Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2024
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐỂ DU LỊCH BIỂN ĐẢO VIỆT NAM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG!
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG TÌNH HÌNH MỚI!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NẠN GIẤY TỜ ĐÃ LÀM TỐN CỦA HAO CÔNG CỦA NHÂN DÂN!
Thứ Bảy, 3 tháng 2, 2024
Bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ cần phải có phương pháp làm việc khoa học; việc lớn hay việc nhỏ đều phải được xem xét, nghiên cứu tỉ mỉ, chính xác, xây dựng chương trình, nội dung, kế hoạch, biện pháp sát thực và tổ chức hoạt động thực tiễn một cách khoa học. Phương pháp làm việc khoa học gắn với cuộc đời, sự nghiệp vĩ đại của Người có giá trị định hướng quan trọng trong bồi dưỡng và xây dựng phương pháp làm việc đối với đội ngũ cán bộ hiện nay, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới.
Phương pháp làm việc khoa học theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Ngày 5-6-1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc với ý chí, nghị lực phi thường cho hành trình “năm châu bốn biển”, vì mục đích “muốn đi ra ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào tôi sẽ trở về giúp đỡ đồng bào chúng ta”. Cuộc hành trình 30 năm với tình cảm yêu nước nồng nàn, ý chí cách mạng sâu sắc, khát vọng cháy bỏng là giải phóng nước nhà khỏi ách nô lệ của thực dân, đế quốc, cùng tư duy uyên bác của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rèn giũa, tôi luyện và định hình nên phương pháp làm việc khoa học của Người. Đó chính là sự kết hợp giữa tri thức, tình cảm, ý chí và thực tiễn cách mạng với quan điểm biện chứng khoa học trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước khi thực hiện nhiệm vụ, bất kể việc gì, từ lớn đến nhỏ, người cán bộ đều phải xác định rõ mục đích, nội dung, chương trình, kế hoạch. Người yêu cầu tất cả cán bộ, công chức trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, đoàn thể từ Trung ương đến cơ sở phải xây dựng kế hoạch làm việc cụ thể, thiết thực, vừa sức; “nội dung một, kế hoạch mười, biện pháp phải hai mươi”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, người cách mạng phải có mục đích và tư tưởng đúng trong công việc thì hành động mới không sai lệch. Người yêu cầu mục đích, kế hoạch trong công việc phải rõ, như “người bắn cung phải hướng đích”. Kế hoạch làm việc phải cụ thể, sát thực, có trọng tâm, trọng điểm, không chung chung, dàn trải và phải có sự phân công trách nhiệm cụ thể. Người nhấn mạnh: “Cách mạng cũng như một bộ máy, phải có phân công, người làm việc này, người làm việc khác, nhưng việc nào cũng cần thiết, cũng quan trọng”. Những quan điểm trên đã tạo nên những giá trị đặc sắc về phương pháp luận trong hoạt động thực tiễn, đó là tính mục đích, tính sát thực, khoa học của chương trình, kế hoạch và thực hành sáng tạo, làm đến nơi đến chốn trong thực hiện các nhiệm vụ.
Theo Người, làm việc khoa học là phải giờ nào, việc ấy, chấp hành đúng giờ giấc, biết tôn trọng thời giờ của người khác, tránh lối làm việc tùy tiện, “được chăng hay chớ”, “bạ đâu hay đó”. Phong cách làm việc khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được biểu hiện ở chỗ: Khi làm xong một công việc, dù thành công hay thất bại, đều phải tiến hành tổng kết, rút kinh nghiệm để khắc phục sai lầm, khuyết điểm, thực hiện các nhiệm vụ được tốt hơn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở, cán bộ, đảng viên phải thường xuyên đi sâu thực tế, bám sát cơ sở, nắm chắc toàn diện tình hình, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, lắng nghe ý kiến và học hỏi kinh nghiệm của nhân dân. Người yêu cầu cán bộ phải sâu sát, nắm tới “cái ăn, cái mặc”; nắm tâm tư, nguyện vọng, niềm vui, nỗi buồn của nhân dân; muốn vậy, cán bộ ở cơ quan hay ở cơ sở phải luôn cụ thể, tỉ mỉ, phải kết hợp giữa “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh”. Người đã nghiêm khắc phê phán các cán bộ tự coi mình là “quan cách mạng”, “quan nhân dân”, quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân. Cán bộ cần thực hiện “lời nói đi đôi với việc làm”; phương pháp cơ bản trong tuyên truyền, vận động cách mạng là “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”; phải biết đặt lợi ích tập thể, lợi ích giai cấp lên trên lợi ích cá nhân. Người viết: “Nhất là đối với chữ CẦN, chữ KIỆM, chữ HY SINH, chữ CÔNG BẰNG thì các bạn phải thực hành trước, phải làm gương cho dân chúng theo”(5). Hệ thống triết lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị đặc biệt về phương pháp luận, đặc biệt là tính thống nhất biện chứng trong nhận thức và hành động, giữa lý luận và thực tiễn, nói đi đôi với làm, gần dân, sát dân, nêu gương trong công việc hằng ngày.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân sinh động, là tấm gương sáng ngời về phương pháp làm việc khoa học, khách quan, dân chủ, trung thực, sáng tạo. Đặc biệt, Người cũng rất quan tâm đến công việc bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp, tác phong làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó.
Hiện nay, cùng với việc đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc cũng đặt ra đòi hỏi cao về phẩm chất và năng lực ở đội ngũ cán bộ. Tuy nhiên, cùng với những ưu điểm, thì đội ngũ cán bộ hiện nay vẫn còn những hạn chế về phẩm chất, năng lực, trong đó có phương pháp làm việc. Ở một số cán bộ cấp chiến lược vẫn còn có những biểu hiện giáo điều, lý luận không gắn với thực tiễn, nói không đi đôi với làm,... Cán bộ cơ sở không đồng đều về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, chưa nắm vững khoa học - công nghệ hiện đại để áp dụng vào thực tiễn công tác. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên, trong đó có công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ còn một số hạn chế, nặng về lý thuyết, thiếu cập nhật kiến thức và kỹ năng lãnh đạo thực tiễn... Trước thực trạng trên, Đảng ta đã xác định một trong các nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIII là: “Xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Đội ngũ cán bộ cần được thường xuyên bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học theo tư tưởng Hồ Chí Minh; qua đó, làm cơ sở trực tiếp để xây dựng phương pháp công tác cụ thể cho hoạt động của cán bộ các cấp. Bởi lẽ, dù người cán bộ có tri thức, trình độ lý luận và năng lực, tâm huyết, nhưng nếu không được trang bị phương pháp làm việc khoa học thì khó có thể đạt được thành công trong công việc.

Một số giải pháp chủ yếu nhằm cải tiến phương pháp làm việc khoa học của đội ngũ cán bộ hiện nay
Để bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp:
Một là, nâng cao nhận thức về công tác bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ.
Cần nhận thức sâu sắc về tính khách quan, tất yếu phải thường xuyên cập nhật tri thức mới, phương pháp, kinh nghiệm làm việc cho đội ngũ cán bộ. Trong đó, phương pháp làm việc khoa học theo tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị đặc biệt, là cẩm nang vô giá, làm cơ sở trực tiếp để định hướng phương pháp làm việc cụ thể cho cán bộ các cấp.
Người làm công tác cán bộ ở mỗi cơ quan, đơn vị cần nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò và sự cần thiết phải bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học; hiểu rõ những nội dung cơ bản về phong cách làm việc khoa học theo tư tưởng Hồ Chí Minh; nắm chắc điểm mạnh, yếu trong phương pháp làm việc của đội ngũ cán bộ, đảng viên, từ đó có sự vận dụng phù hợp; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện lệch lạc về tư tưởng, những việc làm sai trái, thiếu trách nhiệm trong công tác bồi dưỡng, xây dựng phương pháp làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Hai là, bồi dưỡng hệ thống lý luận, phương pháp luận khoa học, cơ sở pháp lý và những nguyên tắc cho phương thức, biện pháp hoạt động của đội ngũ cán bộ.
Quá trình bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ trước hết cần chú trọng bồi dưỡng lý luận Mác - Lê-nin gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trong đó, đặc biệt chú ý bồi dưỡng hệ thống phương pháp, phong cách, tư duy làm việc của Người; phương pháp tư duy mới, hiện đại làm cơ sở, nền tảng để nâng cao năng lực tư duy, phương pháp làm việc khoa học của đội ngũ cán bộ hiện nay. Đội ngũ giảng viên, báo cáo viên có vai trò rất quan trọng trong bồi dưỡng hệ thống lý luận, phương pháp luận khoa học cho cán bộ. Cùng với nguồn nhân lực giảng viên, báo cáo viên tại cơ sở, cần có cơ chế mở rộng hợp tác thường xuyên với lực lượng giảng viên có chất lượng cao ở các cơ quan của Đảng, Nhà nước, các học viện, nhà trường và giảng viên là lãnh đạo các cơ quan, đơn vị…
Trong quá trình bồi dưỡng, cần giáo dục cho đội ngũ cán bộ có tinh thần, thái độ kiên quyết đấu tranh phê phán những căn bệnh chủ quan, gia trưởng, hách dịch, kiêu ngạo, quan liêu, mệnh lệnh, thiếu kỷ luật, ghen ghét, đố kỵ, cá nhân chủ nghĩa, tư lợi, giáo điều, máy móc, làm không đến nơi đến chốn, biếng nhác…
Văn hóa là sức mạnh nội sinh, là nền tảng tinh thần cho sự phát triển bền vững, vì vậy, đội ngũ cán bộ phải được bồi dưỡng về đạo đức, văn hóa, lối sống, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đặc biệt, phải chú trọng bồi dưỡng văn hóa lãnh đạo, quản lý; văn hóa chỉ huy, tổ chức, điều hành; văn hóa công sở, văn hóa ứng xử; văn hóa từ chức...
Ba là, bồi dưỡng, cập nhật những nội dung, phương pháp làm việc mới cho đội ngũ cán bộ.
Trước sự phát triển nhanh chóng của thời cuộc, yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao, cần thường xuyên, kịp thời bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ những nội dung về phương pháp lãnh đạo, quản lý mới, gắn với những chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước và định hướng cách thức tổ chức, triển khai hiệu quả. Đội ngũ cán bộ phải được quán triệt một cách toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, đặc biệt là những phương hướng, chủ trương, biện pháp mới, những phát triển đột phá... phù hợp với cương vị, chức trách được giao. Đội ngũ cán bộ cần nắm chắc những nội dung cốt lõi, nội dung mới, cấp thiết trên các lĩnh vực chuyên môn đảm nhiệm, từ đó xác định kế hoạch, giải pháp khoa học, cụ thể, sát hợp với công tác lãnh đạo, tổ chức quản lý của mình.
Trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và thực hiện chương trình cải cách hành chính của Chính phủ, đội ngũ cán bộ cần cập nhật những tri thức khoa học hiện đại, có năng lực, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ vào hoạt động thực tiễn; bắt nhịp với xu thế phát triển của thế giới; đẩy mạnh xây dựng chính quyền điện tử theo kịp sự phát triển, tiến bộ khoa học - công nghệ. Đội ngũ cán bộ cần được bồi dưỡng cách thức khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị hiện đại trong công việc, làm việc qua mạng, trực tuyến; gương mẫu và tích cực vận động nhân dân tham gia dịch vụ công trực tuyến, văn hóa trên không gian mạng, chú trọng đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển nền kinh tế số, xã hội số.
Đội ngũ cán bộ phải có năng lực và kỹ năng giải quyết những vấn đề cấp bách, cấp thiết theo phạm vi, chức năng của cơ quan, đơn vị, nhất là trước tình hình diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19 như hiện nay, cần có bản lĩnh, tri thức, phương pháp làm việc để góp phần thực hiện mục tiêu kép, vừa phát triển kinh tế - xã hội, vừa thích nghi, ngăn ngừa, phòng, chống hiệu quả đại dịch COVID-19.
Bốn là, đổi mới và nâng cao tính thực tiễn trong công tác bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ.
Cần linh hoạt, kịp thời lựa chọn các hình thức, biện pháp bồi dưỡng cụ thể, phù hợp với từng đối tượng. Đa dạng hóa các hình thức bồi dưỡng, đào tạo, như tập trung, bán tập trung; vừa làm, vừa học; bồi dưỡng từ xa, bồi dưỡng qua hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở; lấy người học làm trung tâm để thiết kế nội dung, phương pháp giảng dạy phù hợp, tránh tình trạng “độc thoại” của giảng viên, tăng cường các hình thức tương tác trong công tác đào tạo, bồi dưỡng. Khuyến khích tinh thần tự học của cán bộ, “lấy tự học làm cốt”, “đề cao ý thức tự học và việc lựa chọn chương trình bồi dưỡng theo yêu cầu vị trí việc làm của cán bộ, công chức, viên chức”. Nâng cao chất lượng bồi dưỡng qua các loại hình sinh hoạt chuyên môn và theo phương châm “cấp trên bồi dưỡng cấp dưới”. Kết hợp và phát huy hiệu quả hệ thống các thiết bị, phương tiện truyền thống và hiện đại cho công tác bồi dưỡng.
Nâng cao tính hiệu quả của công tác bồi dưỡng bằng phương pháp nêu gương. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp phải là những tấm gương sáng về phong cách, đạo đức, lối sống, chuyên môn để cho cấp dưới học tập, noi theo.
Cần chú ý bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ qua thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân, bảo đảm thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; tìm ra được những phương pháp tư duy mới, ý tưởng sáng tạo, cách làm hay; chú trọng công tác tổng kết thực tiễn. Nâng cao hiệu quả công tác luân chuyển cán bộ, qua đó rèn luyện bản lĩnh, tích lũy kinh nghiệm và tạo cơ hội cho cán bộ phát huy năng lực sáng tạo, mài sắc tư duy khoa học, vốn tri thức và phương pháp làm việc khoa học.
Năm là, hoàn thiện tiêu chuẩn các đối tượng cán bộ, góp phần nâng cao khả năng làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ.
Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần cụ thể hóa các tiêu chí về phẩm chất, nhân cách, năng lực… phù hợp với từng đối tượng cán bộ theo chức danh, theo ngạch, vị trí việc làm, theo cấp hành chính hoặc theo ngành, lĩnh vực công tác để làm cơ sở triển khai trong thực tiễn, trong đó, tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cấp và đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, gắn với thực hiện tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.
Sáu là, thực hiện tốt chính sách cán bộ, đổi mới công tác thi đua - khen thưởng, tạo động lực cho cán bộ cải tiến phương pháp làm việc khoa học.
Thực hiện tốt chế độ đãi ngộ - sử dụng cán bộ; đổi mới công tác đánh giá, bình xét, thi đua - khen thưởng, lấy hiệu quả công việc làm thước đo quan trọng nhất. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ việc cải tiến phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả với phong trào thi đua học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị; đưa phong trào thực sự đi vào cuộc sống, khơi dậy, động viên, lôi cuốn cán bộ, đảng viên tích cực tham gia, hưởng ứng.
Phương pháp làm việc khoa học là một nội dung quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh, là tài sản hết sức giá trị trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Học tập phương pháp làm việc khoa học của Người chính là một cách để mỗi cán bộ, đảng viên thiết thực thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị khóa XII, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng./.
ST.
Hồ Chí Minh - Hiện thân của đổi mới; tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người soi sáng sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhân dân ta
Mấy thập niên gần đây, nhiều học giả Việt Nam và nước ngoài đã nghiên cứu rất sâu sắc về các khía cạnh cơ bản trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, có một vấn đề rất nổi bật là phản ánh giá trị bao trùm và cống hiến đặc sắc của Người - tư tưởng, đạo đức, phong cách đổi mới, lại chưa được đề cập đúng tầm. Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, với quyết tâm đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, khơi dậy ý chí, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; vì thế, làm rõ giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách đổi mới Hồ Chí Minh là công việc cấp thiết hiện nay.
Đổi mới, không ngừng đổi mới vì lợi ích của đất nước, dân tộc - sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hy sinh, phấn đấu vô cùng cao đẹp và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cuộc đời một con người trọn đời vì dân, vì nước. Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Chính lòng yêu nước nồng nàn, ý thức trách nhiệm trước vận mệnh đất nước, dân tộc là động lực thôi thúc Người nung nấu tinh thần đổi mới từ rất sớm, đổi mới không ngừng.
Ngay từ năm 1911, khi đất nước còn đắm chìm trong đêm dài nô lệ, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã quyết định đi tìm chân lý cứu nước, với một hướng đi mới, một phương pháp tiếp cận mới, phương thức hành động mới. Đi về phương Tây, tiếp thu những trào lưu tư tưởng mới, khảo nghiệm những cuộc cách mạng điển hình trên thế giới; “tắm mình” trong phong trào cách mạng của giai cấp vô sản và cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, bóc lột; đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tìm ra chân lý cứu nước và con đường giải phóng cho dân tộc. Đó là cuộc đổi mới vĩ đại đầu tiên của Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh, được thực hiện bằng một dự cảm thiên tài, một cuộc khảo nghiệm, đúc kết lịch sử, cách mạng nghiêm cẩn, khoa học, mang ý nghĩa quyết định đến vận mệnh của đất nước và của dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới, đặc biệt là Cách mạng Tháng Mười Nga; đổi mới tư duy trong xây dựng, không ngừng hoàn thiện đường lối chiến lược, sách lược cách mạng; đổi mới phương thức lãnh đạo, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân giành độc lập, tự do; xây dựng Nhà nước cách mạng, tiến hành sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc; đánh bại các cuộc chiến tranh xâm lược, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất đất nước; từng bước đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, khắc phục đói nghèo, lạc hậu,... Tư duy đổi mới, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin phù hợp với điều kiện của Việt Nam và các nước thuộc địa, nhất là tư tưởng về Đảng Cộng sản cầm quyền, về cách mạng thuộc địa, về đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất, về nhà nước dân chủ nhân dân, về chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước thuộc địa nửa phong kiến,... là những cống hiến quan trọng vào kho tàng lý luận cách mạng thế giới, làm mới mẻ, sinh động và tăng thêm sức sống tiềm tàng của chủ nghĩa xã hội khoa học. Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ năm 1941, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng đến năm 1969, khi Người từ trần, là một công cuộc đổi mới liên tục của Đảng, nhân dân ta theo ngọn cờ và sự dẫn dắt của “Tổng công trình sư” đổi mới Hồ Chí Minh.
Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự báo, tiên liệu bối cảnh thế giới, tình hình đất nước và phác thảo những đường nét cơ bản của công cuộc kiến thiết toàn diện đất nước sau chiến tranh theo tinh thần đổi mới, thể hiện trong bản Di chúc bất hủ. Người tiên liệu những công việc mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải quyết tâm phấn đấu thực hiện, từ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, chăm lo cho con người, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, chú trọng bồi dưỡng thế hệ trẻ, chuẩn bị thế hệ cách mạng kế cận cho đời sau, làm tròn nghĩa vụ quốc tế...; đến tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt quan tâm đến giáo dục, phát triển đội ngũ cán bộ, đảng viên,... Đó là sự đúc kết kinh nghiệm, bài học lịch sử, dự báo và định hướng phát triển đất nước theo tinh thần đổi mới. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bản phác thảo những đường nét chung nhất, bao quát nhất về công cuộc cải biến vĩ đại, nhằm xóa bỏ những gì cũ kỹ, lạc hậu, sáng tạo ra những giá trị mới, cuộc sống mới. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh kết tinh trong Di chúc lịch sử là nền tảng tư tưởng, tinh thần của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo từ Đại hội lần thứ VI của Đảng đến nay. Thực tiễn cách mạng Việt Nam mấy thập niên qua khẳng định tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của đổi mới, là mẫu hình để thiết kế, thi công các công trình vĩ đại của sự nghiệp cách mạng Việt Nam theo tinh thần và quyết tâm đổi mới.
Đổi mới trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
Thuật ngữ và tư tưởng “đổi mới” được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập từ sớm trong tác phẩm “Đường kách mệnh” năm 1927; sau đó, được Người nhắc lại, làm rõ thêm trong nhiều bài viết, bài nói, nổi bật là “Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947), “Đời sống mới” (năm 1947), “Dân vận” (năm 1949), đặc biệt là trong bản Di chúc thiêng liêng (năm 1965 - năm 1969), để lại cho toàn Đảng, toàn dân trước lúc Người đi xa. Từ các bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh toát lên một hệ thống luận điểm có giá trị nền tảng và định hướng về đổi mới.
Thứ nhất, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đổi mới là bản chất của cách mạng, của phát triển. Trong “Đường kách mệnh”, Người chỉ rõ: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”. Nói về công cuộc kiến thiết đất nước sau khi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước thắng lợi, Người nhấn mạnh: “Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”.
Thứ hai, đổi mới phải vì nước, vì dân. Triết lý đổi mới, chân lý đổi mới trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là ích nước, lợi dân. Người luôn căn dặn: “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý”; “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”.
Thứ ba, đổi mới phải xuất phát từ nhu cầu khách quan của thực tiễn, phù hợp với điều kiện thực tiễn và giải quyết hiệu quả những đòi hỏi của thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan niệm thực tiễn là xuất phát điểm của tư duy, hành động; là sự kiểm chứng chân lý khoa học. Người căn dặn: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc đấu tranh, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính”. Chính vì thế mà tìm tòi, sáng tạo cái mới, phải luôn gắn với thực tiễn, chú trọng tổng kết thực tiễn, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo tính đúng đắn của đổi mới.
Thứ tư, đổi mới là sự nghiệp lâu dài, phức tạp, gian khổ, phải kiên định, kiên quyết, kiên trì, lựa chọn những bước đi thích hợp. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói thắng đế quốc, phong kiến là tương đối dễ, thắng bần cùng, lạc hậu còn khó hơn nhiều; đấu tranh xóa bỏ cái cũ, xây dựng cái mới là công việc cực kỳ to lớn, nặng nề, phức tạp và khó khăn, do vậy, phải có kế hoạch thật tỉ mỉ, chuẩn bị chu đáo, thực hiện chắc chắn.
Thứ năm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đổi mới không phải là phủ định sạch trơn, mà là sự kế thừa và phát triển; cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ, cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý, cái gì cũ mà tốt thì phát triển thêm, cái gì mới mà hay thì phải làm.
Thứ sáu, sức mạnh của đổi mới là nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: “Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”; phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại theo tinh thần cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, Việt Nam sẵn sàng là bạn của các nước dân chủ.
Thứ bảy, Đảng là linh hồn của đổi mới; cán bộ, đảng viên phải đi tiên phong trong sự nghiệp đổi mới. Đảng phải vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng của Việt Nam để thực hiện đường lối, chủ trương đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dạy: “Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Hệ thống luận điểm về đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh được diễn đạt giản dị, dễ hiểu, nhưng hàm chứa chiều sâu, tầm cao về tư tưởng và đúc kết tinh túy đạo đức đổi mới, phong cách đổi mới của Người.
Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng đổi mới là tư tưởng cách mạng, khoa học trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kết hợp với tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại, phản ánh và giải quyết những nhu cầu khách quan của thực tiễn đất nước; đạo đức đổi mới là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của dân tộc, Tổ quốc lên trên hết, trước hết, đổi mới vì một nước Việt Nam độc lập, hòa bình, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh; phong cách đổi mới là kiên định, sáng tạo, dân chủ, thực tiễn, hiệu quả, nói đi đôi với làm, làm thiết thực, mang lại kết quả thực tế cho nhân dân, cho đất nước. Đó chính là những giá trị bền vững của tư tưởng, đạo đức, phong cách đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh soi sáng con đường đổi mới của Đảng, của nhân dân ta
Vào giữa thập niên 80 của thế kỷ XX, do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan, đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Trước tình hình như vậy, Đảng ta quyết tâm phát động, lãnh đạo công cuộc đổi mới. Trong quá trình trăn trở, tìm tòi con đường đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy phát triển đất nước, Đảng ta nhận thức sâu sắc: Muốn đổi mới tư duy, Đảng phải nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đúc kết những bài học từ thực tiễn cách mạng nước ta, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, năm 1986 - Đại hội khai phóng con đường đổi mới, trên cơ sở quán triệt những luận điểm cốt lõi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nhấn mạnh các bài học “lấy dân làm gốc”; xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan; kết hợp sức mạnh dân tộc và thời đại; xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ.

Trải qua hơn 35 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới; đồng thời, với việc kiên định, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Đảng ta đặc biệt chú trọng kế thừa, cụ thể hóa tư tưởng, đạo đức, phong cách đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, (năm 1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Văn kiện các đại hội Đảng, các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương các nhiệm kỳ từ năm 1986 đến nay. Đường lối đổi mới của Đảng luôn thấm nhuần sâu sắc tư tưởng, đạo đức, phong cách đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã làm sáng tỏ những nhận thức cơ bản về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, trở thành ngọn cờ dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, mở rộng hoạt động đối ngoại, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thực tiễn hơn 35 năm đổi mới đã minh chứng hùng hồn rằng, nếu muốn thích ứng và đối phó xử lý thành công những vấn đề mà chủ nghĩa xã hội đang gặp phải trên con đường phát triển đầy khó khăn, thử thách, thì chúng ta phải không ngừng học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng cách phát triển những phẩm chất đã thể hiện trong suốt cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài của Người.
Hiện nay, đất nước ta bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, với những thời cơ, vận hội lớn đan xen, với không ít khó khăn, thách thức. Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững, phấn đấu “Đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đó, toàn Đảng, toàn dân ta phải tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới. Với giá trị bền vững và sức sống mãnh liệt, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tiếp tục soi đường, chỉ lối cho Đảng và dân tộc ta trên con đường đổi mới. Chúng ta cần quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo và phát huy những giá trị to lớn trong tư tưởng, đạo đức, phong cách đổi mới của Người.
Một là, kiên định, vững vàng và không ngừng sáng tạo xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Muốn đổi mới thắng lợi, phải kiên định lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định đường lối đổi mới và những nguyên tắc xây dựng Đảng. Kiên định, vững vàng, không dao động, “đổi mới” không “đổi mầu”, không rơi vào giáo điều, bảo thủ và phải không ngừng sáng tạo. Kết hợp tổng kết sâu sắc, toàn diện thực tiễn đổi mới của đất nước với nắm bắt, dự báo chính xác những chuyển biến mau lẹ của thời cuộc, những xu hướng phát triển mới của thế giới, cập nhật những tri thức mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những bài học thành công của các nước phù hợp với điều kiện nước ta, không ngừng hoàn thiện đường lối đổi mới, làm cho đường lối đổi mới phản ánh, giải quyết đúng những đòi hỏi khách quan của thực tiễn đất nước; đồng thời, phù hợp với xu thế thời đại. Đổi mới không ngừng, đổi mới sáng tạo, đổi mới vững chắc - đó chính là sự kế thừa, phát triển tư tưởng đổi mới, biện chứng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh lịch sử mới.
Hai là, nền tảng đạo đức của đổi mới là lợi ích tối cao của dân tộc, của nhân dân, hạnh phúc của con người. Lấy độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất và sự giàu mạnh của quốc gia làm mục đích trên hết, trước hết; lấy quyền làm chủ và lợi ích của nhân dân, sự phát triển toàn diện và hạnh phúc của con người Việt Nam làm đạo lý đổi mới. Nhân dân là chủ thể của đổi mới và là người thụ hưởng thành quả của đổi mới; con người là mục tiêu và động lực của đổi mới. Đó chính là bản chất nhân đạo, nhân văn của đổi mới theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đó cũng là giá trị bền vững và sức sống mãnh liệt của đổi mới. Thoát ly nền tảng đạo đức thì đổi mới không còn ý nghĩa gì.
Ba là, đổi mới, phát triển là một quy luật vận động khách quan của lịch sử, là nhu cầu, khát vọng của nhân loại. Toàn cầu hóa và sự phát triển bùng nổ công nghệ thông tin, cùng hệ thống kết cấu hạ tầng toàn cầu, làm cho các quốc gia ngày càng xích lại gần nhau, tùy thuộc lẫn nhau; hợp tác và hội nhập quốc tế sâu rộng trở thành một xu thế lớn không thể đảo ngược. Tư tưởng và sự chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sự gắn bó chặt chẽ cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, về việc tăng cường hợp tác quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trên cơ sở hòa bình, hữu nghị, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi,... vẫn còn nguyên vẹn giá trị định hướng con đường đổi mới. Tranh thủ nguồn lực bên ngoài là rất quan trọng; song, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn, nguồn lực nội sinh là quyết định, ngoại lực phải kết hợp với nội lực để nhân lên sức mạnh tổng hợp quốc gia; hợp tác, hội nhập nhưng phải giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính.
Bốn là, đổi mới là một quá trình cách mạng lâu dài, gian khổ, muốn giành thắng lợi, Đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng với tư cách là lực lượng lãnh đạo phải tự đổi mới, nêu gương đổi mới, trước hết là đổi mới phong cách tư duy, phong cách lãnh đạo, để phát huy đến mức cao nhất sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương lớn, truyền lại bài học lớn về phong cách đổi mới; nhạy bén nắm bắt diễn biến lịch sử, chủ động tranh thủ thời cơ, giữ vững nguyên tắc và mạnh dạn sáng tạo, kịp thời đổi mới, gắn liền lý luận với thực tiễn.
Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thống nhất với nhau, kết tinh thành lý luận - thực hành đổi mới. “Cống hiến lý luận của Hồ Chí Minh vừa có tính thời sự thiết thực, đáp ứng nhu cầu đương thời của cách mạng, vừa có giá trị lâu dài, là những gợi ý quan trọng và nguồn cảm hứng cho các thế hệ cách mạng về sau. Được hiểu và vận dụng một cách sáng tạo hệ thống luận điểm, lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh là có khả năng thích hợp với những diễn biến mới hiện nay của lịch sử, sống và phát huy tác dụng lâu dài trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới”. /.
ST.



