Thứ Hai, 8 tháng 7, 2024

Các giai đoạn phát triển của thời đại

 


Đây là giai đoạn thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, mở đầu sự ra đời và phát triển chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước Nga và sau đó là Liên Xô, Mông Cổ. Chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ xã hội do nhân dân lao động làm chủ, tình trạng người bóc lột người từng bước bị xóa bỏ; tạo khả năng xây dựng và bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa trong một nước, đủ sức đánh bại mọi sự chống phá, can thiệp, xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, cứu loài người thóat khỏi thảm họa phát xít trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai và mở đường cho phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ.

Giai đoạn 2: Từ năm 1946 đến giữa những năm 70 của thế kỷ XX. Đây là giai đoạn chủ nghĩa xã hội được mở rộng và phát triển từ một nước trở thành hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Giai đoạn này, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, chứng tỏ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa so với tư bản chủ nghĩa. Nhờ đó, phong trào công nhân, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh và giành được nhiều thắng lợi, phá vỡ hệ thống thuộc địa kiểu cũ của chủ nghĩa đế quốc. Hàng trăm quốc gia giành được độc lập dân tộc, góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh chung của loài người vì một thế giới văn minh, tiến bộ. Nhưng cuối giai đoạn này đã xuất hiện những bất đồng lớn giữa các nước xã hội chủ nghĩa, trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Giai đoạn 3: Từ cuối những năm 70 đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Đây là giai đoạn nhiều nước xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lâm vào tình trạng khó khăn, khủng hoảng. Do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, công cuộc cải tổ ở một số nước xã hội chủ nghĩa đã mắc sai lầm. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động ra sức chống phá dẫn đến rối loạn chính trị, hậu quả là chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, hệ thống xã hội chủ nghĩa tan vỡ và cũng là kết thúc thời kỳ chiến tranh lạnh và thế giới hai cực.

Giai đoạn 4: Từ giữa những năm 90 thế kỷ XX đến nay. Đây là giai đoạn chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, thóai trào, các nước xã hội chủ nghĩa khác cùng với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lâm vào khó khăn. Lợi dụng tình hình đó, chủ nghĩa tư bản ra sức tấn công chủ nghĩa xã hội bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Nhưng một số nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Việt Nam, Cuba... đã trụ vững, tiến hành cải cách, đổi mới, chuyển đổi mô hình đạt nhiều thành tựu to lớn, phát triển mạnh mẽ. Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế từng bước phục hồi và có nhiều triển vọng phát triển mới.

Chủ nghĩa tư bản hiện đại đang điều chỉnh để thích nghi, có ưu thế nhất định về vốn, khoa học kỹ thuật,… nhưng những khuyết tật cố hữu, những mâu thuẫn kinh tế, chính trị, xã hội vẫn không thể khắc phục; thất nghiệp, đói nghèo, bóc lột, xâm lược, hiếu chiến... ngày càng tăng. Vì thế, chủ nghĩa tư bản không đại diện cho tương lai của loài người và con đường diệt vong của nó là không thể tránh khỏi.

Thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu, an ninh phi truyền thống, Cách mạng công nghiệp lần thư tư… tạo ra thời cơ, vận hội mới, song cũng đặt ra những khó khăn, thử thách mới và tác động cả tích cực và tiêu cực đối với tất cả các nước trên thế giới.

Trong mỗi thời đại lịch sử lại được phân chia thành nhiều thời kỳ (hay giai đoạn) khác nhau. Mỗi thời kỳ (hay giai đoạn) vừa mang đặc điểm chung của thời đại, vừa mang những đặc trưng cụ thể của từng thời kỳ lịch sử. Việc phân chia thời đại lịch sử thành nhiều thời kỳ hay nhiều giai đoạn là rất cần thiết để nhận thức đầy đủ hơn về thời đại. Điều đó có thể khắc phục được sai lầm là lấy đặc điểm, diễn biến của một thời kỳ hay một giai đoạn cụ thể nào đó làm đặc trưng cho cả một thời đại lịch sử dài và đưa ra những kết luận về tương lai quá sớm trên cơ sở những dự báo chưa đầy đủ; hoặc chỉ thấy đặc điểm chung của thời đại mà không thấy tính đa dạng, phong phú và phức tạp của từng thời kỳ lịch sử cụ thể trong thời đại.

Nắm vững thời đại hiện nay để có tầm nhìn chiến lược cho cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Thời đại hiện nay là một thời kỳ lịch sử lâu dài, được mở đầu bằng thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, với sự ra đời, phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa và kết thúc khi xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 nổ ra và giành thắng lợi đánh dấu sự ra đời của một hình thái kinh tế - xã hội mới, hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Nó khẳng định sự ra đời của một phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, tạo ra bước ngoặt trong phương hướng phát triển của nhân loại. Nó cũng khẳng định vị thế trung tâm thời đại của một giai cấp mới, đó là giai cấp công nhân. Thời đại hiện nay phản ánh xu hướng phát triển tất yếu của xã hội loài người lên một nấc thang cao hơn - xã hội xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa, mặc dù ở nhiều nước vẫn còn tồn tại chế độ kinh tế - xã hội tiền tư bản và tư bản chủ nghĩa; trong đó giai cấp công nhân giữ vai trò trung tâm của lịch sử. V.I.Lênin khẳng định, Cách mạng Tháng Mười “mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới, thời đại thống trị của một giai cấp mới, giai cấp bị áp bức trong tất cả các nước tư bản”[1]. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “Cách mạng Tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới”[2]. Thời đại hiện nay kết thúc khi xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.

 



[1] V.I.Lênin toàn tập, Tập 44, “Để kỷ niệm lần thứ tư Cách mạng Tháng Mười” (1921), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.184.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 15, “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc” (1967), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.388.

Cơ sở khoa học của việc phân chia thời đại

 


Chủ nghĩa Mác - Lênin đã xác định đúng đắn, khoa học và cách mạng về phân chia thời đại. Khi phân tích mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản thông qua những biến đổi về kinh tế và chính trị của nó, C.Mác đã chỉ ra logic khách quan tất yếu dẫn tới sự phủ định của chính chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của chủ nghĩa xã hội - giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Căn cứ vào sự thay thế của hình thái kinh tế - xã hội, là cơ sở khách quan khoa học và căn bản nhất để xác định một thời đại mới. Lịch sử hình thành của xã hội loài người được phân chia thành những giai đoạn, thời kỳ khác nhau, không theo ý muốn chủ quan, tùy tiện, mà dựa trên cơ sở những đặc điểm, bản chất và những tiêu chí khoa học, khách quan. Ph.Ăngghen đã từng nói không có chế độ nô lệ cổ đại thì không có chủ nghĩa xã hội hiện đại. C.Mác viết: “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”[1]. Ph.Ăngghen cũng chỉ rõ: “Trong mọi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội - cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra, cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy”[2]nhấn mạnh: “…trong mỗi thời đại lịch sử, phương thức chủ yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội do phương thức đó quyết định, đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trị của thời đại và lịch sử sự phát triển trí tuệ của thời đại, cái cơ sở mà chỉ có xuất phát từ đó mới cắt nghĩa được lịch sử đó”[3].

C.Mác và Ph.Ăngghen xác định mỗi hình thái kinh tế - xã hội, với quá trình phát sinh, phát triển và bị thay thế của nó, đánh dấu một thời đại lịch sử. Nhân loại đã, đang và sẽ trải qua 5 thời đại tương ứng với 5 hình thái kinh tế - xã hội nối tiếp nhau là: thời đại nguyên thủy, thời đại chiếm hữu nô lệ, thời đại phong kiến, thời đại tư bản chủ nghĩa và thời đại cộng sản chủ nghĩa.

Trên cơ sở quan niệm về thời đại của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã tiếp tục phát triển nhận thức, xem xét thời đại như một phạm trù lịch sử, từ tư duy trừu tượng đến nhận thức cụ thể về một thực tại khách quan. V.I.Lênin đã nhận thức vấn đề thời đại ngày nay trên cơ sở phân tích hiện thực cụ thể của chủ nghĩa tư bản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đó là bước chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh lên giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản đế quốc làm xuất hiện các mâu thuẫn mới của thời đại, đồng thời, tạo ra các mắt khâu xung yếu trong hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới. V.I.Lênin gọi đây là thời đại đế quốc chủ nghĩa, với đầy nguy cơ chiến tranh thế giới khốc liệt giữa các thế lực đế quốc với nhau. V.I.Lênin nhận định các cuộc chiến tranh đế quốc là “đêm trước của cách mạng vô sản” và “phòng chờ của chủ nghĩa xã hội”. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, V.I.Lênin nhận định rằng, nhân loại đã bắt đầu một thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

Kế thừa và phát triển lý luận mácxít về thời đại, V.I.Lênin chia mỗi thời đại lớn theo cách phân kỳ hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác và Ph.Ăngghen thành nhiều thời đại nhỏ, tương ứng với từng giai đoạn nhất định. Chẳng hạn, thời đại tư bản chủ nghĩa được chia thành 4 thời kỳ: thời kỳ thứ nhất trước 1789, thời kỳ thứ hai từ 1789 đến chiến tranh Pháp - Phổ (1870 - 1871), thời kỳ thứ ba từ 1871 đến chiến tranh thế giới thứ Nhất (1914), thời kỳ thứ tư từ sau 1914. Tuy nằm trong một hình thái kinh tế - xã hội, các thời đại nhỏ này khác nhau cơ bản về đặc điểm, động lực, tính chất, nội dung và phương hướng vận động. V.I.Lênin cho rằng: “... trong mỗi thời đại đều có và sẽ còn có những phong trào cá biệt, cục bộ, khi tiến, khi lùi; đều có và sẽ còn có những thiên hướng khác nhau đi chệch ra khỏi phong trào chung và nhịp độ chung của phong trào”[4].

Căn cứ vào giai cấp giữ vị trí trung tâm của thời đại. V.I.Lênin đã ch: “Chúng ta biết giai cấp nào đứng ở vị trí trung tâm của thời đại này hay thời đại khác và xác định nội dung căn bản, phương hướng phát triển chính của thời đại ấy, những đặc điểm chủ yếu của bối cảnh lịch sử của thời đại ấy”[5]. Theo V.I.Lênin, giai cấp trung tâm của thời đại phải đáp ứng được hai điều kin: một là, giai cấp ấy đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, đã ra đời trong thc tế; hai là, phong trào đấu tranh của giai cấp đó phù hợp với xu hướng vận động tất yếu của xã hội, có khả năng lãnh đạo, tập hợp nhân dân đấu tranh xóa bỏ chế độ cũ lỗi thời lạc hậu, xây dựng chế độ mới tiến bộ hơn.

Giai cấp trung tâm của thời đại phải là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cuộc đấu tranh của họ phản ánh xu hướng vận động tất yếu của xã hội loài người, đại biểu cho lợi ích quảng đại quần chúng, có khả năng lãnh đạo, tập hợp nhân dân đấu tranh xóa bỏ chế độ cũ lỗi thời lạc hậu, xây dựng chế độ mới tiến bộ hơn. Lịch sử đã ghi nhận những giai cấp trung tâm là giai cấp quý tộc phong kiến trong xã hội phong kiến, trong thời đại tư bản chủ nghĩa “giai cấp tư sản là giai cấp chủ yếu, ... và là giai cấp duy nhất có một sức mạnh áp đảo đấu tranh chống lại những thiết chế phong kiến và chuyên chế”[6].

Giai cấp vô sản là con đẻ của nền công nghiệp hiện đại, mang đầy đủ những phẩm chất tiên tiến, cách mạng, đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, phương thức sản xuất hiện đại, từng bước bước lên vũ đài chính trị và trở thành giai cấp trung tâm có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, mở ra một thời đại mới của xã hội loài người - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 23, “Lời tựa viết cho lần xuất bản thứ nhất” cho bộ Tư bản” (1867), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.21.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 23, “Lời tựa viết cho lần xuất bản thứ nhất” cho bộ Tư bản” (1867), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.11.

[3] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 23, “Lời tựa viết cho lần xuất bản thứ nhất” cho bộ Tư bản” (1867), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.523.

[4] V.I.Lênin toàn tập, Tập 26,“Dưới ngọn cờ của người khác” (1915), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.174.

[5] V.I.Lênin toàn tập, Tập 26, “Dưới ngọn cờ của người khác” (1915), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.174.

[6] V.I.Lênin toàn tập, Tập 26, “Dưới ngọn cờ của người khác” (1915), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.177.

Thời đại ngày nay


Khái niệm thời đại, có thể hiểu theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, thời đại là khái niệm về thời gian để chỉ sự phân kỳ lịch sử xã hội và phân biệt những nấc thang phát triển xã hội cao hơn, tiến bộ hơn để mở đường cho sự phát triển một thời đại mới. Theo nghĩa hẹp, thời đại là khái niệm về thời gian để chỉ xu thế và nội dung phát triển riêng.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: Thời đại là một thời kỳ lịch sử lâu dài, được đánh dấu bằng sự thay đổi về chất trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó trọng tâm là sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác tiến bộ hơn và được đặc trưng bằng một phương thức sản xuất mới.

C.Mác đã chỉ rõ: “Các thời đại khác nhau, không phải ở chỗ người ta làm ra cái gì mà ở chỗ người ta làm bằng cái gì. Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa phong kiến, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp”[1]. Còn V.I.Lênin dựa trên lý luận hình thái kinh tế - xã hội đã viết: “…trong mỗi thời đại đều có và sẽ còn có những phong trào cá biệt, cục bộ, khi tiến, khi lùi; đều có và sẽ còn có những thiên hướng khác nhau đi chệch ra khỏi phong trào chung và nhịp độ chung của phong trào”[2].



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 4, “Sự khốn cùng của triết học” (1847), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.187.

[2] V.I.Lênin toàn tập, Tập 26, “Dưới ngọn cờ của người khác” (1915), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.174. 

Trách nhiệm của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay đối với giai cấp công nhân

 


Trong điều kiện hiện nay, để phát huy vai trò của quân đội trong thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, cần quán triệt và thực hiện đồng bộ những nội dung biện pháp chủ yếu sau:

Tăng cường giáo dục, rèn luyện cho cán bộ, chiến sĩ nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, mục tiêu chiến đấu của quân đội, thường xuyên giữ vững lập trường chính trị của giai cấp công nhân trong mọi điều kiện hoàn cảnh.

Thường xuyên xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Đảng bộ quân đội là bộ phận quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiền phong của giai cấp công nhân, vì thế, phải thường xuyên chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức đảng từ Quân ủy Trung ương đến chi bộ vững mạnh về tư tưởng, chính trị, tổ chức và đạo đức, đảm bảo cho quân đội thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ trong điều kiện mới.

Chỉ đạo, tổ chức cho các đơn vị trong toàn quân tích cực tham gia xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức vững chắc, do Đảng lãnh đạo.

Tổ chức xây dựng đội ngũ công nhân quốc phòng ngày càng vững mạnh toàn diện, tham gia tích cực vào tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức, trở thành một đội ngũ công nhân kiên định, năng động, sáng tạo, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng quân đội và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, phòng chống “diễn biến hòa bình”, bảo vệ hệ tư tưởng giai cấp công nhân của Đảng, chế độ và toàn xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chính ủy cấp trung (lữ) đoàn phải nâng cao vai trò trách nhiệm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình; giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất, xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh; đơn vị vững mạnh toàn diện, tạo cơ sở tiền đề cho đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Khắc phục những biểu hiện độc đoán, chuyên quyền, cục bộ, gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng đến bản chất, truyền thống và sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

 


Trong lịch sử loài người, công nghiệp là một ngành kinh tế ra đời muộn và gắn liền với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Về bản chất, công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, một lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được chế tạo, chế biến, chế tác, chế phẩm cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp theo của con người.

Công nghiệp ra đời và phát triển gắn liền với quá trình phát minh và ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất. Khoa học chính là yếu tố biến sản xuất thủ công thành sản xuất công nghiệp, đồng thời không ngừng thúc đẩy sản xuất công nghiệp phát triển lên những trình độ mới cao hơn. Ngược lại, chính hoạt động sản xuất công nghiệp trở thành môi trường để khoa học không ngừng phát triển.

Tri thức khoa học kết hợp với sản xuất công nghiệp tạo ra kỹ thuật, công nghệ. Thành tựu của lĩnh vực này là cơ sở, điều kiện, nội dung của những phát triển đột phá ở lĩnh vực kia. Do đó, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng khoa học - công nghệ, cách mạng công nghiệp là những khái niệm có mối liên hệ mật thiết với nhau, giao thoa nhau.

Giai cấp công nhân Việt Nam có mối quan hệ gắn bó với nông dân, sớm hình thành khối liên minh công - nông - trí thức một cách tự nhiên, bền vững

 


Giai cấp công nhân có mối quan hệ gắn bó với nông dân, vì phần lớn giai cấp công nhân Việt Nam xuất thân từ nông dân thông qua hai con đường chủ yếu. Con đường thứ nhất: Khi thực dân Pháp vào xâm lược nước ta, trong điều kiện là nước có nền nông nghiệp lạc hậu. Để tăng cường bóc lột, thực dân Pháp đã đề ra nhiều thứ thuế vô lý đánh vào người nông dân Việt Nam, đẩy họ vào tình cảnh bị bần cùng hóa, buộc họ phải bỏ làng quê vào các nhà máy, đồn điền làm thuê cho thực dân Pháp để kiếm sống. Con đường thứ hai: Thực dân Pháp và sau này là phát xít Nhật thực hiện cướp ruộng đất của nông dân để trồng cây công nghiệp như: Đay, cao su, cà phê... làm cho người nông dân bị mất ruộng đất, buộc phải vào nhà máy, hầm mỏ bán sức lao động cho các nhà tư bản Pháp, Nhật. Đây là một thủ đoạn mà giai cấp tư sản đã thực hiện ở các nước châu Âu khi chúng mới ra đời. Nhưng ở Việt Nam chúng thực hiện dã man, trắng trợn hơn nhiều và đây là nguyên nhân tực tiếp dẫn đến nạn đói khủng khiếp năm 1945, làm hàng triệu người chết đói.

Giai cấp công nhân Việt Nam sớm hình thành khối liên minh với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Bởi vì: Một mặt, họ có cùng nguồn gốc xất thân; mặt khác, họ có chung lợi ích cơ bản gắn với lợi ích dân tộc (đều cùng cảnh nước mất, nhà tan); cùng có mâu thuẫn lợi ích đối kháng với thực dân, phong kiến. theo đó, công nhân, nông dân, trí thức trở thành những những người đồng minh gắn kết một cách tự nhiên, bền vững, lâu dài. Tuy nhiên, do ra đời chủ yếu từ nông dân nên giai cấp công nhân Việt Nam cũng bị ảnh hưởng bởi tư tưởng nông dân - tư tưởng của người sản xuất nhỏ. Đó là tư tưởng tư hữu, dễ thỏa mãn dừng lại, tác phong lao động chậm chạp, tính kỷ luật hạn chế, sự liên kết thiếu bền vững ở một bộ phận công nhân.

Giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩm quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp

 


 Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam; sau gần 30 năm (1897), mới đặt xong ách cai trị và bước vào cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914). Những ngành như khai thác đầu tiên như: Mỏ than ở Quảng Ninh, sắt ở Thái Nguyên, cờ rôm ở Thanh Hóa... và trồng trọt cây công nghiệp như cao su ở Phú Riềng, cà phê ở Tây Nguyên và một số ngành công nghiệp mang tính chất dịch vụ khác. Vào những năm này hàng loạt các xí nghiệp, đồn điền do người Pháp làm chủ ra đời thu hút hàng ngàn công nhân người Việt Nam vào làm việc trong các xí nghiệp đó. Đây là những bộ phận công nhân đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam.

Tuy nhiên vào những năm cuối của thế kỷ XIX công nhân Việt Nam số lượng còn khiêm tốn, đời sống còn khó khăn, họ sống không tập trung, có khi phân tán trong các làng mạc, ý thức về giai cấp chưa rõ nét, vì thế ở giai đoạn này mặc dù đã có những lớp công nhân ra đời nhưng chưa hình thành với tư cách là một giai cấp độc lập.

Từ năm 1918, thực dân Pháp bước vào khai thác thuộc địa lần thứ hai. Khi đó, giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng tăng lên cả về số lượng và chất lượng; trong đó, ý thức giai cấp từng bước được hình thành. Trong giai đoạn này giai cấp công nhân đã trưởng thành với tư cách là một giai cấp độc lập. Đặc biệt, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3 tháng 2 năm 1930, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đã khẳng định là giai cấp đứng lên vũ đài chính trị, lãnh đạo dân tộc Việt Nam làm cuộc cách mạng giải phóng mình và giải phóng dân tộc, kiên cường đấu tranh cho mục tiêu: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Do yêu cầu khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, cần một số ngành dịch vụ nhỏ như sửa chữa tàu biển, xe lửa, máy móc, cung ứng lương thực, thực phẩm..., đã xuất hiện các nhà tư bản người Việt Nam. Ra đời trong tình cảnh như vậy, lại bị giai cấp tư sản Pháp chèn ép, khống chế, nên giai cấp tư sản Việt Nam nhỏ bé cả về số lượng, vai trò của họ cũng bị mờ nhạt trong xã hội Việt Nam. Do đó, giai cấp công nhân Việt Nam khác so với giai cấp công nhân thế giới là ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc.

Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng xã hội to lớn

 


Quan niệm về giai cấp công nhân như vậy phù hợp với những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, những chỉ dẫn quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giai cấp công nhân; phù hợp với đặc điểm của thời đại và đội ngũ công nhân nước ta trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, gắn với phát triển kinh tế tri thức.

Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng xã hội to lớn đang trong quá trình phát triển, cùng với tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Họ là những người lao động chân tay và trí óc trong các loại hình sản xuất, kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, tạo ra những sản phẩm ngành công nghiệp, tiện ích công nghiệp, phương tiện công nghiệp. Đồng thời, có những đội ngũ công nhân lao động trong các loại hình doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp, để tạo ra những sản phẩm, phương tiện phục vụ cho các dây truyền sản xuất, kinh doanh và dịch vụ công nghiệp.

Lực lượng công nhân nước ta hiện nay đang có mặt đông đảo ở tất cả các thành phần kinh tế. Trước tác động của những điều kiện mới, giai cấp công nhân Việt Nam đang trong quá trình vận động, phát triển với những biến đổi sâu sắc về cơ cấu nội tại của nó trên tất cả các mặt: lứa tuổi, thế hệ, giới tính, thành phần xuất thân đến trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề, bậc thợ, việc làm và những lợi ích được hưởng… Đồng thời, giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay có sự biến đổi sâu sắc về tâm lý, ý thức tư tưởng, thái độ chính trị và sự tham gia của công nhân vào đời sống chính trị - xã hội đất nước.

Giai cấp công nhân Việt Nam ngày nay

 


Ở nước ta đã có nhiều quan niệm khác nhau về công nhân và giai cấp công nhân. Tuy khác nhau về cách diễn đạt, song đều thể hiện những thuộc tính đặc trưng của nó: Công nhân Việt Nam là những người lao động chân tay và trí óc làm công, hưởng lương trong các lĩnh vực công nghiệp hoặc sản xuất bằng phương thức công nghiệp ở các trình độ kỹ thuật khác nhau. Công nhân là những người trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội và tham gia cải tạo các quan hệ xã hội. Trong chế độ thực dân, phong kiến, công nhân Việt Nam là những lao động làm thuê cho tư bản nước ngoài. Khi đất nước giành được độc lập, thống nhất toàn vẹn, họ là lực lượng đi đầu trong cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, tiến hành công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa; là lực lượng tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Từ phương pháp tiếp cận về khái niệm giai cấp công nhân theo quan điểm học thuyết Mác, dựa trên những kết quả nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về giai cấp công nhân Việt Nam trong tiến trình cách mạng, Nghị quyết Trung ương 6 khóa X của Đảng ta đã nêu khái niệm mới về giai cấp công nhân: Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương, khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.43.

Giai cấp công nhân- lực lượng tiên phong của xã hội

 


Khi nghiên cứu về giai cấp công nhân, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ giai cấp công nhân như: Giai cấp vô sản, giai cấp lao động làm thuê, giai cấp công nhân. Các ông cũng dùng những thuật ngữ có nội dung hẹp hơn để chỉ các loại công nhân trong các ngành khác nhau: công nhân nông nghiệp, công nhân công nghiệp, công nhân khai khóang… Tuy giai cấp công nhân có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng theo C.Mác và Ph.Ăngghen có hai tiêu chí cơ bản để phân biệt người công nhân với những người lao động khác.

Một là, về phương thức lao động: Công nhân là những lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao. Trong đó, lực lượng công nhân hiện đại gắn với nền đại công nghiệp là bộ phận cơ bản và là hạt nhân của giai cấp công nhân. C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định: “Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp; còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”[1]; “Công nhân cũng là một phát minh của thời đại mới, giống như máy móc vậy…Công nhân Anh là đứa con đầu lòng của nền công nghiệp hiện đại”[2].

Hai là, về vị trí trong quan hệ sản xuất. Dưới chủ nghĩa tư bản, công nhân là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư. C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Giai cấp tư sản, tức tư bản, mà lớn lên thì giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại - tức là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm được việc làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu lao động của họ làm tăng thêm tư bản - cũng phát triển theo. Những công nhân ấy, buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hóa, tức là một món hàng đem bán như bất cứ một món hàng nào khác, vì thế, họ phải chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường”[3]. Tiêu chí này phản ánh đặc trưng cơ bản của người công nhân dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, khiến cho những người công nhân trở thành giai cấp đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản.

Dưới chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân trở thành giai cấp cầm quyền và lãnh đạo công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, cùng toàn thể nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu. Tuy nhiên, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vẫn còn một bộ phận công nhân làm thuê trong các doanh nghiệp tư bản tư nhân, họ vẫn bị bóc lột nhưng địa vị xã hội của họ đã hoàn toàn khác người công nhân làm thuê dưới chế độ tư bản chủ nghĩa.

Từ hai tiêu chí trên đi đến khái niệm: Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa ngày càng cao; là lực lượng sản xuất cơ bản tiên tiến, trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các mối quan hệ xã hội; là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.


[1] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.610.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.11.

[3] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.605.

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2024

NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

  

Chúng tá đều biết tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng. Tuy nhiên, thời gian qua, các thế lực thù địch đã ra sức chống phá, xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những âm mưu thâm độc, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, rất khó nhận biết. Vì vậy, việc nhận diện âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực thù địch có ý nghĩa vai trò quan trọng hiện nay, làm cơ sở để xác định các nội dung, biện pháp đấu tranh có chất lượng, hiệu quả.