, thi công các công trình vĩ đại của sự nghiệp cách mạng Việt Nam theo tinh thần và quyết tâm đổi mới.

Đổi mới trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Thuật ngữ và tư tưởng “đổi mới” được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập từ sớm trong tác phẩm “Đường kách mệnh” năm 1927; sau đó, được Người nhắc lại, làm rõ thêm trong nhiều bài viết, bài nói, nổi bật là “Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947), “Đời sống mới” (năm 1947), “Dân vận”  (năm 1949), đặc biệt là trong bản Di chúc thiêng liêng (năm 1965 - năm 1969), để lại cho toàn Đảng, toàn dân trước lúc Người đi xa. Từ các bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh toát lên một hệ thống luận điểm có giá trị nền tảng và định hướng về đổi mới.

Thứ nhất, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đổi mới là bản chất của cách mạng, của phát triển. Trong “Đường kách mệnh”, Người chỉ rõ: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”. Nói về công cuộc kiến thiết đất nước sau khi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước thắng lợi, Người nhấn mạnh: “Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”.

Thứ hai, đổi mới phải vì nước, vì dân. Triết lý đổi mới, chân lý đổi mới trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là ích nước, lợi dân. Người luôn căn dặn: “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý”; “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”.

Thứ ba, đổi mới phải xuất phát từ nhu cầu khách quan của thực tiễn, phù hợp với điều kiện thực tiễn và giải quyết hiệu quả những đòi hỏi của thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan niệm thực tiễn là xuất phát điểm của tư duy, hành động; là sự kiểm chứng chân lý khoa học. Người căn dặn: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc đấu tranh, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính”. Chính vì thế mà tìm tòi, sáng tạo cái mới, phải luôn gắn với thực tiễn, chú trọng tổng kết thực tiễn, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo tính đúng đắn của đổi mới.

Thứ tư, đổi mới là sự nghiệp lâu dài, phức tạp, gian khổ, phải kiên định, kiên quyết, kiên trì, lựa chọn những bước đi thích hợp. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói thắng đế quốc, phong kiến là tương đối dễ, thắng bần cùng, lạc hậu còn khó hơn nhiều; đấu tranh xóa bỏ cái cũ, xây dựng cái mới là công việc cực kỳ to lớn, nặng nề, phức tạp và khó khăn, do vậy, phải có kế hoạch thật tỉ mỉ, chuẩn bị chu đáo, thực hiện chắc chắn.

Thứ năm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đổi mới không phải là phủ định sạch trơn, mà là sự kế thừa và phát triển; cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ, cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý, cái gì cũ mà tốt thì phát triển thêm, cái gì mới mà hay thì phải làm.

Thứ sáu, sức mạnh của đổi mới là nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: “Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”; phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại theo tinh thần cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, Việt Nam sẵn sàng là bạn của các nước dân chủ.

Thứ bảy, Đảng là linh hồn của đổi mới; cán bộ, đảng viên phải đi tiên phong trong sự nghiệp đổi mới. Đảng phải vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng của Việt Nam để thực hiện đường lối, chủ trương đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dạy: “Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Hệ thống luận điểm về đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh được diễn đạt giản dị, dễ hiểu, nhưng hàm chứa chiều sâu, tầm cao về tư tưởng và đúc kết tinh túy đạo đức đổi mới, phong cách đổi mới của Người.

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng đổi mới là tư tưởng cách mạng, khoa học trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kết hợp với tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại, phản ánh và giải quyết những nhu cầu khách quan của thực tiễn đất nước; đạo đức đổi mới là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của dân tộc, Tổ quốc lên trên hết, trước hết, đổi mới vì một nước Việt Nam độc lập, hòa bình, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh; phong cách đổi mới là kiên định, sáng tạo, dân chủ, thực tiễn, hiệu quả, nói đi đôi với làm, làm thiết thực, mang lại kết quả thực tế cho nhân dân, cho đất nước. Đó chính là những giá trị bền vững của tư tưởng, đạo đức, phong cách đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh soi sáng con đường đổi mới của Đảng, của nhân dân ta

Vào giữa thập niên 80 của thế kỷ XX, do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan, đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Trước tình hình như vậy, Đảng ta quyết tâm phát động, lãnh đạo công cuộc đổi mới. Trong quá trình trăn trở, tìm tòi con đường đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy phát triển đất nước, Đảng ta nhận thức sâu sắc: Muốn đổi mới tư duy, Đảng phải nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đúc kết những bài học từ thực tiễn cách mạng nước ta, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, năm 1986 - Đại hội khai phóng con đường đổi mới, trên cơ sở quán triệt những luận điểm cốt lõi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nhấn mạnh các bài học “lấy dân làm gốc”; xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan; kết hợp sức mạnh dân tộc và thời đại; xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ.

Đường lối đổi mới của Đảng luôn thấm nhuần sâu sắc tư tưởng, đạo đức, phong cách đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã làm sáng tỏ những nhận thức cơ bản về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta (Trong ảnh: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm mô hình nuôi tôm siêu thâm canh trong khu nhà kín ở xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu) _Ảnh : Trí Dũng – TTXVN

Trải qua hơn 35 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới; đồng thời, với việc kiên định, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Đảng ta đặc biệt chú trọng kế thừa, cụ thể hóa tư tưởng, đạo đức, phong cách đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, (năm 1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Văn kiện các đại hội Đảng, các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương các nhiệm kỳ từ năm 1986 đến nay. Đường lối đổi mới của Đảng luôn thấm nhuần sâu sắc tư tưởng, đạo đức, phong cách đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã làm sáng tỏ những nhận thức cơ bản về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, trở thành ngọn cờ dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, mở rộng hoạt động đối ngoại, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thực tiễn hơn 35 năm đổi mới đã minh chứng hùng hồn rằng, nếu muốn thích ứng và đối phó xử lý thành công những vấn đề mà chủ nghĩa xã hội đang gặp phải trên con đường phát triển đầy khó khăn, thử thách, thì chúng ta phải không ngừng học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng cách phát triển những phẩm chất đã thể hiện trong suốt cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài của Người.

Hiện nay, đất nước ta bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, với những thời cơ, vận hội lớn đan xen, với không ít khó khăn, thách thức. Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững, phấn đấu “Đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đó, toàn Đảng, toàn dân ta phải tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới. Với giá trị bền vững và sức sống mãnh liệt, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tiếp tục soi đường, chỉ lối cho Đảng và dân tộc ta trên con đường đổi mới. Chúng ta cần quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo và phát huy những giá trị to lớn trong tư tưởng, đạo đức, phong cách đổi mới của Người.

Một là, kiên định, vững vàng và không ngừng sáng tạo xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Muốn đổi mới thắng lợi, phải kiên định lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định đường lối đổi mới và những nguyên tắc xây dựng Đảng. Kiên định, vững vàng, không dao động, “đổi mới” không “đổi mầu”, không rơi vào giáo điều, bảo thủ và phải không ngừng sáng tạo. Kết hợp tổng kết sâu sắc, toàn diện thực tiễn đổi mới của đất nước với nắm bắt, dự báo chính xác những chuyển biến mau lẹ của thời cuộc, những xu hướng phát triển mới của thế giới, cập nhật những tri thức mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những bài học thành công của các nước phù hợp với điều kiện nước ta, không ngừng hoàn thiện đường lối đổi mới, làm cho đường lối đổi mới phản ánh, giải quyết đúng những đòi hỏi khách quan của thực tiễn đất nước; đồng thời, phù hợp với xu thế thời đại. Đổi mới không ngừng, đổi mới sáng tạo, đổi mới vững chắc - đó chính là sự kế thừa, phát triển tư tưởng đổi mới, biện chứng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh lịch sử mới.

Hai là, nền tảng đạo đức của đổi mới là lợi ích tối cao của dân tộc, của nhân dân, hạnh phúc của con người. Lấy độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất và sự giàu mạnh của quốc gia làm mục đích trên hết, trước hết; lấy quyền làm chủ và lợi ích của nhân dân, sự phát triển toàn diện và hạnh phúc của con người Việt Nam làm đạo lý đổi mới. Nhân dân là chủ thể của đổi mới và là người thụ hưởng thành quả của đổi mới; con người là mục tiêu và động lực của đổi mới. Đó chính là bản chất nhân đạo, nhân văn của đổi mới theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đó cũng là giá trị bền vững và sức sống mãnh liệt của đổi mới. Thoát ly nền tảng đạo đức thì đổi mới không còn ý nghĩa gì.

Ba là, đổi mới, phát triển là một quy luật vận động khách quan của lịch sử, là nhu cầu, khát vọng của nhân loại. Toàn cầu hóa và sự phát triển bùng nổ công nghệ thông tin, cùng hệ thống kết cấu hạ tầng toàn cầu, làm cho các quốc gia ngày càng xích lại gần nhau, tùy thuộc lẫn nhau; hợp tác và hội nhập quốc tế sâu rộng trở thành một xu thế lớn không thể đảo ngược. Tư tưởng và sự chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sự gắn bó chặt chẽ cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, về việc tăng cường hợp tác quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trên cơ sở hòa bình, hữu nghị, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi,... vẫn còn nguyên vẹn giá trị định hướng con đường đổi mới. Tranh thủ nguồn lực bên ngoài là rất quan trọng; song, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn, nguồn lực nội sinh là quyết định, ngoại lực phải kết hợp với nội lực để nhân lên sức mạnh tổng hợp quốc gia; hợp tác, hội nhập nhưng phải giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính.

Bốn là, đổi mới là một quá trình cách mạng lâu dài, gian khổ, muốn giành thắng lợi, Đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng với tư cách là lực lượng lãnh đạo phải tự đổi mới, nêu gương đổi mới, trước hết là đổi mới phong cách tư duy, phong cách lãnh đạo, để phát huy đến mức cao nhất sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương lớn, truyền lại bài học lớn về phong cách đổi mới; nhạy bén nắm bắt diễn biến lịch sử, chủ động tranh thủ thời cơ, giữ vững nguyên tắc và mạnh dạn sáng tạo, kịp thời đổi mới, gắn liền lý luận với thực tiễn.

Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thống nhất với nhau, kết tinh thành lý luận - thực hành đổi mới. “Cống hiến lý luận của Hồ Chí Minh vừa có tính thời sự thiết thực, đáp ứng nhu cầu đương thời của cách mạng, vừa có giá trị lâu dài, là những gợi ý quan trọng và nguồn cảm hứng cho các thế hệ cách mạng về sau. Được hiểu và vận dụng một cách sáng tạo hệ thống luận điểm, lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh là có khả năng thích hợp với những diễn biến mới hiện nay của lịch sử, sống và phát huy tác dụng lâu dài trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới”. /.

ST.