Thứ Ba, 7 tháng 5, 2024

Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

 


Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sang kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện. Tập trung xây dựng những văn bản pháp luật lien quan trực tiếp đến quyền làm chgủ của nhân dân

Nhận thức về xây dựng và phát huy dân chủ của Đảng ngày càng sâu sắc hơn

 


Nhận thức về tầm quan trọng và vai trò của xây dựng và phát huy dân chủ. Khẳng định, dân chủ là bản chất của chế độ, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới.  Về tính tất yếu khách quan phải đẩy mạnh các hình thức và phương thức thực hiện dân chủ, nhất là hình thức dân chủ trực tiếp. Về phát huy dân chủ đồng thời với tăng cường kỷ cương, pháp luật. Về vai trò quyết định của dân chủ trong Đảng đối với phát triển dân chủ trong hệ thống chính trị và toàn bộ đời sống xã hội. Thể chế thực thi các quyền dân chủ của nhân dân từng bước được xác lập và cụ thể hóa trên tất cả các lĩnh vực. Điều 6, Hiến pháp 2013 quy định rõ các hình thức thực hiện dân chủ: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng hình thức dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Hiến pháp năm 2013 dành riêng chương II với 36 điều (từ điều 14 đến điều 49) quy định cụ thể về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Quyền dân chủ không ngừng được mở rộng từ trong Đảng ra phạm vi toàn xã hội. Quyền và lợi ích của nhân dân được tôn trọng, bảo vệ; các hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân đã được xem xét và xử lý nghiêm khắc theo pháp luật.

 Vừa qua, trên trang “VOA Tiếng Việt” đã cho công bố bản “Báo cáo tự do tôn giáo 2024” của USCIRF (Ủy hội Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ); đáng chú ý,  nội dung báo cáo lại tiếp tục kêu gọi phía Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách “Quốc gia Cần quan tâm Đặc Biệt”. Bởi lý do “chính quyền Việt Nam đàn áp tôn giáo một cách nghiêm trọng”.


Trong báo cáo của mình, USCIRF đã cho rằng: “Nhà chức trách Việt Nam tiếp tục bách hại những cộng đồng tôn giáo độc lập không tuân thủ sự kiểm soát của nhà nước, các nhóm tôn giáo sắc tộc như người Thượng và người Hmong theo đạo Tin Lành, các Phật tử Khmer Krom, và những người Hmong theo đạo Dương Văn Mình”; “Giới chức chính quyền hạn chế các hoạt động tự do tôn giáo của người Thượng theo đạo Tin Lành, bắt họ phải từ bỏ đạo, bắt giam và kết án họ”. Đây hoàn toàn là những nhận định sai lệnh và không có cơ sở về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam.

Cần phải khẳng định rằng: Những luận điệu vu cáo xuyên tạc các chính sách tôn giáo của Việt Nam không phù hợp với luật pháp quốc tế là v.ô căn cứ. Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, các tôn giáo luôn được hoạt động bình thường trong khuôn khổ Hiến pháp, Pháp luật. Vì vậy không thể nói ở Việt Nam “không có tự do về tôn giáo”.

Theo thống kê, hiện nay ở Việt Nam có khoảng hơn 80% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Tính đến năm 2023, Việt Nam đã công nhận và cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với hơn 27 triệu tín đồ (khoảng hơn 28% dân số cả). Mỗi năm, ở Việt Nam có khoảng  8.500 lễ hội tôn giáo hoặc tín ngưỡng từ cấp quốc gia đến địa phương được tổ chức. Thực tế đó là những minh chứng sinh động, rõ nét nhất nhằm bác bỏ tất cả những luận điệu xuyên tạc, vu cáo về tình hình ở Việt Nam hiện nay.

Những nội dung của USCIRF đưa ra hoàn toàn là những nội dung sai lệch, không có căn cứ nhằm xuyên tạc tình hình t.ự d.o tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Đây chính xác là một báo cáo bịa đặt được các thế lực thù địch xào đi, nhai lại một cách thường xuyên.

Vị trí của vấn đề dân tộc trong sự nghiệp cách mạng

 


Đây là vấn đề có ý nghĩa then chốt trong việc xác định nguyên tắc cũng như chính sách của Đảng ta về vấn đề dân tộc. Đại hội Đảng lần thứ IV xác định: Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong tất cả các văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới đều xác định vị trí của vấn đề dân tộc trên hành trình đổi mới của đất nước. Đó là vấn đề “có vị trí chiến lược lớn’’3, “luôn luôn có vị trí chiến lược’’4, “có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta’’5.

Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa IX đã ra nghị quyết chuyên đề về công tác dân tộc. Đây là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng ta về vấn đề này trong kỳ đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết chỉ rõ: Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xem vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng trong cách mạng nước ta. Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng ta đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc, với nội dung cơ bản là: “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển’’. Trải qua các thời kỳ cách mạng, công tác dân tộc đã đạt được những thành tựu to lớn góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng chung của đất nước. Trên cơ sở đánh giá toàn diện vấn đề dân tộc và xuất phát từ yêu cầu của tình hình mới, Nghị quyết khẳng định: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam. Lần đầu tiên, vấn đề dân tộc được xác định là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài có tính xuyên suốt trong toàn bộ tiến trình phát triển của cách mạng nước ta, đồng thời Đảng ta còn xác định đây là vấn đề cấp bách. Đây là luận điểm rất quan trọng thể hiện tầm nhìn chiến lược và tư duy đổi mới trong bối cảnh quốc gia và quốc tế của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới.

Việc xác định vị trí của vấn đề dân tộc của Đảng trên chính là xuất phát từ đặc điểm của cộng đồng quốc gia dân tộc ở nước ta và coi đó là bộ phận hợp thành của chiến lược phát triển đất nước. Đây là cơ sở rất quan trọng để từ đó định ra các nguyên tắc cũng như chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Lênin đã từng chỉ rõ: “những sai biệt về mặt dân tộc và quốc gia giữa các dân tộc và các nước, những sai biệt này sẽ còn tồn tại lâu dài ngay cả sau khi nền chuyên chính vô sản được thiết lập trong phạm vi toàn thế giới’’6. Điều đó cho thấy chừng nào còn có sự khác biệt về dân tộc thì dân tộc vẫn tồn tại và vẫn còn cơ sở xã hội và thực tiễn cũng như nguy cơ tiềm ẩn mâu thuẫn dân tộc và xung đột dân tộc, do đó, vấn đề dân tộc vẫn tiếp tục đặt ra.

Đối với nước ta, vấn đề dân tộc thiểu số vừa là vấn đề giai cấp, vừa là vấn đề miền núi, vừa là vấn đề biên cương, vấn đề an ninh quốc gia và chủ quyền lãnh thổ, đồng thời đây cũng là vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, mà Đảng ta đã đề ra. Bài học của nhiều quốc gia trên thế giới những năm cuối thế kỷ XX cho thấy nếu coi nhẹ vấn đề dân tộc và không xác định đúng vị trí vấn đề dân tộc trong chiến lược phát triển quốc gia thì tất yếu dẫn đến xung đột dân tộc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan đến sự tồn vong quốc gia7.

Nhận thức của Đảng ta về đoàn kết dân tộc

 

 


Quán triệt những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, ngay từ đầu, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nguyên tắc và định hướng chiến lược về chính sách dân tộc ở Việt Nam, đó là đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc. Có thể khẳng định chính sách dân tộc của Đảng ta luôn được quán triệt và triển khai thực hiện nhất quán trong mọi thời kỳ. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, chính sách dân tộc của Đảng luôn được bổ sung, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của đất nước. Với quan điểm cách mạng là sáng tạo không ngừng, trong thời kỳ đổi mới, chính sách dân tộc của Đảng ta vừa đảm bảo tính nhất quán, vừa đổi mới trước yêu cầu phát triển và hội nhập nhằm giải quyết thành công vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay và trong tương lai.

Từ Đại hội IV đến Đại hội XIII của Đảng, chính sách dân tộc đã được Đảng ta đề ra trên các vấn đề cốt lõi là: Vị trí của vấn đề dân tộc trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng; các nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc; những vấn đề trọng yếu của chính sách dân tộc trong những điều kiện cụ thể.

Dân tộc Việt Nam rất đoàn kết

 


Ngay từ thời dựng nước, Việt Nam đã là quốc gia đa dân tộc (tộc người)1. Trong tiến trình phát triển hàng ngàn năm, các dân tộc dù quá trình tộc người khác nhau nhưng luôn luôn sát cánh bên nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với truyền thống: “Bầu ơi thương lấy bí cùng; tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Cái “giàn” mà ông cha ta đã tổng kết chính là Tổ quốc Việt Nam của tất cả chúng ta. Xuất phát từ đặc điểm đó, ông cha ta đã thực thi nhiều biện pháp nhằm giải quyết vấn đề dân tộc trước yêu cầu phát triển quốc gia, đặc biệt là trong thời cổ trung đại và di sản về vấn đề dân tộc trong lịch sử đã để lại nhiều bài học quý giá cho hôm nay khi giải quyết vấn đề dân tộc2. Chính vì vậy, ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định vấn đề dân tộc có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

Quan hệ về vấn đề dân tộc liên quan đến các nước trong khu vực và trên thế giới.

 


Nhiều dân tộc ở nước ta hiện có mối liên hệ truyền thống với các cư dân vùng biên giới các quốc gia láng giềng cũng như các quốc gia trong khu vực và cả một số quốc gia trên thế giới. Giải quyết và xử lý đúng đắn quan hệ về vấn đề dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa liên quan đến các nước trong khu vực và thế giới là một yêu cầu quan trọng. Phải kiên trì thực hiện đường lối chính trị rộng mở, đa phương hóa, đoàn kết thống nhất dân tộc. Mặt khác, phải kiên quyết đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch hòng chống phá lợi ích dân tộc. Tùy từng sự việc, điều kiện hoàn cảnh cụ thể mà có những phân tích, xử lý đúng đắn, và đòi hỏi công tác dân tộc phải nắm chắc tình hình, nhạy bén, làm tham mưu tốt cho Đảng, Nhà nước trong công tác đối ngoại chính trị, đối ngoại nhân dân và xử lý tình huống khi cần thiết./.

Bản chất của chế độ dân chủ ở Việt Nam hiện nay

 


Chế độ dân chủ ở Việt Nam hiện nay là chế độ dân chủ XHCN, mang bản chất của giai cấp công nhân. Chủ thể của quyền lực chính trị ở Việt Nam là đại đa số nhân dân dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN. Ở nước ta mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Dựa trên chế độ công hữu về TLSX. Mọi tổ chức của hệ thống chính trị đều được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tổ chức và hoạt động của GCCN. Mọi công dân bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ.

Dân chủ mang tính giai cấp, tính dân tộc.

 


 Trong xã hội có giai cấp, dân chủ mang tính giai cấp, không có dân chủ chung cho mọi giai cấp. Lịch sử nhân loại đã trải qua các chế độ dân chủ chủ nô, chế độ dân chủ tư sản, chế độ dân chủ vô sản (hay dân chủ xã hội chủ nghĩa). Mỗi giai cấp có quan điểm, mục tiêu, phương thức thực thi dân chủ khác nhau. Trong Nhà nước phong kiến - nhà nước quân chủ dường như không có dân chủ. Dân chủ còn phản ánh bản sắc, truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc.

Dân chủ là một phạm trù lịch sử và gắn liền với đấu tranh giai cấp.

 


 Ở mỗi thời đại lịch sử khác nhau thì phạm trù dân chủ có nội dung khác nhau. Sự phát triển của dân chủ chịu sự chi phối bởi trình độ phát triển của kinh tế, văn hóa, dân trí và các nhân tố xã hội khác. Dân chủ là kết quả của đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc. Do đó, đấu tranh cho dân chủ là một nội dung, một mục tiêu của đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc. Cùng với lịch sử, dân chủ từng bước được thực hiện, từ chỗ giai cấp thống trị chà đạp, phủ nhận các quyền tự do, dân chủ của nhân dân đến chỗ từng bước phải thừa nhận về mặt pháp lý và thực thi dân chủ một cách hạn chế. Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ là văn bản chính trị tuyên bố 13 thuộc địa khu vực Bắc Mỹ tuyên bố tách khỏi Anh và thành lập Hợp chủng quốc Hoa kỳ; Cách mạng tư sản Pháp (1789) cho ra đời Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền.

Dân chủ và thực hiện dân chủ hiện nay

 


Dân chủ là một giá trị xã hội (giá trị nhân văn) phản ánh những quyền cơ bản của con người; là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền, một chế độ chính trị - xã hội mà ở đó những quyền cơ bản của con người (tự do, bình đẳng, tôn trọng sự thống nhất trong đa dạng…) được pháp luật thừa nhận và bảo vệ; đồng thời những quyền này được thể chế thành các nguyên tắc (quyền lực thuộc về nhân dân, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, thiểu số phục tùng đa số, quyền tự do tư tưởng, ý chí hành động, bầu cử tự do và công bằng…) để quy định quyền lợi, trách nhiệm của nhân dân đối với nhà nước, cộng đồng và ngược lại. “Dân chủ” ra đời từ thời nhà nước thành bang Aten cổ đại. Dân chủ là phạm trù chính trị, gắn liền với chính trị. Dân chủ phản ánh địa vị, vai trò của nhân dân trong quan hệ giữa con người với quyền lực chính trị, trong đó nhân dân là chủ và làm chủ trên mọi lĩnh vực của xã hội; mọi công dân đều có quyền tự do, bình đẳng. Hồ Chí Minh: “Dân là chủ” là muốn nói đến vị thế, quyền lực của nhân dân trong bộ máy nhà nước; vai trò của nhân dân trong quản lý xã hội. Người nói: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”.

Quan niệm về dân chủ

 


Thuật ngữ dân chủ xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ V đến thế kỷ IV tr.CN tại Hy Lạp. Theo tiếng Hy Lạp, dân chủ được viết là Demoskratos, trong đó Demos nghĩa là nhân dân và kratos nghĩa là quyền lực. Theo cách diễn đạt này, dân chủ trong tiếng Hy Lạp cổ được hiểu nhân dân cai trị và sau này được các nhà chính trị dịch giản lược là quyền lực của nhân dân hay quyền lực thuộc về nhân dân. Đến thế kỷ XVIII, người Anh đã dựa vào ngôn ngữ Hy Lạp cổ để đưa ra thuật ngữ “democracy”, có nghĩa là “chính thể dân chủ”, thể chế dân chủ, một trong những hình thức chính quyền với đặc trưng là: chính quyền nhà nước phải thừa nhận quyền tự do và bình đẳng của công dân. Điều đó có nghĩa là: Dân chủ là chính thể nhà nước thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của nhân dân.

Xem xét các nền dân chủ trong lịch sử cho thấy, nội dung trên của khái niệm dân chủ về cơ bản vẫn giữ nguyên cho đến ngày nay. Điểm khác biệt cơ bản giữa cách hiểu về dân chủ thời cổ đại và hiẹn nay là ở tính chất trực tiếp của mối quan hệ sở hữu quyền lực công cộng và cách hiểu về nội hàm của khái niệm nhân dân

V.I.Lênin quan niệm “dân chủ là sự thống trị của đa số”. Do vậy dân chủ được nhìn nhận như một hình thức, một hình thái nhà nước, trong đó thừa nhận sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước để thực hiện sự thống trị đối với thiểu số những kẻ vi phạm dân chủ của nhân dân. Mức độ phạm vi tham gia thật sự của quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước phản ánh trình độ phát triển của nền dân chủ, phản ánh những vấn đề cốt lọi nhất của dân chủ.

DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN LÀ NHỮNG VẤN ĐỀ RẤT HỆ TRỌNG HIỆN NAY

 


Dân chủ, nhân quyền là những vấn đề rất quan trọng trong tiến trình phát triển loài người nói chung và mỗi quốc gia nói riêng. Lịch sử thế giới cho thấy, khi nào vấn đề dân chủ, nhân quyền đ­­ược giải quyết tốt thì xã hội mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến mâu thuẫn, xung đột, làm mất ổn định chính trị - xã hội. Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm thực hiện tốt và phát huy dân chủ và bảo đảm nhân quyền, tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong những năm vừa qua. Nắm vững và thực hiện tốt vấn đề dân chủ, nhân quyền có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi cán bộ nói chung, đối với cán bộ quân đội hiện nay.

Sự phát triển không đồng đều của các vùng, nhóm dân tộc

 


 Có thể nhận thấy, sự phát triển không đồng đều làm cho đời sống kinh tế - xã hội giữa các dân tộc chênh lệch nhau, gây nên sự mặc cảm, tự ti, làm giảm yếu tố động lực phát triển ở các dân tộc. Điều này gây bất lợi trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, nhất là khi mối quan hệ dân tộc trở nên phức tạp và dễ vượt ra khỏi phạm vi dân tộc trở thành quan hệ quốc gia và quốc tế khi bị các thế lực thù địch lợi dụng. Thực hiện phát triển kinh tế - xã hội, từng bước cải thiện và nâng cao mọi mặt đời sống nhân dân, thu hẹp dần khoảng cách phát triển giữa các vùng, các dân tộc là một mục tiêu lớn đặt ra cho công tác dân tộc nói riêng và công tác quản lý quốc gia nói chung. Xử lý hài hòa các nhu cầu và lợi ích, giữa yếu tố truyền thống và hiện đại, giữa kinh tế và văn hóa trong sự biến đổi kinh tế - văn hóa, quan hệ dân tộc đang là nhu cầu bức thiết, đòi hỏi phải có những nghiên cứu sâu rộng, khả năng giải quyết tình hình thực tiễn nhạy bén, linh hoạt. Đây là thách thức đối với các cấp, các ngành, địa phương vùng dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay.

Quan điểm, đường lối giải quyết vấn đề dân tộc trong nước

 


Vấn đề dân tộc luôn được Đảng quan tâm và thể hiện trong từng văn kiện của Đảng. Có thể thấy, đường lối, chính sách của Đảng về vấn đề dân tộc được khái quát trên những điểm cơ bản là:

- Trong nội bộ quốc gia và với các quốc gia khác, đó là việc giải quyết vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc trên cơ sở kiên trì phát huy truyền thống “độc lập dân tộc” gắn với “chủ nghĩa xã hội”, và “không có gì quý hơn độc lập tự do”.

- Giải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta là giải phóng con người thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; thực hiện dân chủ, tự do cho các dân tộc; phát huy truyền thống đoàn kết xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

- Việc giải quyết vấn đề dân tộc không chỉ là vấn đề mang tính chính trị -xã hội sâu sắc mà còn mang tính liên ngành, tính toàn diện, tác động đến nhiều cấp, nhiều ngành trong hệ thống tổ chức nhà nước, hệ thống chính trị xã hội các cấp từ Trung ương đến địa phương.

Quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về giải quyết vấn đề dân tộc

 


Thứ nhất, giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia - độc lập dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước. Xây dựng kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 07-NQ/TW, ngày 27-11-2001, của Bộ Chính trị khóa IX xác định nguyên tắc hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó nhấn mạnh chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Hội nhập quốc tế tranh thủ hòa bình, phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân. 

Thứ hai, đổi mới và thống nhất nhận thức kịp thời xây dựng độc lập, tự chủ và chủ quyền quốc gia trong bối cảnh mới. Giải quyết tốt 8 mối quan hệ đặt ra và giải quyết tranh chấp trên Biển Đông. Độc lập và tự chủ có liên quan mật thiết nhưng không đồng nhất nhau và đều có những nội hàm riêng trên thực tế. Độc lập là quyền và sự công nhận chủ quyền, là sự khẳng định tính đơn nhất nhưng vẫn nằm trong thế đan xen, hợp tác trong các khối kinh tế, chính trị. Tự chủ là sự chủ động, tự quyết và tự giải quyết các vấn đề thuộc về quốc gia độc lập, trên nguyên tắc không can thiệp. Vấn đề quan trọng nhất là nâng cao tự chủ quốc gia.

Độc lập chính trị là vô cùng quan trọng và được coi là nguyên tắc bất di bất dịch trong mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị. Chính trị ở đây là vấn đề nhà nước và chính quyền. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, quản trị toàn cầu đang trở thành một xu hướng đan xen và tồn tại bên cạnh quản trị quốc gia, trong quản lý quốc gia như một phương thức quản trị hữu hiệu.

Thứ ba, nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, đồng thời giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa giữ vững độc lập, tự chủ và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế. Độc lập, tự chủ phụ thuộc vào sức mạnh kinh tế, quân sự của quốc gia. Sức mạnh đó bao gồm các cấu thành: Tiềm lực kinh tế, khoa học kỹ thuật, quốc phòng và an ninh; các giá trị truyền thống và đương đại Việt Nam, bao gồm cả các hệ giá trị mới nhằm thúc đẩy sự phát triển của đất nước; củng cố vị thế quốc gia trên trường quốc tế và khu vực, củng cố chủ quyền quốc gia trên cả vùng biển và đất liền, củng cố và bảo vệ độc lập, dân tộc.

Thứ tư, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ này cần được nhận thức đầy đủ trong bối cảnh mới khi mà bảo vệ Tổ quốc không chỉ trên mặt trận sức mạnh vũ khí trực tiếp mà cả trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường. Và nó cần phải được chú trọng xử lý ngay trong hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, các đề án, quy hoạch, kế hoạch.

Những tác động tiêu cực và âm mưu của các thế lực thù địch đối với vấn đề dân tộc ở nước ta

 


Vấn đề dân tộc và tôn giáo từ rất sớm bị các thế lực xâm lược từ bên ngoài, các thế lực thực dân, đế quốc xem như một “công cụ”, “phương tiện” tất yếu vừa có tính “mở đường”, vừa là “thường xuyên” trong quá trình thực hiện các ý đồ xâm lược, chống phá cách mạng. Dân tộc và tôn giáo là hai vấn đề vừa có tính lịch sử, vừa có tính thời sự hiện nay, đó cũng là các vấn đề nhạy cảm và phức tạp trong mọi thời kỳ phát triển. Vấn đề dân tộc ở nước ta lại bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá cách mạng, bởi mấy lý do sau:

Một là, các dân tộc thiểu số là một bộ phận của quốc gia có đời sống còn nhiều khó khăn so với mặt bằng chung. Nguyên nhân kinh tế là yếu tố dễ đem ra để so sánh, kích động, dễ nhận biết để lồng vào đó cách giải thích khác nhau nhằm tạo ra sự nghi kỵ, từ đó phá hoại khối đoàn kết giữa các dân tộc, đa số với thiểu số; thiểu số với thiểu số.

Hai là, mặt bằng học vấn của đồng bào các dân tộc thiểu số không đồng đều, nhận thức còn những hạn chế nên dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng để xuyên tạc sự thật về các vấn đề phát triển và quan hệ dân tộc.

Ba là, trình độ quản lý nhà nước về công tác dân tộc của hệ thống chính trị bên cạnh thành tựu vẫn còn hạn chế, chưa sâu sát, chưa bền vững, xuất phát từ nhiều nguyên nhân, như nhận thức, cán bộ, cơ chế quản lý, chính sách, xuất phát điểm của các dân tộc trong phát triển...

Bốn là, xuất phát từ quan điểm chiến lược (thuộc bản chất) của các thế lực thù địch khi đi xâm lược một thuộc địa hay chiếm đoạt quốc gia khác trước khi chiếm tài nguyên là chinh phục “người dân bản địa, bản xứ” thông qua con đường có tính mũi nhọn là “tôn giáo” và “dân tộc”. Lợi dụng đặc điểm quan hệ tộc người trong điều kiện các quốc gia đa tộc người; áp dụng chính sách “chia để trị” để kích động phá hoại khối đoàn kết dân tộc.

Thách thức đối với vấn đề dân tộc trong hội nhập và toàn cầu hóa

 


Nhận thức, suy nghĩ, tình cảm của người dân, thậm chí của cả cán bộ chịu tác động xấu từ bên ngoài bằng rất nhiều hình thức khác nhau, vật chất, tinh thần, tâm linh, trực tiếp và gián tiếp..., đòi hỏi chúng ta phải nắm bắt được những diễn biến tâm tư, tình cảm của họ. Từ những tác động đó, dần dần hình thành tâm lý, nguy cơ phân hóa, cực đoan, chủ nghĩa dân tộc là những mầm mống nảy sinh gây mất đoàn kết dân tộc. Thực tế đã có những sự việc nhỏ trong đời sống kinh tế - xã hội bị vướng mắc trong quan hệ giữa các cá nhân, cộng đồng nhỏ đã bị đẩy lên thành vấn đề quan hệ dân tộc, chính trị hóa từ sự việc quan hệ kinh tế - dân sự.

Đây là những ảnh hưởng, hệ quả của quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế tác động tiêu cực đến sự phát triển của các dân tộc trên nhiều phương diện: kinh tế - văn hóa - xã hội và nhất là quan hệ chính trị. Một mắt xích bị bất ổn sẽ kéo theo chuỗi bất ổn của quốc gia, dân tộc, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh toàn cầu. Vấn đề toàn cầu hóa và hội nhập đang đặt ra cho các quốc gia dân tộc phải nắm bắt và xử lý được những vấn đề cơ bản, bao gồm:

- Quan hệ đa chiều bao gồm cả những tương tác tích cực và hạn chế giữa tộc người với tộc người trong phạm vi quốc gia. Quan hệ đa chiều gồm cả những tiến bộ và hạn chế của tộc người với tộc người trên phạm vi quốc tế. Từ những so sánh quan hệ này hình thành tâm lý so sánh về trình độ phát triển và mức hưởng thụ kinh tế, văn hóa xã hội giữa các tộc người trong phạm vi quốc gia và quốc tế, các thế lực bên ngoài lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền gây mất ổn định chính trị.

- Quan hệ truyền thống và hiện đại đang trở thành vấn đề lớn mà các quốc gia dân tộc phải đối mặt và bắt buộc phải giải quyết. Truyền thống tạo nên những sắc thái văn hóa và cũng là cơ sở gắn kết tính cộng đồng trở nên mạnh mẽ hơn, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau và cùng chia sẻ lợi ích có được. Tâm lý quốc gia, dân tộc cũng hình thành từ những giá trị truyền thống và yêu nước. Trong khi yếu tố hiện đại phần lớn là những yếu tố ngoại lai, các giá trị văn minh và lối sống công nghiệp. Điểm mấu chốt là giải quyết mối quan hệ đó như thế nào, giữ lại cái gì, tiếp nhận cái gì, hòa trộn thế nào là những câu hỏi khó.

- Sự đối diện giữa đời sống vật chất và các giá trị. Xã hội, tâm linh ngày càng trở nên phức tạp, đan xen và xuất hiện ngày càng phổ biến trong đời sống xã hội. Toàn cầu hóa dẫn đến sự xâm nhập, du nhập các dòng tư tưởng tôn giáo, tâm linh trên toàn thế giới dù rằng mức độ có khác nhau, nhưng rõ ràng yếu tố này đang chi phối đời sống các cá nhân và cộng đồng mạnh mẽ dễ dẫn đến sự chệch dòng nếu không có sự định hướng, kiểm soát phù hợp.

- Vấn đề bản sắc và đồng hóa tự nhiên hoặc có chủ định cũng là vấn đề lớn đặt ra. Bản sắc khẳng định giá trị và sự tồn tại của một quốc gia dân tộc nhưng cũng không thể giữ bản sắc theo nghĩa tuyệt đối, khép kín mà phải có yếu tố hòa nhập. Nhưng nếu không có sự độc lập, tự chủ thì sẽ dẫn đến sự đồng hóa, cả theo nghĩa nhân chủng học, cả về văn hóa, theo con đường thôn tính tự nhiên hoặc đôi khi cả sự tự nguyện.

- Vấn đề phát triển và phát triển bền vững là những yêu cầu mà mỗi quốc gia dân tộc phải lựa chọn con đường đi, sách lược phù hợp nhằm giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa lợi ích trước mắt và lâu dài. Rõ ràng, trong một tương lai xa phải bắt đầu cho phát triển bền vững ngay từ bây giờ nhưng với nhiều quốc gia, điều đó là chưa thể vì nhu cầu đời sống thực tại.

- Vấn đề dân chủ, công bằng và phân tầng xã hội. Đó là hệ quả tất yếu của quá trình phát triển hiện đại gắn với quá trình toàn cầu hóa, phân công lại lao động, phân chia lại các giá trị. Toàn cầu hóa đã di chuyển chủ nghĩa tư bản ra toàn thế giới với sự bóc lột tinh vi đối với các quốc gia dân tộc khác. Dân chủ, công bằng và phân tầng xã hội diễn ra mạnh mẽ ở các nước đang phát triển, giữa khối một số nước giàu nhất với khối phần lớn các nước nghèo nhất trên thế giới, thúc đẩy quá trình này đi nhanh hơn so với tiến trình lịch sử.

Hội nhập, toàn cầu hóa - tính tất yếu của quá trình vận động của dân tộc và vấn đề dân tộc

 


Dân tộc và vấn đề dân tộc là sự đối thoại, xâm nhập, đan xen, trao đổi, tác động qua lại và có chút pha trộn giữa các yếu tố nội sinh và ngoại sinh. Không có nền văn hóa nào trên thế giới lại tuyệt đối đơn lẻ, thuần khiết và không bị ảnh hưởng bởi bất cứ nền văn hóa nào khác. Không hội nhập với thế giới bên ngoài thì sớm hay muộn cũng sẽ suy thoái. Nhưng vấn đề là ở chỗ cách thức hội nhập với thế giới như thế nào thì mới đem lại hiệu quả.

Các quốc gia dân tộc có điều kiện “đối sánh”, để nhìn nhận và làm rõ vấn đề dân tộc trong bối cảnh tình hình mới, có điều kiện để học hỏi cái hay, cái tinh hoa từ bên ngoài (quốc gia, khu vực, toàn cầu) và tránh được những “xung đột” do vấn đề dân tộc gây ra; có điều kiện quảng bá và giới thiệu quan điểm của nhà nước về vấn đề dân tộc và trong giải quyết vấn đề dân tộc. Hội nhập và toàn cầu hóa là điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội, con người ngang tầm thời đại và điều kiện để làm giàu và phát triển các dân tộc theo hướng hiện đại, khắc phục những hủ tục để cải tạo phong tục, tập quán...

NHÂN LÊN NIỀM TỰ HÀO CHIẾN THẮNG

 

Ngày 4-5, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4 năm 2024 nhằm đánh giá về hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2024; tình hình phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công; tình hình triển khai 3 Chương trình mục tiêu quốc gia; đánh giá công tác chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và nhiều vấn đề quan trọng khác.

Phiên họp đánh giá, tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 tiếp tục chuyển biến tích cực và đạt những kết quả quan trọng, một số lĩnh vực cải thiện rõ rệt hơn so với tháng 3 và quý I. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định và tiếp tục xu hướng phục hồi tích cực, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,07% so với tháng trước, bình quân 4 tháng tăng 3,93% so với cùng kỳ.