Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2024

Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân

 Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền căn bản của con người, nhưng quyền đó phải gắn chặt và đồng hành cùng với lợi ích của đất nước, của dân tộc Việt Nam. Do vậy, quyền ấy chỉ có giá trị đích thực khi nó gắn với độc lập dân tộc, nước không được độc lập thì tôn giáo không được tự do. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, đấu tranh cho độc lập dân tộc chính là đấu tranh cho quyền độc lập, tự do của các tôn giáo, chính vì vậy, đấu tranh giành độc lập cho nước nhà cũng là trách nhiệm của cá nhân và tổ chức tôn giáo. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân phải được tôn trọng và bảo đảm dựa trên cơ sở tôn trọng đức tin tôn giáo của mỗi người và không ai được xâm phạm, ép buộc, cản trở quyền đó. Dù thế giới quan khác nhau, niềm tin khác nhau, song không vì thế mà đối đầu, nghi kỵ, ngược lại phải tôn trọng niềm tin của mỗi người(1). Đấy chính là lý do mà ngay phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) (ngày 3-9-1945) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ tuyên bố “Tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”.

Kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Nghị quyết số 25-NQ/2003/TW, ngày 12-3-2003, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về công tác tôn giáo” (Nghị quyết số 25), Đảng đưa quan điểm “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật”. Quan điểm này được thể hiện cụ thể trong vấn đề theo đạo và truyền đạo “Mọi công dân đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo của mình theo đúng quy định của pháp luật”. Hiến pháp năm 2013 có bước tiến mới trong việc mở rộng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo... Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

Từ nền tảng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng đến thực tiễn hiện nay cho thấy Việt Nam luôn quan tâm chăm lo đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào. 95% người dân Việt Nam có tín ngưỡng, tôn giáo. Riêng tôn giáo có 41 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động, hơn 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số; khoảng 58 nghìn chức sắc; 148 nghìn chức việc hoạt động ở 63 tỉnh, thành phố trong cả nước(2). Hoạt động tôn giáo, lễ hội tôn giáo diễn ra quanh năm và trở thành nét đẹp văn hóa trong đời sống xã hội, như lễ Phật đản của Phật giáo và Tịnh độ Cư sĩ Phật hội; lễ Giáng sinh, Phục sinh của Công giáo, Tin lành; Tết Chôl Ch-nam Th-mây của đồng bào Khơ-mer; Tháng lễ Ra-ma-đan của cộng đồng Hồi giáo (Islam) và Ra-mư-oăn của cộng đồng Hồi giáo Bà-ni...

Tư tưởng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn liền với việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của tín đồ tôn giáo. Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên và chính quyền phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào theo đạo, làm cho họ “phần xác no ấm, phần hồn thong dong”(3). Tinh thần của Người đã nâng cao sự nhận thức về đoàn kết dân tộc trong đồng bào theo tôn giáo khi đưa mối quan hệ biện chứng giữa “Kính Chúa, Yêu Nước” và chuyển tải tinh thần đó cho phù hợp với thời đại và niềm tin tôn giáo của tín đồ, chức sắc tôn giáo. Tư tưởng của Người đã được các ngành, các cấp liên quan cụ thể hóa trong công tác hướng dẫn tổ chức, cá nhân hoạt động tôn giáo đúng chính sách, pháp luật, ủng hộ tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bó đồng hành cùng dân tộc, đậm chất nhân văn của các tôn giáo. Cụ thể Phật giáo xác định đường hướng hành đạo “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”, Công giáo “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”; Tin lành với đường hướng “Sống phúc âm, phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc”; Cao đài với đường hướng “Nước Vinh Đạo Sáng”...

Có thể thấy tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là cam kết chính trị của người đứng đầu nhà nước với người dân về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa là quan điểm xuyên suốt mà Đảng ta đã bảo vệ và kế thừa trong công tác tôn giáo. Tư tưởng này luôn là định hướng cho cán bộ làm công tác tôn giáo nhận thức đúng, khách quan về giá trị tôn giáo, chấn chỉnh nhận thức sai lệch, tả khuynh của một số cán bộ đối với tôn giáo trong thời điểm lúc bấy giờ và trong thực hiện công tác tôn giáo hiện nay.

Tăng cường đoàn kết để đấu tranh phòng, chống tham nhũng

 Để đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có hiệu quả, việc giữ vững, củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Trong cuốn sách, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã không chỉ nêu lên sự cần thiết phải tăng cường đoàn kết mà còn chỉ ra nguyên tắc, điều kiện để khối đoàn kết toàn Đảng, toàn dân tộc trở thành sức mạnh ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn tham nhũng, tiêu cực.

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(7). Nhấn mạnh tầm quan trọng của đoàn kết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đoàn kết nhất trí là truyền thống rất quý báu của Đảng ta. Ngay cả những lúc cách mạng gặp sóng gió, khó khăn, ở những bước ngoặt phức tạp của lịch sử, Đảng ta luôn luôn giữ vững khối đoàn kết thống nhất. Nhờ đó, Đảng đã lãnh đạo và đoàn kết được toàn dân, đưa sự nghiệp cách mạng không ngừng tiến lên”(8).

Hiện nay, tham nhũng, tiêu cực đang là một trong những thách thức lớn nhất đe dọa sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Những năm qua, tham nhũng, tiêu cực diễn biến phức tạp, tinh vi, len lỏi vào sâu trong bộ máy Đảng, Nhà nước; nhiều cán bộ, trong đó có cả một số cán bộ giữ chức vụ, vị trí cao đã “nhúng chàm”. Những cán bộ thoái hóa, biến chất kết bè kéo cánh, thông đồng, cấu kết, hình thành “nhóm lợi ích”, trục lợi cả cơ chế, chính sách, pháp luật. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: “Nhiều người có quan hệ trực tiếp với vật tư, hàng, tiền, đã lợi dụng chức quyền và điều kiện công tác để tham ô, buôn lậu, ăn cắp của công, ăn hối lộ, thông đồng với bọn gian thương, tư sản để làm giàu. Điều nghiêm trọng là có không ít cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ cao cấp, đảng viên lâu năm bị những ham muốn vật chất cám dỗ, cũng chạy theo tiền tài, địa vị, sống ích kỷ, buông thả, tự do chủ nghĩa… Đông đảo cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân rất bức xúc, bất bình trước những hiện tượng đó và lo ngại về sự xói mòn bản chất giai cấp công nhân và truyền thống tốt đẹp của Đảng”(9). Do đó, hơn lúc nào hết, cán bộ, đảng viên chân chính phải đồng lòng, quyết tâm, đoàn kết chặt chẽ cùng với Đảng tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt nhấn mạnh: “Ngày nay, trong hoàn cảnh mới của đất nước, trước những khó khăn về kinh tế và đời sống, trước một số hiện tượng tiêu cực trong Đảng và trong xã hội ta, kẻ thù đang âm mưu phá hoại, kích động chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng với nhân dân, chia rẽ cấp dưới với cấp trên, chia rẽ miền Nam với miền Bắc... Vì vậy, hơn bao giờ hết, chúng ta càng phải chăm lo củng cố và tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(10).

Để xây dựng khối đoàn kết vững mạnh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trước hết cần chú trọng xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng, bởi “chăm lo giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng là cơ sở để tăng cường đoàn kết nhất trí trong toàn Đảng”(11). Đồng thời, phải biến việc xây dựng khối đoàn kết thống nhất thành quan điểm, chủ trương và đi vào hành động cụ thể của mọi cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu các cấp. Tổng Bí thư chỉ rõ: “Cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu các cấp phải thật sự đoàn kết, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhất là phải có những giải pháp đủ mạnh, những việc làm cụ thể để làm chuyển biến rõ rệt tình hình; kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”; tập trung giải quyết dứt điểm những vụ việc bức xúc đã được chỉ ra”(12).

Trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay, cần đặc biệt quan tâm việc xây dựng, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong các cơ quan trực tiếp tiến hành đấu tranh, trong đó đi đầu là Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tiếp đó là các cơ quan thuộc khối nội chính và các cơ quan, tổ chức khác có liên quan. Đây là những cơ quan “đầu sóng ngọn gió”, là “bộ não” của toàn bộ hoạt động đấu tranh. Tổng Bí thư yêu cầu: “Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng phải là một tập thể mạnh, đoàn kết thống nhất cao, gắn bó chặt chẽ. Mỗi thành viên của Ban, mỗi cán bộ làm việc trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng phải hết sức gương mẫu, công tâm, trong sạch, thực hiện đúng bốn chữ: liêm - dũng - chính - trực. Tức là phải liêm khiết, dũng cảm, ngay thẳng, cương trực. Không bị cám dỗ bởi bất cứ lợi ích nào và cũng không ngại bất cứ lực cản không trong sáng nào. Bản thân mình có sạch sẽ thì mới chống tham nhũng được”(13). Đồng thời, “phải có sự đoàn kết, phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, đồng bộ giữa các cơ quan nội chính với nhau và với các cơ quan, tổ chức khác có liên quan trong thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở quy định của Đảng, Nhà nước; bảo đảm “đúng vai, thuộc bài”, tránh tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, “quyền anh, quyền tôi”, “cua cậy càng, cá cậy vây”(14).

Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc củng cố đoàn kết, thống nhất trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đồng chí Tổng Bí thư cũng chỉ rõ phải có nhận thức đúng đắn, rõ ràng về đoàn kết, phân biệt đoàn kết thực sự với thói cục bộ, bè phái, bản vị; đồng thời phân biệt giữa việc tranh luận ý kiến trong Đảng với tình trạng mất đoàn kết. Theo Tổng Bí thư, “Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng phải được xây dựng trên cơ sở đường lối chính trị đúng đắn, tình cảm cách mạng trong sáng, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; đồng thời, thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, thực hiện chính sách cán bộ một cách nhất quán, công bằng”(15); “Mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cục bộ, địa phương, thiếu công bằng, bệnh quan liêu, không sâu sát đều dẫn tới những hậu quả tiêu cực trong việc sắp xếp, bố trí cán bộ, ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và sự đoàn kết thống nhất trong Đảng”(16). Đảng ta mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, bản chất ấy “không tương dung với chủ nghĩa phường hội, cục bộ, bản vị, phân tán. Trái lại, nó đòi hỏi phải có tư tưởng thống nhất, hành động thống nhất, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân và tập thể, bộ phận và toàn cục”(17). Đoàn kết, thống nhất trong Đảng phải được xây dựng trên tình đồng chí của những người cộng sản. Tổng Bí thư nêu rõ: “Những người cộng sản công tác ở cùng một lĩnh vực hoặc ở các lĩnh vực khác nhau, dù trẻ hay già, có cương vị công tác cao hay thấp, luôn luôn đoàn kết, hợp tác chặt chẽ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công, phấn đấu thực hiện tốt các chủ trương, nghị quyết của Đảng”(18).

Trong Đảng, cần phải coi việc tranh luận, thảo luận là sinh hoạt bình thường và lành mạnh, thậm chí rất cần thiết để đi đến thống nhất chung, đồng thời giúp cho đường lối, quan điểm của Đảng luôn đúng đắn, phù hợp. Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Không nên đồng nhất việc trong Đảng có những ý kiến khác nhau khi thảo luận, tranh luận với tình trạng mất đoàn kết. Trước sự phát triển của cách mạng, có nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn rất phức tạp, chưa sáng tỏ, trong Đảng cần có thảo luận, tranh luận. Đây là sinh hoạt bình thường và lành mạnh trong Đảng, phản ánh bước trưởng thành của Đảng. Nếu mọi cán bộ, đảng viên đều nghiêm túc chấp hành nghị quyết của tổ chức, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến của nhau, có việc phải chờ đợi nhau, giải quyết có lý có tình, không vội vàng quy chụp, thì sẽ giữ gìn được sự đoàn kết”(19).

Cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tỉnh Kiên Giang nghiên cứu tác phẩm “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng _Ảnh: TTXVN

Để xây dựng sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư nêu rõ phải giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, đồng thời nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình. Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản có ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển của Đảng ta. Giữ vững nguyên tắc này vừa là cơ sở để Đảng ta phát huy trí tuệ sáng tạo của mọi cán bộ, đảng viên, vừa gắn trách nhiệm của người đứng đầu vào mọi công việc, đồng thời hạn chế được tình trạng lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực. Thực tế cho thấy, ở đâu, lúc nào nguyên tắc tập trung dân chủ không được duy trì nghiêm túc thì ở đó, khi đó tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực sẽ nảy sinh, tổ chức đảng sẽ rơi vào tình trạng yếu kém, mất sức chiến đấu. Vì vậy, để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhất quyết phải giữ vững nguyên tắc này. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Bản chất giai cấp công nhân đòi hỏi Đảng phải được tổ chức chặt chẽ và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thường xuyên tự phê bình và phê bình, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Mọi sự chia rẽ, bè phái, buông lỏng kỷ luật đều trái với bản chất giai cấp công nhân của Đảng”(20). Tổng Bí thư cũng đặc biệt nhấn mạnh: “Phải giữ vững quy chế làm việc theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ và tập thể lãnh đạo. Những vấn đề quan trọng phải trải qua thảo luận tập thể, biểu quyết và chấp hành theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số”(21).

Cùng với việc duy trì nguyên tắc tập trung dân chủ, mọi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên phải thường xuyên, tích cực tự phê bình và phê bình. Đây chính là con đường, phương thức căn bản để làm trong sạch nội bộ, đồng thời củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Tổng Bí thư yêu cầu: “Thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình. Chăm lo củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng trên cơ sở đường lối chính trị, nguyên tắc tổ chức và tình thương yêu đồng chí. Tập trung giải quyết tình trạng mất đoàn kết ở một số nơi. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng kèn cựa địa vị, tranh giành ngôi thứ, lợi lộc, cũng như đầu óc cục bộ, bản vị; bồi dưỡng tình yêu thương đồng chí, tôn trọng lẫn nhau, vì sự nghiệp chung”(22). Đồng chí Tổng Bí thư cũng căn dặn muốn tự phê bình và phê bình đi vào thực chất, hiệu quả thì mỗi cá nhân, tổ chức đều phải thực sự nghiêm túc, chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ, đồng thời kiên quyết đấu tranh với việc lợi dụng kiểm điểm, tự phê bình và phê bình để thực hiện những động cơ không trong sáng. “Việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình cần được chuẩn bị thật chu đáo, chỉ đạo tỉ mỉ, chặt chẽ, tiến hành nghiêm túc, thận trọng; làm đến đâu chắc đến đó, đạt kết quả cụ thể, thực chất. Hết sức tránh làm lướt, làm qua loa, hình thức, chiếu lệ. Khắc phục tình trạng xuê xoa, nể nang, thậm chí biến cuộc họp tự phê bình và phê bình thành nơi vuốt ve, ca tụng lẫn nhau; cũng như tình trạng lợi dụng để “đấu đá”, “hạ bệ” nhau với những động cơ không trong sáng. Nghiêm khắc xử lý những trường hợp trù dập phê bình và vu cáo người khác. Kinh nghiệm cho thấy, muốn tự phê bình và phê bình có kết quả tốt, điều quan trọng là phải thật sự phát huy dân chủ trong Đảng, người đứng đầu phải gương mẫu và phải có các hình thức dân chủ để quần chúng đóng góp phê bình cán bộ, đảng viên và phải nghiêm túc tiếp thu những ý kiến phê bình đúng đắn”(23).

Trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta hiện nay, bên cạnh việc củng cố sự đoàn kết, nhất trí trong toàn Đảng, cần đặc biệt quan tâm đến việc phát huy vai trò, sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, tăng cường sự gắn bó máu thịt giữa nhân dân với Đảng. Tại Đại hội XIII, Đảng ta cũng xác định phải phát huy vai trò của nhân dân trong tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: “Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan và đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân và cơ quan truyền thông, báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; nâng cao hiệu quả phát hiện và xử lý tham nhũng, lãng phí”(24). Những quan điểm, tư tưởng này cũng được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt nhấn mạnh: “Sức mạnh và động lực to lớn của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là sự đồng tình, ủng hộ, hưởng ứng, tham gia tích cực của nhân dân và cả hệ thống chính trị, báo chí, mà nòng cốt là các cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, như nội chính, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Nếu không dựa vào dân thì cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực khó có thể thành công. Dựa vào dân, lắng nghe dân, lắng nghe dư luận để chọn lọc tiếp thu cái đúng; phải động viên quần chúng, phải thực hành dân chủ, phải làm cho quần chúng hiểu rõ, làm cho quần chúng hăng hái tham gia mới chắc chắn thành công”(25).

Có thể nói, cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa chứa đựng những quan điểm lý luận căn bản của Đảng ta về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, vừa kết tinh trí tuệ, tâm huyết, trách nhiệm của người giữ cương vị, trọng trách cao nhất trong Đảng đối với vấn đề này. Những quan điểm, tư tưởng ấy của Tổng Bí thư  - trong đó có quan điểm về mối quan hệ gắn bó biện chứng giữa phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tăng cường đoàn kết - có giá trị to lớn trong việc định hướng tư tưởng, nhận thức, hành động và cổ vũ toàn Đảng, toàn dân ta tiếp tục kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới./.

Phòng, chống tham nhũng để tăng cường đoàn kết

 Tham nhũng, tiêu cực là kẻ thù số một của khối đoàn kết, thống nhất. Trong các tổ chức đảng, tham nhũng, tiêu cực là một trong những nguyên nhân dẫn đến thiếu thống nhất về chính trị - tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm cho cấp dưới không tin tưởng cấp trên, nguyên tắc tập trung dân chủ bị coi nhẹ; nội bộ xảy ra tình trạng kéo bè kết cánh, phe phái lợi ích, thậm chí triệt hạ lẫn nhau, dẫn đến nguy cơ suy giảm niềm tin vào tổ chức, chế độ. Trong xã hội, tham nhũng, tiêu cực xâm phạm quyền làm chủ và lợi ích của nhân dân, khiến cho nhân dân suy giảm niềm tin vào đội ngũ cán bộ, đảng viên, vào Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Tổ chức đảng để xảy ra tình trạng tham nhũng, tiêu cực sẽ không thể phát huy được vai trò là hạt nhân đoàn kết quần chúng. Không những thế, tình trạng tham nhũng, tiêu cực còn tạo cớ cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng xuyên tạc, chống phá, gây chia rẽ trong nội bộ nhân dân và giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chính vì vậy, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một trong những biện pháp đặc biệt quan trọng để giữ gìn và củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Mục tiêu của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhằm làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước”(1), đồng thời chỉ rõ cuộc đấu tranh này “góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại, đặc biệt là góp phần lấy lại và củng cố niềm tin của nhân dân”(2).

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với đại biểu và cử tri thành phố Hà Nội _Nguồn: nhandan.vn

Thời gian qua, khi Đảng ta đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, bên cạnh sự tin tưởng, phấn khởi của đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, vẫn có những luồng dư luận tiêu cực. Đồng chí Tổng Bí thư nêu rõ: “Một số ý kiến cho rằng, nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm “nhụt chí”, “chùn bước” những người dám nghĩ, dám làm, làm “chậm” sự phát triển đất nước”(3). Thực chất, đây là những nhận thức sai lệch của một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng không kiên định, vững vàng, là biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, khi đánh đồng những người dám nghĩ, dám làm với làm liều, làm ẩu; đánh đồng việc bao che, né tránh sai lầm, khuyết điểm với sự ổn định của tổ chức. Động cơ thực sự đằng sau những quan điểm này chính là để dung túng, bao che cho các hành vi tham nhũng, tiêu cực; làm giảm quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng và xây dựng, làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước chỉ làm “chùn bước” những ai có động cơ không trong sáng, đã trót “nhúng chàm” và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu bản lĩnh, thiếu kiến thức và kinh nghiệm”(4).

Bên cạnh đó, các thế lực xấu, thù địch đã và đang ra sức tuyên truyền luận điệu sai trái cho rằng: Đảng ta đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là “đấu đá nội bộ”. Đây là luận điệu hết sức thâm độc, nguy hiểm, mưu toan xóa đi ý nghĩa tích cực của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, biến thành một hoạt động mang đầy động cơ tiêu cực. Nó trực tiếp phá hoại khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng, khiến cho chính những người đang kiên cường đấu tranh với sai phạm, khuyết điểm phải mang tiếng xấu. Đáng lo ngại hơn, những luận điệu sai trái này lại đang có ảnh hưởng ở mức độ nhất định trong một bộ phận nhân dân, gây ra sự hoang mang, dao động, nghi ngờ của nhân dân với Đảng, Nhà nước. Trong cuốn sách, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận diện đích xác những âm mưu này, đồng thời chỉ rõ: “Đây là cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”, không phải là cuộc đấu giữa các “phe cánh” hay “đấu đá nội bộ”, như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu”(5). Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Mục đích của việc xử lý tham nhũng, tiêu cực là để “trị bệnh cứu người”, kỷ luật một vài người để cứu muôn người”(6). Đương nhiên, những luận điệu xuyên tạc, phản động ấy không thể làm “chùn bước” cuộc đấu tranh của chúng ta, song cũng không thể xem nhẹ, coi thường.

Thực tiễn những năm qua cho thấy, những kết quả mà chúng ta đạt được trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã góp phần quan trọng làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng, đồng thời giữ vững và tăng cường niềm tin của các tầng lớp nhân dân.

Tiếp tục khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc - Một số giải pháp chủ yếu trong thời gian tới

 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu: “Luôn phải có các chính sách, biện pháp phù hợp để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(13). Do vậy, để khơi dậy được khát vọng phát triển đất nước của các tầng lớp nhân dân trong thời gian tới, cần tiến hành đồng bộ một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; tăng cường tuyên truyền, giáo dục để cán bộ, đảng viên, nhân dân nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; từ đó, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Đổi mới việc học tập lý luận chính trị, chú trọng giáo dục lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, nhân dân trước các vấn đề chính trị thời sự của đất nước. Cần tăng cường tuyên truyền, giác ngộ, truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước để lan tỏa sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, với sự sinh động, phong phú, thiết thực và hiệu quả bằng các hình thức, phương pháp khác nhau. “Tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc”(14). Trong đó, cần chú trọng “Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, với xã hội”(15).

Đặc biệt, dưới góc độ kinh tế, khát vọng phát triển đất nước được thể hiện chủ yếu ở tinh thần quyết tâm vươn lên, không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, chậm phát triển. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước chính là khơi dậy ý thức lao động hăng say, sáng tạo, nỗ lực vươn lên làm giàu chính đáng, hợp pháp của mỗi người dân Việt Nam; nhất là sự cố gắng phấn đấu của thanh niên nước nhà trong học tập, lao động, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, lập nghiệp.

Hai là, chú trọng xây dựng cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam.

Đảng, Nhà nước cần chủ động tạo lập các yếu tố, điều kiện và môi trường xã hội thuận lợi để khơi dậy và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường ở mỗi con người Việt Nam; phải tập trung “xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam(16).

Cần phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, coi trọng “ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(17). Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân trong tham gia vào các công việc chung của đất nước. Thực hiện triệt để, thực chất phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Thực hiện tốt đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo lập và phát huy sức mạnh đồng thuận của nhân dân ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài để tạo động lực và nguồn lực mạnh mẽ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thực hiện những cải cách có tính đột phá về thể chế, cơ chế, chính sách, xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, toàn diện, minh bạch, gắn kết chặt chẽ với tầm nhìn chiến lược phát triển dài hạn. Bảo đảm kết hợp giữa quản lý, kiểm soát bằng các quyết định hành chính với quản trị hiện đại, phục vụ nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững; xây dựng, kiến tạo và thực thi hiệu quả cơ chế, chính sách chuyển đổi sang mô hình phát triển theo chiều sâu dựa trên cơ sở đổi mới sáng tạo và ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến, nhằm thúc đẩy khởi nghiệp gắn với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại đầu tư; nâng cao năng lực cạnh tranh, đặc biệt là hiệu quả sử dụng, quản lý đầu tư công.

Tập trung kiến tạo môi trường, thiết chế, chính sách thuận lợi, minh bạch, nhằm bảo đảm giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, ổn định an ninh chính trị và bảo vệ Tổ quốc. Trọng tâm là rà soát, điều chỉnh, bổ sung các chính sách an sinh xã hội, trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội, hệ thống hỗ trợ tích cực, như chính sách việc làm, chính sách tiền lương và thu nhập, từng bước tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho các đối tượng và vùng đặc thù, nhất là chính sách xóa nghèo bền vững; giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường.

Ba là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị trong khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam nói chung, trong thực hiện khát vọng, mục tiêu, tầm nhìn phát triển đất nước nói riêng. Do vậy, phải chú trọng “xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(18); “giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(19); phát huy tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong các phong trào hành động cách mạng, phát triển kinh tế - xã hội, vươn lên làm giàu chính đáng. Đảng ta luôn nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát thực tiễn để hoạch định đường lối đúng đắn, phù hợp với thực tiễn. Theo đó, cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức công tác tư tưởng bảo đảm tính khoa học, thiết thực, kịp thời, hiệu quả. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung, có khát vọng đổi mới và phát triển.

Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, bảo đảm đồng bộ cả lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp, sự gắn kết giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương; nêu cao sứ mệnh phục vụ nhân dân; làm rõ nội dung mối quan hệ giữa “Nhà nước, thị trường và xã hội” trong quá trình phát triển. Tăng cường kiểm soát quyền lực, thực hiện nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Các cơ quan nhà nước cần ban hành hệ thống văn bản pháp luật, chính sách đồng bộ nhằm tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân, người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển chung của đất nước.

Tích cực đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, thực chất, hiệu quả nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động nhân dân theo hướng thiết thực; hướng về cơ sở, chú ý những nhân tố mới, những cách làm sáng tạo. Nâng cao hiệu quả công tác tiếp xúc cử tri, giám sát, tiếp dân, đối thoại, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của nhân dân. Đấu tranh với các biểu hiện thờ ơ, vô cảm, cửa quyền, hách dịch, nhũng nhiễu đối với nhân dân, doanh nghiệp.

“Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” là chủ trương đúng đắn, khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ta có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn thuyết phục, vững chắc, sinh động để phản bác các luận điệu chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Trong hành trình vĩ đại của dân tộc trên con đường tiến lên giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần đoàn kết, nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi, đồng lòng, bền gan vững chí, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu, tầm nhìn phát triển mà Đại hội XIII của Đảng đã hoạch định, như di nguyện của Bác Hồ và ước vọng của toàn dân tộc./.

Luận cứ phản bác các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng Cộng sản Việt Nam

 Trước các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng ta, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần hết sức tỉnh táo, cảnh giác cao và nhận thức rõ những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, thâm độc của các thế lực thù địch. Chúng ta có đủ luận cứ để khẳng định rằng, chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng ta là đúng đắn, khoa học trên cơ sở nhận thức biện chứng tầm quan trọng của khát vọng phát triển đất nước; đánh giá khách quan cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước. Chủ trương đó đã được thảo luận rộng rãi, với sự thống nhất cao trong Đảng, sự đồng thuận của toàn dân; có tính khả thi cao với những mục tiêu, tầm nhìn, kế hoạch và biện pháp thực hiện cụ thể. Những kết quả đạt được qua hơn hai năm đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng là minh chứng, hiện thực sống động, chứng minh chủ trương đó đang đi vào cuộc sống một cách vững chắc, đầy thuyết phục; cụ thể là:

Thứ nhất, khát vọng phát triển đất nước có vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt.

Thực tiễn lịch sử xã hội loài người chứng minh, sự hình thành, phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc phụ thuộc trước hết vào khát vọng sinh tồn và vươn lên của cộng đồng dân tộc đó. Trong lúc thuận lợi, đặc biệt là khi gặp khó khăn, thách thức thì sức mạnh của tinh thần, của ý chí giữ vai trò hết sức quan trọng. Khát vọng phát triển của một dân tộc là nguồn năng lượng nội sinh to lớn và sức mạnh vô địch; là một trong những động lực trọng tâm của một quốc gia - dân tộc trên con đường đi tới tương lai.

Đối với Việt Nam, khát vọng phát triển đất nước thật sự là sức mạnh nội sinh phi thường, cội nguồn tạo nên những kỳ tích trong suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Thời trung đại, Việt Nam đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược của phong kiến phương Bắc, giữ vững nền độc lập dân tộc, bắt nguồn từ khát vọng về độc lập, chủ quyền quốc gia. Trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã đập tan ách áp bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến; đánh thắng các thế lực xâm lược hùng mạnh, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Những chiến công oanh liệt đó khởi nguồn từ khát vọng mãnh liệt của dân tộc được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát thành chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do(2). Hiện nay, khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh, hùng cường là một động lực quan trọng thúc đẩy dân tộc ta vươn lên, quyết tâm khắc phục đói nghèo, lạc hậu, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, nguy cơ tụt hậu về kinh tế... để phát triển trong giai đoạn mới.

Công nhân vận hành dây chuyền sản xuất sợi bằng công nghệ hiện đại _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Rõ ràng, Đảng ta không tuyệt đối hóa vai trò động lực của khát vọng phát triển đất nước, mà xác định đây là một trong những động lực cho tiến trình đổi mới, phát triển; là động lực thúc đẩy chứ không thể thay thế vai trò cơ sở, nền tảng quyết định của yếu tố kinh tế, vật chất, kỹ thuật.

Thứ hai, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước trên cơ sở đánh giá đúng cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước.

Khát vọng phát triển đất nước bắt nguồn từ niềm tin vững chắc vào cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước ta sau hơn 35 năm đổi mới. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”(3).

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, đất nước tiếp tục phát triển nhanh và khá toàn diện. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, chất lượng tăng trưởng được nâng lên, các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016 - 2020 đạt khoảng 6%/năm. Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng lên (năm 2020, GDP đạt 271,2 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt 2.779 USD). Năng suất lao động tăng từ 4,3%/năm giai đoạn 2011 - 2015 lên khoảng 6%/năm giai đoạn 2016 - 2020(4). Lĩnh vực văn hóa, xã hội của đất nước đạt kết quả tích cực, an sinh xã hội cơ bản được bảo đảm, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện. Đến năm 2020, Việt Nam đã đứng thứ 49 về phát triển bền vững trên thế giới trong khi thu nhập bình quân đầu người còn ở hạng ngoài 100(5).

Một trong những dấu ấn nổi bật nhất là việc Việt Nam thực hiện thắng lợi “mục tiêu kép” trong giai đoạn đại dịch COVID-19 bùng phát dữ dội (từ cuối năm 2019): Vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát tốt dịch bệnh, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam được truyền thông quốc tế ca ngợi là “mảnh đất tiềm năng” (theo Forbes), “bình minh đang lên” (theo báo Nga), “ngôi sao sáng” (theo Asia Times), “phép màu châu Á” (theo New York Times),... 

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cũng là một thành công nổi bật trong nhiệm kỳ Đại hội XII. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, hướng vào những khâu trọng yếu, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Công tác phòng, chống tham nhũng được tiến hành quyết liệt, đạt được những kết quả quan trọng. Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành, tuyệt đại đa số người dân được hỏi ý kiến (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng(6).

Thứ ba, chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” thể hiện rõ sự thống nhất giữa “ý Đảng” với “lòng Dân”.

Trong quá trình chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XIII, các tiểu ban đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan ở Trung ương và địa phương tổ chức gần 60 hội nghị, hội thảo, tọa đàm; thành lập 50 đoàn đi khảo sát thực tế; tổ chức tọa đàm với một số tổ chức quốc tế, 2 đoàn đi khảo sát, nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài. Các tiểu ban đã tiến hành 20 phiên họp để thảo luận, thông qua Đề cương và các dự thảo văn kiện. Bộ Chính trị đã họp nhiều lần để cho ý kiến hoàn thiện Đề cương và các dự thảo văn kiện trình xin ý kiến Ban Chấp hành Trung ương tại các Hội nghị Trung ương 10, 11, 14 và 15 khóa XII. Các dự thảo báo cáo đã được chỉnh lý, sửa chữa nhiều lần và gửi xin ý kiến rộng rãi của các đại biểu Quốc hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhiều tổ chức, cơ quan, đoàn thể... Bộ Chính trị đã quyết định công bố công khai toàn văn các dự thảo Báo cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng để lắng nghe ý kiến rộng rãi của nhân dân; đã có hàng triệu lượt ý kiến đóng góp vào dự thảo các văn kiện; các ý kiến đóng góp được tổng hợp trong tài liệu dài 1.410 trang.

Văn kiện được đánh giá là có quá trình chuẩn bị “rất công phu, chu đáo, bài bản, qua nhiều lần, nhiều vòng, từng bước hoàn thiện, có nhiều đổi mới quan trọng về nội dung và phương pháp. Quán triệt sâu sắc nguyên tắc kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa kiên định  đổi mới, giữa kế thừa  phát triển, trên cơ sở phát huy dân chủ rộng rãi, dự thảo các văn kiện đã thực sự là sản phẩm kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện rõ sự thống nhất giữa “ý Đảng, lòng Dân”, hòa quyện cùng quyết tâm và ý chí phát triển của dân tộc”(7). Các ý kiến, đề xuất tâm huyết, trách nhiệm, kết tinh trí tuệ, ý chí và sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện mong muốn đất nước ta ngày càng phát triển phồn vinh; nhân dân ta ngày càng ấm no, hạnh phúc; dân tộc ta ngày càng cường thịnh, trường tồn. Tất cả điều đó chứng minh rõ tính khoa học, khách quan, dân chủ của các đánh giá, mục tiêu, nhiệm vụ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

Thứ tư, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước được thể chế hóa thành mục tiêu, tầm nhìn và kế hoạch, chương trình cụ thể.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Nói Đại hội XIII không phải chỉ cho đến năm 2026 (giai đoạn 2021 - 2026) mà phải có tầm nhìn chiến lược dài hơn, nhìn lại cả quá khứ và hướng tới tương lai”(8). Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc đã được Đảng, Nhà nước cụ thể hóa, thể chế hóa thành mục tiêu, chỉ tiêu, chương trình, kế hoạch cụ thể, với lộ trình và bước đi phù hợp với điều kiện thực tế.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định “những dấu mốc phát triển quan trọng của đất nước ta trong những thập niên sắp tới: - Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. - Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. - Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”(9).

Giai đoạn hiện nay, Việt Nam xác định chỉ tiêu: tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân khoảng 7%/năm; GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đến năm 2030 đạt khoảng 7.500 USD; chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì trên 0,74; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35% - 40%(10)

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh các nhiệm vụ đột phá sau: 1- Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; 2- Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; 3- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại.

Đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc là cả một quá trình cải biến toàn diện và sâu sắc, diễn ra trên tất cả lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội; vì vậy, để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp vĩ đại này, cần huy động sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại bằng những kế hoạch, biện pháp cụ thể của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành trong từng giai đoạn.

Thứ năm, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước bước đầu được minh chứng với kết quả sinh động của đất nước từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay.

Hơn hai năm đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, trong bối cảnh tình hình trong nước và thế giới có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, nhất là phải chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu, hoàn thành ở mức cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, đạt được nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện.

Việt Nam đã nỗ lực duy trì, phục hồi và thúc đẩy phát triển kinh tế với nhiều điểm sáng tích cực. Năm 2021, tăng trưởng kinh tế đạt 2,58%; thu ngân sách nhà nước tăng 16,4%; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt mức kỷ lục 668,5 tỷ USD (đưa Việt Nam trở thành 1 trong 20 nước có nền kinh tế đứng đầu thế giới về thương mại). Nông nghiệp tiếp tục giữ được vai trò là trụ đỡ của nền kinh tế, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; xuất khẩu nông sản đạt 48,6 tỷ USD(11).

Năm 2022, tăng trưởng GDP đạt 8,02%, mức cao nhất trong hơn 10 năm qua; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Thu ngân sách nhà nước vượt 26,4% dự toán, tăng 13,8% so với năm 2021. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 732,5 tỷ USD. Khu vực nông nghiệp phát triển ổn định; xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt kỷ lục trên 53,2 tỷ USD. Sản xuất công nghiệp tăng 7,69%. Khu vực dịch vụ phục hồi mạnh mẽ, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 19,8%(12).

Báo cáo triển vọng kinh tế năm 2023 của Viện Nghiên cứu kinh tế Trung ương (CIEM) đưa ra 2 kịch bản: Ở kịch bản 1, tăng trưởng kinh tế năm 2023 có thể đạt mức 6,47%; xuất khẩu tăng 7,21% và thặng dư thương mại đạt 5,64 tỷ USD; lạm phát sẽ ở mức 4,08%. Ở kịch bản 2, tăng trưởng kinh tế năm 2023 sẽ tích cực hơn, lên mức 6,83%; xuất khẩu tăng 8,43% và thặng dư thương mại đạt 8,15 tỷ USD; lạm phát sẽ được kiểm soát ở mức 3,69%.

Một tín hiệu lạc quan nữa là mặc dù phải đối diện với những khó khăn, thách thức, nhưng Đảng, Nhà nước vẫn tiếp tục quan tâm phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội. Việt Nam đã ứng phó, kiềm chế, kiểm soát được dịch bệnh, từng bước chuyển sang trạng thái “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”. Cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh đã được triển khai đồng bộ, góp phần tích cực tiếp tục bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân trong “trạng thái bình thường mới”.

Quốc phòng - an ninh tiếp tục được củng cố, tăng cường; chủ quyền quốc gia, môi trường hòa bình, ổn định tiếp tục được giữ vững, tạo thuận lợi cho phát triển đất nước. Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục được mở rộng, triển khai đồng bộ, toàn diện, linh hoạt, hiệu quả. Vị thế, uy tín quốc tế của nước ta ngày càng được nâng cao, đóng góp tích cực, hiệu quả, trách nhiệm vào việc giữ vững hòa bình, hợp tác phát triển và tiến bộ trên thế giới.

Diện mạo Thành phố Hồ Chí Minh sau gần 40 năm đổi mới _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Nhận diện các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng Cộng sản Việt Nam

 Chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” được Đại hội XIII của Đảng đề ra thể hiện tầm nhìn chiến lược và quyết tâm chính trị rất cao của Đảng ta, với mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao(1). Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị ra sức xuyên tạc, bóp méo, hòng phủ nhận chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng ta. Chúng rêu rao thiếu căn cứ rằng, đó là một “khẩu hiệu trống rỗng”, “nặng tính duy tâm, siêu hình”, rằng “khát vọng” là yếu tố tinh thần; do vậy, khi Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần đề cập và nhấn mạnh đến thành tố “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện Đại hội XIII (từ chủ đề Đại hội, quan điểm chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, định hướng phát triển, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược) thì có nghĩa là đã tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nên đây là một quan điểm “duy tâm, siêu hình, đi ngược lại lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử”. Chúng suy diễn rằng, chủ trương của Đảng ta là “phi thực tế, phản khoa học”; là biểu hiện “chủ quan, nóng vội, duy ý chí”; là “ảo vọng viển vông, hão huyền”, “không có tính khả thi”; rêu rao rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ “đánh trống bỏ dùi”, không có kế hoạch và biện pháp triển khai cụ thể, hữu hiệu....

Trong khi đó, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, tình hình thế giới biến động rất nhanh, phức tạp, khó đoán định. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; cuộc xung đột giữa Nga và U-crai-na tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; lạm phát thế giới tăng cao, xu hướng tăng lãi suất, thắt chặt chính sách tiền tệ, tài khóa và hậu quả của đại dịch COVID-19 dẫn đến suy giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu; rủi ro tài chính, tiền tệ, mất an ninh năng lượng, lương thực... đang hiện hữu. Ở trong nước, áp lực lạm phát tăng cao; nhiều vấn đề tồn đọng kéo dài cần được giải quyết; dịch bệnh, thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp, gây nhiều thiệt hại cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị kích động tâm lý bi quan, mơ hồ, chán chường, giảm niềm tin, thiếu quyết tâm của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân trong hiện thực hóa chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng. Chúng thường dùng thủ đoạn thông qua “gửi thư”, “trao đổi”, “góp ý” kiến nghị vào dịp Đại hội Đảng, Hội nghị Trung ương, kỳ họp Quốc hội, phiên họp Chính phủ...,  nhằm thổi phồng những yếu kém về kinh tế - xã hội, hạ thấp thành quả công cuộc đổi mới, khoét sâu vào tình trạng tham nhũng, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Chúng triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội, các báo, đài phản động nước ngoài, các hình thức truyền thông mới, nhằm tuyên truyền chống phá trong một “thế trận” có “kịch bản” theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, “góp gió thành bão”; tung thông tin xấu, độc dưới dạng “thật như giả”, “giả như thật”; dựng lên các video clip, phóng sự có giao diện giống một số báo, đài chính thống để đưa tin, giật tít, “câu view”, nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người. Chúng sử dụng một số phát biểu hằn học, thiếu thiện chí của một số chính trị gia, học giả “diều hâu” phương Tây; những luận điệu sặc mùi phản động của các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị và các nhân vật ở trong nước đã bị xử lý kỷ luật vì suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... để tuyên truyền chống phá, xuyên tạc chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kiên quyết chống việc lợi dụng tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân

 Trong lịch sử cũng như hiện tại, các thế lực cực đoan, thù địch luôn tìm cách chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng dưới nhiều hình thức khác nhau; tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để lôi kéo, kích động tín đồ các tôn giáo nhằm mục tiêu chống phá Việt Nam từ bên trong, phá hoại thành quả cách mạng của dân tộc. Trước thực trạng đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao đóng góp của tôn giáo cho cách mạng, nhưng kiên quyết chống việc lợi dụng tôn giáo, lợi dụng lòng tin của tín đồ để phá hoại sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Người luôn giáo dục cán bộ rằng bản chất của tín đồ là tốt, nếu có ai đó thiếu kiên định không đi cùng dân tộc, thì chỉ là do người xấu lôi kéo nên phải có thái độ khoan hồng, độ lượng với những người lầm đường lạc lối. Phải làm cho quần chúng hiểu rõ thái độ của Đảng và Nhà nước ta không chống tôn giáo, mà chỉ chống lợi dụng tôn giáo, chống chế độ người bóc lột người. Tư tưởng của Người đã trở thành quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong công tác tôn giáo được thể hiện trong Nghị quyết số 25: “Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia”. Quan điểm trên tạo ra môi trường ổn định, lành mạnh cho các hoạt động tôn giáo thuần túy của người dân. Thực tế chứng minh Việt Nam chưa từng xẩy ra mâu thuẫn, xung đột, chiến tranh tôn giáo như các nước trong khu vực và trên thế giới và thành quả của công tác tôn giáo chính là điểm đến Việt Nam an toàn, hấp dẫn và thân thiện cho các hội nghị, hội thảo lớn về tôn giáo tầm quốc tế, khu vực trong nhiều năm qua.

Trong công tác đấu tranh với những biểu hiện sai trái của tín đồ các tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ phải kiên trì, sát dân, hiểu dân để vận động dân. Phải giải thích để đồng bào hiểu âm mưu thâm độc của kẻ thù lợi dụng tôn giáo, lợi dụng niềm tin của người dân để phản nước, hại dân, làm hại tôn giáo. Chỉ có cách mạng mới là con đường giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột, trừng trị những kẻ lợi dụng tôn giáo phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bảo vệ và phát triển tư tưởng của Người, trong công tác tôn giáo hiện nay Đảng ta yêu cầu “Công tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, các cấp, các ngành, các địa bàn. Làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo có trách nhiệm trực tiếp, cần được củng cố và kiện toàn. Công tác quản lý nhà nước đối với các tôn giáo và đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo để chống đối chế độ chỉ thành công nếu làm tốt công tác vận động quần chúng” (Nghị quyết số 25). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ rõ “Xử lý hài hòa các vấn đề dân tộc, tôn giáo, bức xúc xã hội, không để xẩy ra các “điểm nóng”. Kịp thời phát hiện, chủ động xử lý có hiệu quả các vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự, gây bức xúc trong dự luận, củng cố niềm tin của nhân dân”(13) .

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng của Người về tôn giáo là giá trị chính trị lớn đã và đang được Đảng, Nhà nước vận dụng triệt để và sáng tạo trong công tác tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Tư tưởng ấy được nhân dân ta học tập nâng cao nhận thức và vận dụng để góp phần đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, qua đó xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước./.

Phát huy giá trị đạo đức, văn hóa của các tôn giáo

 Trong ứng xử với tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhìn nhận và phát huy những giá trị tích cực của các tôn giáo, lấy đó làm điểm chung để đoàn kết tôn giáo, dân tộc. Người luôn tìm những giá trị nhân văn của các tôn giáo để cổ vũ, khích lệ chức sắc và đồng bào theo tôn giáo phát huy giá trị đó vào xây dựng đạo đức xã hội. Người đánh giá cao lòng bác ái, đức hy sinh của những vị sáng lập ra tôn giáo, sáng lập giá trị chân - thiện - mỹ trong triết lý tôn giáo với mục đích chung là mưu cầu hạnh phúc cho con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc phụng sự Đức Chúa, phụng sự Tổ quốc là nhiệm vụ thiêng liêng của người Công giáo. Mười điều răn của Chúa quy lại thành hai điều “Kính Chúa - Yêu Người” được Chủ tịch Hồ Chí Minh cụ thể hóa tinh thần yêu người thành yêu nước một cách tài tình, để người Công giáo gắn bó với quê hương, đất nước. Người coi các biểu tượng tôn giáo chính là văn hóa, là niềm tin của tín đồ cần giữ gìn. Trong kháng chiến Người căn dặn không nên vì tiêu thổ kháng chiến mà phá gác chuông nhà thờ, trừ khi giáo dân nhận rõ việc đó là bảo vệ địa phương và tán thành. Trước khi làm việc ấy phải làm lễ rước thánh giá đi nơi khác cho trọng thể(10). Tư tưởng của Người được Đảng, Nhà nước Việt Nam bảo vệ và phát triển thành quan điểm trong Nghị quyết số 25, “Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân”. Trong báo cáo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 tại Đại hội XIII của Đảng tiếp tục kế thừa và phát triển những quan điểm lớn của Đảng về tôn giáo, đặc biệt là phát triển quan điểm mới là phát huy nguồn lực tôn giáo vào các hoạt động cụ thể của xã hội “Phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo vào giữ gìn và nâng cao truyền thống xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội”(11). Từ tư tưởng đó, trong công tác tôn giáo, các cấp, các ngành đã vận dụng và phát huy giá trị đạo đức, văn hóa tôn giáo trong việc sống hiếu thảo, trung thực, nhân ái, hướng tới điều lành, tránh xa điều ác góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa dân tộc. Khơi dậy đóng góp tích cực của tôn giáo trong các hoạt động an sinh xã hội, từ thiện, nhân đạo. Hiện nay, cả nước có 300 trường, lớp mầm non, 2 nghìn lớp học tình thương, 12 cơ sở dạy nghề; 500 cơ sở khám, chữa bệnh do cá nhân, tổ chức tôn giáo thành lập và điều hành; gần 800 cơ sở bảo trợ xã hội đang nuôi dưỡng 12 nghìn các đối tượng cần trợ giúp(12), góp phần cùng nhà nước chăm lo đời sống cho người dân còn khó khăn.

Đề cao vai trò của nhân sĩ, trí thức, chức sắc các tôn giáo

 Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức đúng đắn về vai trò xã hội và đạo đức của tôn giáo đối với một bộ phận người dân, đặt biệt Người luôn kính trọng và ca ngợi những vị chức sắc (Giáo chủ) các tôn giáo: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”(7). “Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội... Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”(8). Với tư tưởng đó, trong lần gặp với đại biểu các tôn giáo năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao vai trò của tôn giáo trong công cuộc giải phóng dân tộc, Người nói: “Nước không độc lập thì tôn giáo không được tự do, nên chúng ta phải làm cho nước độc lập đã”(9) dân tộc giải phóng thì tôn giáo mới được giải phóng, lúc này chỉ có quốc gia mà không phân biệt tôn giáo nữa, mỗi người đều là công dân của nước Việt Nam có nhiệm vụ chiến đấu cho nền độc lập hoàn toàn của Tổ quốc. Công tác vận động quần chúng các tôn giáo phải động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc; thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào theo tôn giáo.

Vận dụng tư tưởng ấy của Người, Đảng ta đưa thành quan điểm trong Nghị quyết số 25 về công tác tôn giáo, trong đó nêu rõ: Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Coi công tác vận động chức sắc, tín đồ là một công tác trọng yếu trong công tác dân vận. Trong công tác đối với chức sắc tôn giáo, người chỉ rõ cần tranh thủ sự ủng hộ của hàng giáo sĩ, đặc biệt là hàng ngũ giáo sĩ cao cấp bằng việc mời họ tham gia cách mạng với một thái độ thực sự cầu thị, chân tình, tin cậy lẫn nhau; tạo điều kiện để các giáo sĩ vừa hoàn thiện sứ mệnh với đạo, vừa hoàn thành nghĩa vụ của người công dân, khơi dạy tinh thần dân tộc của người theo đạo. Phải coi công tác vận động chức sắc tôn giáo là công tác trí thức, bởi đội ngũ chức sắc vừa là người có “thần quyền”, vừa có “phẩm cách và phương pháp” của một người trí thức.

Với tinh thần cầu thị, thái độ chân thành Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp được nhiều nhân sĩ, trí thức theo tôn giáo, trong đó có các giáo sĩ Công giáo tham gia kháng chiến, ủng hộ cách mạng. Sự có mặt của các vị nhân sĩ, trí thức, chức sắc Công giáo, như Nguyễn Mạnh Hà, Ngô Tử Hạ, Vũ Đình Tụng, Hồ Đắc Ghi, Nguyễn Thành Vĩnh, các linh mục Phạm Bá Trực, Nguyễn Bá Luật..., đặc biệt là các giám mục Lê Hữu Từ, Hồ Ngọc Cẩn có tác dụng to lớn trong việc động viên, khích lệ người Công giáo tham gia kháng chiến, kiến quốc và hạn chế việc lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch.

Kế thừa và vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đưa việc tranh thủ, vận động chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo trở thành quan điểm và nhiệm vụ xuyên suốt trong công tác tôn giáo qua các thời kỳ cách mạng và xây dựng đất nước. Đặc biệt vận động, tạo điều kiện để các vị chức sắc, tín đồ tham gia đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, thành viên các tổ chức chính trị - xã hội đại diện tiếng nói của khối tôn giáo trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến nay, Quốc hội Việt Nam đã trải qua 15 nhiệm kỳ xây dựng và phát triển, từ khóa I đến khóa XV đều có chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo tham gia. Riêng khóa XV có 5 chức sắc trúng cử đại biểu Quốc hội. Được giáo hội giới thiệu, nhân dân lựa chọn bầu vào Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp là những người ưu tú, có nhiều đóng góp trong công tác lập pháp và sự nghiệp xây dựng đất nước, luôn thể hiện rõ trách nhiệm người đại biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân nói chung, của đồng bào theo tôn giáo nói riêng. Trên tinh thần đấy, từ năm 2016 đến năm 2022, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã 3 lần gặp mặt, biểu dương các chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tổ chức tôn giáo tiêu biểu có đóng góp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các bộ, ban, ngành và chính quyền địa phương thường xuyên có những cuộc gặp gỡ, đối thoại, lắng nghe tâm tư nguyện vọng của các chức sắc, nhà tu hành tôn giáo góp phần thúc đẩy tôn giáo ngày càng đồng hành, gắn bó với đất nước.

Đoàn kết các tôn giáo, đoàn kết tôn giáo - dân tộc

 Ngay từ những ngày đầu thành lập nước, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ quan điểm và kiên trì thực hiện đoàn kết tôn giáo, đoàn kết toàn dân theo tinh thần “Đoàn kết Lương - Giáo”. Người luôn xem đồng bào các tôn giáo là một phần không thể tách rời của cộng đồng dân tộc và một lực lượng quan trọng của cách mạng. Điều đó không chỉ có tác dụng khuyến khích đồng bào các tôn giáo tích cực tham gia cách mạng, mà còn đập tan những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc gây chia rẽ người cộng sản với đồng bào theo tôn giáo của các thế lực phản động. Từ giá trị của tư tưởng ấy của Người, Đảng ta khẳng định và phát triển trong Nghị quyết số 25: “Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo” và được thực thi, lan tỏa trong đời sống tôn giáo ở khắp mọi miền Tổ quốc. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định các quan điểm trên trong công tác tôn giáo: “Thực hiện tốt mục tiêu đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo quy định của pháp luật”(4).

Để thực hiện đoàn kết lương - giáo, Người luôn cố gắng làm cho đồng bào hiểu rằng, đức tin tôn giáo và lý tưởng cộng sản có nhiều điểm tương đồng. “Đường lối và mục đích của Chính phủ nhằm ba mục tiêu sau đây: (1) Giải phóng nhân dân khỏi đói, khỏi rét (khổ sở) và khỏi dốt; (2) Đem lại cho nhân dân sự tự do, tự do sống, tự do tín ngưỡng; (3) Bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc”(5). Người luôn tìm và chỉ ra những giá trị đạo đức, văn hóa dân tộc với triết lý của tôn giáo để vận động, đoàn kết đồng bào theo tôn giáo đi theo cách mạng, giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Học tập và làm theo tư tưởng của Người, Đảng ta lấy “Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung. Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(6). Làm cho đồng bào các tôn giáo tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, ủng hộ và đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới đất nước đạt được nhiều thành tựu quan trọng như ngày nay.

Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân

 Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền căn bản của con người, nhưng quyền đó phải gắn chặt và đồng hành cùng với lợi ích của đất nước, của dân tộc Việt Nam. Do vậy, quyền ấy chỉ có giá trị đích thực khi nó gắn với độc lập dân tộc, nước không được độc lập thì tôn giáo không được tự do. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, đấu tranh cho độc lập dân tộc chính là đấu tranh cho quyền độc lập, tự do của các tôn giáo, chính vì vậy, đấu tranh giành độc lập cho nước nhà cũng là trách nhiệm của cá nhân và tổ chức tôn giáo. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân phải được tôn trọng và bảo đảm dựa trên cơ sở tôn trọng đức tin tôn giáo của mỗi người và không ai được xâm phạm, ép buộc, cản trở quyền đó. Dù thế giới quan khác nhau, niềm tin khác nhau, song không vì thế mà đối đầu, nghi kỵ, ngược lại phải tôn trọng niềm tin của mỗi người(1). Đấy chính là lý do mà ngay phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) (ngày 3-9-1945) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ tuyên bố “Tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”.

Kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Nghị quyết số 25-NQ/2003/TW, ngày 12-3-2003, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về công tác tôn giáo” (Nghị quyết số 25), Đảng đưa quan điểm “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật”. Quan điểm này được thể hiện cụ thể trong vấn đề theo đạo và truyền đạo “Mọi công dân đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo của mình theo đúng quy định của pháp luật”. Hiến pháp năm 2013 có bước tiến mới trong việc mở rộng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo... Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

Từ nền tảng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng đến thực tiễn hiện nay cho thấy Việt Nam luôn quan tâm chăm lo đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào. 95% người dân Việt Nam có tín ngưỡng, tôn giáo. Riêng tôn giáo có 41 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động, hơn 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số; khoảng 58 nghìn chức sắc; 148 nghìn chức việc hoạt động ở 63 tỉnh, thành phố trong cả nước(2). Hoạt động tôn giáo, lễ hội tôn giáo diễn ra quanh năm và trở thành nét đẹp văn hóa trong đời sống xã hội, như lễ Phật đản của Phật giáo và Tịnh độ Cư sĩ Phật hội; lễ Giáng sinh, Phục sinh của Công giáo, Tin lành; Tết Chôl Ch-nam Th-mây của đồng bào Khơ-mer; Tháng lễ Ra-ma-đan của cộng đồng Hồi giáo (Islam) và Ra-mư-oăn của cộng đồng Hồi giáo Bà-ni...

Tư tưởng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn liền với việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của tín đồ tôn giáo. Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên và chính quyền phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào theo đạo, làm cho họ “phần xác no ấm, phần hồn thong dong”(3). Tinh thần của Người đã nâng cao sự nhận thức về đoàn kết dân tộc trong đồng bào theo tôn giáo khi đưa mối quan hệ biện chứng giữa “Kính Chúa, Yêu Nước” và chuyển tải tinh thần đó cho phù hợp với thời đại và niềm tin tôn giáo của tín đồ, chức sắc tôn giáo. Tư tưởng của Người đã được các ngành, các cấp liên quan cụ thể hóa trong công tác hướng dẫn tổ chức, cá nhân hoạt động tôn giáo đúng chính sách, pháp luật, ủng hộ tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bó đồng hành cùng dân tộc, đậm chất nhân văn của các tôn giáo. Cụ thể Phật giáo xác định đường hướng hành đạo “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”, Công giáo “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”; Tin lành với đường hướng “Sống phúc âm, phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc”; Cao đài với đường hướng “Nước Vinh Đạo Sáng”...

Có thể thấy tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là cam kết chính trị của người đứng đầu nhà nước với người dân về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa là quan điểm xuyên suốt mà Đảng ta đã bảo vệ và kế thừa trong công tác tôn giáo. Tư tưởng này luôn là định hướng cho cán bộ làm công tác tôn giáo nhận thức đúng, khách quan về giá trị tôn giáo, chấn chỉnh nhận thức sai lệch, tả khuynh của một số cán bộ đối với tôn giáo trong thời điểm lúc bấy giờ và trong thực hiện công tác tôn giáo hiện nay.