Thứ Hai, 3 tháng 2, 2025

Nhận thức về các động lực cách mạng

 


 Lý luận về liên minh giai cấp công nhân với các giai cấp, tầng lớp lao động trong xã hội cũng có nhiều nội dung mới được bổ sung. Từ thực tiễn sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, các đảng cộng sản cầm quyền xác định rõ nền tảng xã hội của chế độ xã hội mới là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Đây là một sự bổ sung chính xác và cần thiết. Trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ, vai trò của trí thức càng quan trọng hơn. Do vậy, việc mở rộng khái niệm liên minh giai cấp công nhân với các giai cấp, tầng lớp lao động, trong đó liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức là nền tảng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Cùng với nhấn mạnh vai trò của trí thức; trong bối cảnh mới, việc mở rộng liên minh giữa giai cấp công nhân với các giai cấp, tầng lớp xã hội khác như với đội ngũ doanh nhân và các lực lượng lao động khác cũng được bổ sung, phát triển là nền tảng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Về kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, củng cố đoàn kết quốc tế; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giai cấp - dân tộc - quốc tế trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa giai đoạn hiện nay cũng có nhiều nội dung phát triển mới. Theo đó, nhận thức mới về vấn đề giai cấp và dân tộc trong điều kiện hiện nay trước hết cần phải hiểu đầy đủ, đúng đắn di sản chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và giai cấp; vấn đề dân tộc và quốc tế; cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng thuộc địa; chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản vô tư trong sáng. Việc xem xét, đánh giá các luận điểm đó phải đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể và đặt trong chỉnh thể, trong mối tương quan mật thiết với các luận điểm, các nguyên lý khác của chủ nghĩa Mác - Lênin, từ đó, khẳng định những giá trị bền vững, phổ biến; chỉ ra những vấn đề cần bổ sung, phát triển; những luận điểm đã bị lịch sử vượt qua, những luận điểm bị hiểu sai, bị kẻ thù xuyên tạc. Chỉ trên cơ sở đó, chúng ta mới có thể vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và xu thế vận động khách quan của thời đại.

Thông qua trao đổi, hợp tác, dưới nhiều hình thức khác nhau giữa các đảng cộng sản và công nhân, giữa các đảng cộng sản với các chính đảng trên thế giới, đều nhất trí củng cố tăng cường hợp tác, đoàn kết quốc tế giữa các đảng, các nước trên thế giới để xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Tại Hội nghị Thượng đỉnh giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc và các chính đảng thế giới (2021) đã ra “Sáng kiến chung”, bày tỏ nguyện vọng chung của các chính đảng tham dự Hội nghị về giữ gìn hòa bình và phát triển của thế giới, tăng cường phúc lợi cho nhân dân. Cuộc gặp quốc tế các đảng cộng sản và công nhân (IMCWP) lần thứ 22 (2022) tại Cuba, đã trao đổi, đánh giá về tình hình quốc tế và khu vực, những thách thức hiện nay đối với hòa bình, ổn định và phát triển của thế giới, môi trường và quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động; khẳng định quyết tâm tăng cường sự thống nhất, phát huy tinh thần đoàn kết và vai trò của lực lượng cộng sản, công nhân quốc tế trong bảo vệ các giá trị của chủ nghĩa xã hội, kiến tạo trật tự thế giới tiến bộ dựa trên hòa bình, phát triển bền vững, công bằng và bình đẳng, trong bối cảnh những diễn biến phức tạp, nhanh và tác động sâu rộng trên thế giới hiện nay.

Trong bối cảnh hiện nay, các đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa có những cách tiếp cận mới, sâu sắc và giải quyết hài hòa, thỏa đáng mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa lợi ích quốc gia, dân tộc và lợi ích của giai cấp công nhân; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa trách nhiệm dân tộc và nghĩa vụ quốc tế; giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản vô tư trong sáng. Những nhận thức trên không phải là vấn đề mới, nhưng có sự biển đổi để phù hợp với thực tiễn, luôn có tính thời sự cấp thiết đối với các nước xã hội chủ nghĩa cũng như phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Từ thực tiễn hoạt động đối ngoại giữa các đảng cộng sản, công nhân trên thế giới, các đảng đã thống nhất xác định 05 nguyên tắc trong quan hệ đối ngoại đảng đó là: một là, độc lập tự chủ; hai là, bình đẳng; ba là, tôn trọng lẫn nhau; bốn là, không can thiệp công việc nội bộ của nhau; năm là, đoàn kết và hữu nghị với nhau. Tuy nhiên, sự phối hợp giữa các đảng cộng sản, công nhân còn đứng trước không ít thách thức lớn. Đó là: thứ nhất, những khác biệt về quan điểm chiến lược và nhiều vấn đề mang tính nguyên tắc, trong đó có quan điểm về mục tiêu, phương thức đấu tranh, tập hợp lực lượng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cũng như một số vấn đề quốc tế khác trong nội bộ và giữa các đảng; thứ hai, tại không ít nước, nội bộ phong trào cộng sản bị phân hóa, phân liệt sâu sắc, không thể thống nhất về tư tưởng và hành động. Hiện tượng đa đảng cộng sản, công nhân làm suy yếu phong trào cộng sản tại một số nước và tác động không thuận đối với phong trào cộng sản, công nhân quốc tế[1]



[1] https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ho-so-su-kien-nhan-chung/su-kien-va-nhan-chung/cac-dang-cong-san-cong-nhan-tren-the-gioi-quan-he-quoc-te-va-vai-tro-vi-tri-trong-doi-song-chinh-tri-xa-3387

Thời đại ngày nay và giai đoạn hiện nay của thời đại

 


 Các đảng cộng sản đều thống nhất khẳng định, nội dung, tính chất của thời đại hiện nay không thay đổi, tuy nhiên xu thế, đặc điểm, nội dung mâu thuẫn trong giai đoạn hiện nay của thời đại có những nhận thức mới. Thời đại ngày nay, vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Về các mâu thuẫn cơ bản trong giai đoạn hiện nay của thời đại có nhiều điểm mới, khác với các giai đoạn trước đây.

Qua các hình thức trao đổi, hội thảo, diễn đàn, các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới khái quát những điểm điểm cơ bản trong giai đoạn hiện Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII (2021) của Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định: “Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo… cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế”[1]. Trong khi đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhận định: “Hiện tại, cục diện biến đổi chưa từng có trong 100 năm và một thế kỷ dịch bệnh đan xen chồng chéo, thế giới bước vào thời kỳ biến động, tính bất ổn, tính không xác định tăng lên”[2]. Về đặc điểm mới của thế kỷ XXI, Đảng Cộng sản Nhật Bản nhấn mạnh ba đặc điểm là nhân loại nỗ lực tiến tới một thế giới không có vũ khí hạt nhân, sự phát triển hợp tác khu vực cho nền hòa bình thế giới và xu hướng phát triển hướng đến bảo đảm quyền con người trên thế giới, trong đó có bình đẳng về giới đang trở thành trào lưu lớn[3]

“Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc về tiếp tục đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc” (2022), đánh giá: “tình hình thế giới đang trải qua những biến đổi mang tính lịch sử, sâu sắc, khó lường, bước vào thời kỳ biến động mới”[4]. Bối cảnh mới hiện nay, đòi hỏi các đảng cộng sản cùng với cộng đồng quốc tế cần cùng nhau nỗ lực, dốc sức vì hòa bình, hợp tác và phát triển, tiếp thêm tính ổn định và năng lượng tích cực cho thế giới; trong điều kiện mở cửa, hội nhập với thế giới, các nước xã hội chủ nghĩa phải luôn kiên định bảo vệ nền tảng tư tưởng và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, hợp tác cùng phát triển nhưng luôn cảnh giác và sẵn sàng đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc và mục tiêu lý tưởng của mình.

Một điểm mới trong nhận thức của các đảng cộng sản hiện nay là về mâu thuẫn, bất công trên thế giới. Các cuộc khủng hoảng nhiều mặt, cả về y tế, xã hội lẫn chính trị, kinh tế đang diễn ra dưới tác động của đại dịch Covid-19 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa. Sự thật cho thấy, bản thân thị trường tự do của chủ nghĩa tư bản không thể giúp giải quyết được những khó khăn và trong nhiều trường hợp còn gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho các nước nghèo; làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa lao động và tư bản toàn cầu. Sự thật đó cũng làm phá sản những lý thuyết kinh tế hay mô hình phát triển vốn xưa nay được coi là thời thượng, được không ít các chính sách tư sản ca ngợi, được các chuyên gia của họ coi là tối ưu, hợp lý[5]. Tại Cuộc trao đổi lý luận lần thứ 10 với Đảng Cộng sản Việt Nam (2022), Đảng Cộng sản Nhật Bản cho rằng: thế giới đang có “sự chuyển đổi cơ cấu” do sự sụp đổ thể chế thực dân và thắng lợi của hơn 100 dân tộc, quốc gia giành được độc lập, chủ quyền là sự biến đổi lớn nhất trong thế kỷ XXI; thời đại một số ít cường quốc chi phối nền chính trị quốc tế đã kết thúc; thời đại các nước lớn, nhỏ bình đẳng và làm chủ nền chính trị quốc tế đã bắt đầu với một đặc trưng mới là phong trào nhân dân tham gia và đóng vai trò quan trọng trong nền chính trị quốc tế[6].

Trong giai đoạn hiện nay, các đảng cộng sản có nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội, xu thế phát triển trong giai đoạn hiện nay của thời đại. Đối với chủ nghĩa xã hội, dù đang lâm vào khủng hoảng, nhưng với tư cách là học thuyết khoa học, cách mạng; một chế độ xã hội tốt đẹp; một phong trào hiện thực vẫn tồn tại, đạt được nhiều thành tựu to lớn. Thực tiễn đã khẳng định, không thể vì chủ nghĩa tư bản có những phát triển mà vội vã phủ nhận tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin; cũng không phải vì chủ nghĩa xã hội đang lâm vào khủng hoảng tạm thời mà hòai nghi vào sự thắng lợi của giai cấp công nhân. Sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô không phải là sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội và cũng không phải là thắng lợi của chủ nghĩa tư bản, mà là sự thất bại của mô hình chủ nghĩa xã hội xơ cứng, xa rời các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học. Chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội tốt đẹp, nhưng để thay thế được chủ nghĩa tư bản lại cần một quá trình lịch sử lâu dài, phức tạp với những bước đi quanh co, có cả thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức.

Các đảng cộng sản, công nhân trên thế giới có những nghiên cứu mới về các phương án thay thế mô hình tự do tư bản chủ nghĩa. Nội dung trên, đã và đang trở thành khẩu hiệu đấu tranh của các lực lượng chính trị, xã hội rộng lớn trên thế giới từ cuối thế kỷ XX đến nay. Trong những năm qua, mặc dù còn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, nhưng phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã có bước phục hồi, trụ vững, phát triển năng động không thể phủ nhận. Nhiều lực lượng cộng sản vẫn kiên định con đường đấu tranh giai cấp, đấu tranh chính trị - xã hội, kiên định tập hợp quần chúng xây dựng một chế độ thay thế mô hình tự do mới của chủ nghĩa tư bản, góp phần tìm câu trả lời cho mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 105

[2] Bài phát biểu trực tuyến của Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao năm 2021, http://www.xinhuanet.com/politics/leaders/2021-04/20/c_1127350811.htm, ngày 20-4-2021

[3] https://dangcongsan.vn/doi-ngoai/trao-doi-ly-luan-lan-thu-10-giua-dang-ta-voi-dang-cong-san-nhat-ban-622179.html

[4] https://baochinhphu.vn/toan-van-tuyen-bo-chung-viet-nam-trung-quoc-102221101184708373.htm.

[5] Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.18-20.

[6] https://dangcongsan.vn/doi-ngoai/trao-doi-ly-luan-lan-thu-10-giua-dang-ta-voi-dang-cong-san-nhat-ban-622179.html

Nhận thức về hệ thống chính trị, dân chủ xã hội chủ nghĩa

 

 Trên cơ sở quán triệt và nắm vững tư tưởng về chuyên chính vô sản và dân chủ vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin; từ thực tiễn cách mạng của các nước, các đảng cộng sản đã bổ sung và phát triển, mở rộng nhiều nội dung mới của vấn đề này. Từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay, các đảng cộng sản không dùng thuật ngữ “chuyên chính vô sản”. Thuật ngữ “hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa”, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa được hình thành và ngày càng hoàn thiện, thay thế cho thuật ngữ “hệ thống chuyên chính vô sản”. Việc thay đổi cách sử dụng thuật ngữ trên, không có nghĩa là các đảng cộng sản phủ nhận nguyên tắc chuyên chính vô sản, từ bỏ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về chuyên chính vô sản. Thực chất, đây là sự bổ sung, phát triển nhận thức mới của các đảng cộng sản về hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở từng nước. Xét về bản chất, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp công nhân thông qua đảng cộng sản, bảo đảm quyền lực xã hội thuộc về nhân dân lao động.

Nhận thức về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng có nhiều phát triển. Theo đó, dân chủ được xác định là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, trong đó nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, là người làm chủ đất nước; tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Đó là, chế độ dân chủ thực sự của nhân dân, gắn liền với công bằng xã hội, xóa bỏ áp bức bóc lột, bất công. Dân chủ được thực hiện bằng nhiều hình thức trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và được pháp luật bảo đảm. Dân chủ bao giờ cũng gắn với pháp chế, kỷ luật, kỷ cương, phù hợp với trình độ phát triển của đất nước và truyền thống lịch sử của dân tộc. Để phát huy, mở rộng dân chủ, xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa vững mạnh, cần phải đấu tranh chống lại đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập phá hoại chủ nghĩa xã hội ngày từ bên trong, từ sớm. Những nhận thức trên có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, trực tiếp chỉ đạo quá trình xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh mới hiện nay.

Trong giai đoạn này, lý luận về vai trò lãnh đạo của các đảng cộng sản; xây dựng đảng cộng sản gắn với xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có nhiều phát triển mới trên nhiều vấn đề về nội dung, phương thức, mô hình cầm quyền của đảng cộng sản; về đặc điểm, điều kiện để một đảng cầm quyền một cách hiệu quả, bền vững; về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; về xây dựng đảng vững mạnh về mọi mặt, phòng, chống tham nhũng, lãng phí… Qua trao đổi, hợp tác lý luận về công tác xây dựng đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc đều đặc biệt coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng, kiên định những nguyên tắc xây dựng đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, nêu cao tinh thần phê bình và tự phê bình, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong đảng, hoạt động theo pháp luật, liên hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng đảng.

95 năm ngày thành lập và những dấu ấn

Dấu ấn nổi bật đầu tiên trong lịch sử 95 năm qua, đó chính là sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930. 

Cuối thế kỷ 19, Việt Nam bị thực dân Pháp xâm chiếm và thiết lập chế độ cai trị, bóc lột. Các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của cha ông ta cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, đều thất bại. Trước tình trạng đó, năm 1911, Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) khi ấy với cái tên Nguyễn Tất Thành đã lên đường ra đi tìm đường cứu nước. Sau nhiều năm bôn ba ở nước ngoài, năm 1920, Người đã tìm thấy con đường cứu nước khi tiếp xúc với chủ nghĩa Mác-Lênin. 

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã nhận ra rằng cách mạng muốn thành công: Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Từ đó, Người đã truyền bá lý luận cách mạng về trong nước và bắt tay vào chuẩn bị các điều kiện cho sự ra đời của một đảng cách mạng ở Việt Nam. 

Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập ngày 3/2/1930 với Cương lĩnh cách mạng đúng đắn là mốc son đánh dấu sự trưởng thành của phong trào cách mạng Việt Nam, là bước ngoặt của lịch sử cách mạng Việt Nam. Đó là thành quả tất yếu của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. 

Về sau, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 3 của Đảng (9/1960) quyết định lấy ngày 3/2 hằng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời của Đảng đầu năm 1930 với Cương lĩnh cách mạng đúng đắn đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cách mạng. Kể từ đó, cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã không ngừng phát triển, lớn mạnh và giành được nhiều thắng lợi vĩ đại. Như vậy, sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930 là sự kiện lớn đặc biệt đầu tiên trong hành trình 95 năm tuổi của Đảng. 

Dấu ấn thứ hai trong lịch sử 95 của Đảng, đó chính là sự kiện Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đưa đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Kể từ sau khi được thành lập đầu năm 1930, với đường lối cách mạng đúng đắn, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 khi Đảng vừa tròn 15 tuổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc. 

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đập tan xiềng xích nô lệ của chủ nghĩa đế quốc trong gần một thế kỷ, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế hàng nghìn năm, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước của nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Với thắng lợi này, nhân dân Việt Nam đã từ thân phận nô lệ bước lên địa vị người chủ của đất nước, có quyền quyết định vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa trở thành một quốc gia độc lập có chủ quyền, vươn lên cùng các dân tộc trên thế giới đấu tranh cho những mục tiêu cao cả của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã mở ra kỷ nguyên mới trong tiến trình lịch sử quốc gia dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do và hướng tới chủ nghĩa xã hội. 

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn, sáng tạo của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh. Thắng lợi này đã chứng minh rằng: Một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản lãnh đạo hoàn toàn có thể giành thắng lợi ở một nước thuộc địa trước khi giai cấp công nhân ở “chính quốc” lên nắm chính quyền. Như vậy, thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam có ý nghĩa và tầm vóc quốc tế. Thắng lợi đó có được là do đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng, và đây là sự kiện quan trọng thứ hai trong lịch sử 95 tuổi của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Dấu ấn thứ ba đó chính là Đảng đã lãnh đạo quốc gia dân tộc làm nên thắng lợi to lớn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, song chỉ sau đó ít lâu, ngày 23/9/1945, thực dân Pháp đã quay trở lại xâm lược nước ta thêm một lần nữa. Với vai trò là một đảng lãnh đạo và cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối kháng chiến đúng đắn, mà cốt lõi là đường lối chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, lâu dài và tự lực cánh sinh dựa vào sức mình là chính, lãnh đạo nhân dân ta tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp sau 9 năm. 

Thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, sau 56 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt. Máu trộn bùn non. Gan không núng. Chí không mòn!” đã đập tan ý chí xâm lược của thực dân Pháp. Tiếng sấm Điện Biên Phủ chấn động địa cầu đã buộc thực dân Pháp phải chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán và ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ ngày 21/7/1954, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa của họ ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng, thừa nhận quyền độc lập, tự do, thống nhất, có chủ quyền của Việt Nam, Lào và Campuchia, rút quân về nước. Đây là dấu ấn thứ ba trên hành trình 95 tuổi của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Dấu ấn thứ tư, đó là quá trình Đảng lãnh đạo nhân dân ta làm nên thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tạo ra điều kiện để thống nhất nước nhà và cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội (1954-1975). Thắng lợi vĩ đại của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã kết thúc 21 năm nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chiến đấu chống lại đế quốc Mỹ xâm lược và chính quyền tay sai. Chiến thắng này cũng đã kết thúc 30 năm chiến tranh cách mạng, 117 năm chống đế quốc xâm lược, giành lại độc lập dân tộc, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc.

Thắng lợi này đã kết thúc cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước, mở ra kỷ nguyên mới cho quốc gia dân tộc: Kỷ nguyên cả nước hòa bình, thống nhất và cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, chiến thắng này đã làm tăng thêm sức mạnh vật chất, tinh thần và nâng cao uy tín của Đảng và dân tộc trên trường quốc tế, nâng cao khí phách, niềm tự hào dân tộc, làm thất bại âm mưu và thủ đoạn của chủ nghĩa thực dân mới, cổ vũ cho phong trào độc lập dân tộc, dân chủ và hòa bình thế giới.

Dấu ấn thứ năm là Đảng đã lãnh đạo quốc gia dân tộc thực hiện thắng lợi hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới của Tổ quốc, chống lại quân xâm lược Khơ-me Đỏ ở vùng biên giới Tây Nam (1978-1989) và chống lại quân xâm lược ở vùng biên giới phía Bắc (1979-1989). Đặc biệt là thắng lợi trong cuộc chiến chống lại lực lượng Khơ-me Đỏ còn có ý nghĩa quốc tế lớn lao là giúp cho nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ cai trị diệt chủng do Pol Pot (Pôn Pốt) lãnh đạo. 

Dấu ấn thứ sáu là, Đảng đã lãnh đạo thắng lợi công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xóa thế bị bao vây cấm vận và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Những năm 1970-1980 của thế kỷ trước, do chiến tranh kéo dài và những sai lầm, hạn chế của cơ chế cũ kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu và bao cấp, đất nước đã lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng. Cùng với đó là những mâu thuẫn nảy sinh trong quan hệ quốc tế đã làm cho đất nước rơi vào tình trạng bị bao vây, cấm vận. Để khắc phục những hậu quả đó, với quan điểm: Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6 năm 1986, Đảng đã đề ra đường lối đổi mới đất nước và lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thắng lợi, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, phá thế bị bao vây, cấm vận từng bước hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của công cuộc đổi mới đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quốc gia dân tộc, khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Dấu ấn thứ bảy của Đảng đó là, Đảng đã thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng Đảng, quyết tâm phòng chống tham nhũng, tiêu cực, làm trong sạch bộ máy để giữ gìn uy tín, đảm bảo và nâng cao năng lực, vị thế, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng, với quốc gia dân tộc. Xứng đáng là một đảng lãnh đạo và cầm quyền, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp và quốc gia dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Đảng đã xử lý kiên quyết, triệt để các vụ án tham nhũng, lãng phí trong hơn một thập niên vừa qua, kiên quyết loại ra khỏi Đảng những phần từ thoái hóa, biến chất. Điều này góp phần đảm bảo, củng cố, tăng cường, nâng cao uy tín, năng lực, vị thế, vai trò của Đảng đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Nâng tầm vị thế của Đảng trên trường quốc tế, tạo cơ hội mở ra một kỷ nguyên phát triển mới cho đất nước.

Những dấu ấn quan trọng trong chặng đường 95 năm ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta, dân tộc ta đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng, vĩ đại, đặc biệt là thắng lợi của công cuộc đổi mới. Với thắng lợi của công cuộc đổi mới, vị thế của quốc gia dân tộc trên trường quốc tế được khẳng định và nâng tầm. Với tất cả sự khiêm tôn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. 

Và năm 2025 này, khi vừa tròn 95 tuổi, Đảng đã và đang lãnh đạo quốc gia dân tộc bước vào một dấu ấn mới nữa, dấu ấn thứ tám, đó là chính là kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đây được coi là kỷ nguyên mới, mà Đại hội 14 tới đây sẽ là Đại hội đầu tiên của Đảng khởi đầu cho kỷ nguyên mới. Với tất cả những thắng lợi mà Đảng đã lãnh đạo quốc gia dân tộc giành được trong 95 năm, chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh, chúng ta sẽ tiếp tục giành được thắng lợi lớn hơn trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Nhận thức về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

 

Trong những năm qua, nhận thức về giai cấp công nhân có nhiều nội dung mới. Trước sự tác động của các nhân tố thời đại, giai cấp công nhân có nhiều biến đổi, do vậy, đã có nhiều quan niệm về giai cấp công nhân theo các góc độ khác nhau, như: “Giai cấp công nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở giai đoạn cải cách, đổi mới”; khái niệm “lưỡng tính” để phản ánh trình độ như “công nhân tri thức”, “công nhân - trí thức”, “trí thức - công nhân” hoặc ở Trung Quốc có khái niệm “nông dân - công” để chỉ tính chất đang chuyển biến giai tầng; tiếp cận theo lĩnh vực có công nhân làm việc trong lĩnh vực công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ; theo trình độ công nghệ. Những quan niệm mới đó, tạo điều kiện cho những nhận thức đầy đủ, toàn diện hơn về giai cấp công nhân hiện nay.

Lý luận “giai cấp công nhân là sản phẩm và chủ thể của đại công nghiệp” đã được bổ sung thêm nhiều nhận thức mới về đặc điểm mới của công nhân. Sự phát triển của công nhân những năm qua gắn liền với hội nhập kinh tế thế giới. Các tiêu chí - phẩm chất khác của công nhân, như gắn liền với máy móc công nghiệp, lao động mang tính xã hội hóa, có tính tổ chức, kỷ luật và triệt để cách mạng, có tinh thần quốc tế và bản sắc dân tộc đều có sự thay đổi, mở rộng hơn.

Các đảng cộng sản tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn về giai cấp công nhân, thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong bối cảnh mới, nhất là trong sự tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Lợi dụng tình hình này, các thế lực thù địch để tuyên truyền, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, cho rằng học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân của chủ nghĩa Mác - Lênin không còn đúng nữa. Tuy nhiên, cả lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay đều khẳng định, với tư cách là sản phẩm và là chủ thể của cách mạng công nghiệp, giai cấp công nhân hiện nay vẫn sẽ là lực lượng tiên phong trong sản xuất vật chất và là đại biểu cho xu thế tiến bộ, văn minh mà nhân loại hướng tới.

 

Nhận thức trong thực hiện chủ nghĩa quốc tế vô sản ngày càng phát triển

 


Đây là các nguyên tắc cụ thể trong quan hệ quốc tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa; thái độ của các đảng cộng sản, đảng công nhân đối với các phong trào giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, thể hiện ở: Nguyên tắc hành động thống nhất, nguyên tắc hợp tác toàn diện, nguyên tắc viện trợ không hoàn lại, nguyên tắc cùng nhau bảo vệ thành quả của chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa là sự thực hiện chủ nghĩa quốc tế vô sản trong điều kiện chủ nghĩa xã hội, nó vẫn giữ nguyên bản chất là đấu tranh cho những mục tiêu cuối cùng của phong trào công nhân quốc tế. Hơn nữa, giai cấp công nhân, nhân dân lao động các nước xã hội chủ nghĩa đã có được những khả năng thực tế để đóng góp quyết định của mình vào cuộc đấu tranh này. Nó hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa biệt lập, chỉ đóng khung trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, như quan điểm của các học giả tư sản xuyên tạc chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa.

Trong bối cảnh, điều kiện mới, các đảng cộng sản ở các nước đã có những nhận thức mới về vấn đề chiến tranh và hòa bình. Nội dung này thể hiện rõ trong các hội nghị các đảng cộng sản và công nhân quốc tế năm 1957, 1960, 1969. Các đảng cộng sản nhấn mạnh: Những người cộng sản luôn luôn là lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh bảo vệ hòa bình và chống chiến tranh, nhưng không phải họ chủ trương hòa bình bằng mọi giá và cũng không phải phản đối tất cả mọi cuộc chiến tranh, mà luôn luôn phân tích tình hình cụ thể. Hội nghị các đảng cộng sản và công nhân quốc tế (1957) cho rằng vấn đề nóng hổi của tình hình chính trị thế giới là vấn đề chiến tranh và hòa bình, rằng cùng tồn tại hòa bình là nguyên tắc căn bản của nền chính trị thế giới. Hội nghị khẳng định nhiệm vụ trước tiên của các đảng cộng sản là đấu tranh cho hòa bình. Đến Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân quốc tế (1960), xác định nhiệm vụ hàng đầu của các đảng cộng sản và công nhân là bảo vệ và củng cố hòa bình ngăn chặn bọn đế quốc hiếu chiến phát động chiến tranh thế giới mới, tăng cường đoàn kết phong trào cộng sản đấu tranh cho hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Những người cộng sản đặt vấn đề chiến tranh và hòa bình trong mối tương tác với sự phát triển của các lực lượng cách mạng và phong trào cách mạng trong từng nước cũng như trên phạm vi toàn thế giới. Phương hướng giải quyết của những người cộng sản là tìm mọi cách hạn chế dẫn đến loại bỏ chiến tranh ra khỏi đời sống xã hội, mà nguồn gốc sâu xa của nó là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, đem lại hòa bình, ổn định, tự do, hạnh phúc cho nhân loại tiến bộ. Hội nghị các đảng cộng sản và công nhân quốc tế (1969) đã phân tích tình hình thế giới, những đặc điểm nổi bật trong sự phát triển của chủ nghĩa đế quốc thế giới, chiến lược và sách lược của chúng, và nhận định trong hiện nay chủ nghĩa đế quốc vẫn là kẻ thù nguy hiểm của nhân dân thế giới. Các văn kiện tại Hội nghị này chỉ rõ hiện nay đã có những điều kiện thực tế để giải quyết những vấn đề quan trong nhất của thời đại vì lợi ích của hòa bình dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Trong giai đoạn này, hoạt động đấu tranh tư tưởng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng có nhiều nội dung mới. Nổi bật là thái độ của những người cộng sản đối với vấn đề chiến tranh: hoàn toàn phản đối chiến tranh phi nghĩa, ủng hộ chiến tranh chính nghĩa và kịch liệt lên án quan điểm của những kẻ tả khuynh, chủ trương thông qua chiến tranh để làm cách mạng. Đồng thời, cũng phê phán khuynh hướng của bọn cơ hội xét lại chấp nhận hòa bình bằng mọi giá, thoả hiệp với chủ nghĩa đế quốc vô nguyên tắc, lùi hết bước này đến bước khác làm tổn thất nghiêm trọng cho cách mạng. Hội nghị các đảng cộng sản và công nhân quốc tế năm 1969 đã ra “Lời kêu gọi nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Lênin”, trong đó nhấn mạnh sự trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng mọi thắng lợi của phong trào cộng sản; đề ra đường lối chung là: các đảng cộng sản thống nhất hành động với mọi lực lượng tiến công mạnh mẽ hơn chống chủ nghĩa đế quốc và các lực lượng phản động.

Ý nghĩa sự phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học của C.Mác và Ph.Ăngghen


Sự phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học giai đoạn này góp phần hoàn thiện chủ nghĩa Mác trên cả ba bộ phận hợp thành. Những nội dung được bảo vệ, bổ sung, phát triển trong giai đoạn này, trực tiếp đưa chủ nghĩa xã hội khoa học đạt một trình độ mới. Những nội dung này đã xác định một cách hệ thống, toàn diện, khoa học về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và con đường, biện pháp để thực hiện sứ mệnh lịch sử ấy.

Bằng hoạt động lý luận và thực tiễn không mệt mỏi, C.Mác và Ph.Ăngghen đã bổ sung, phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học cho phù hợp thực tiễn. Không phải ngay từ đầu, chủ nghĩa xã hội khoa học đã hình thành, hoàn thiện, mà ngược lại nó luôn bám sát thực tiễn lịch sử, thực tiễn phong trào công nhân để phát triển, hoàn thiện những nguyên lý, quy luật cách mạng vô sản. Đáp ứng yêu cầu của thực tiễn phong trào công nhân. Không những vậy, những nội dung này, từng bước xâm nhập vào trong phong trào công nhân, trở thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học của các đảng cộng sản, đảng công nhân và hàng triệu triệu công nhân cùng nhân dân lao động toàn thế giới. 

Quá trình bảo vệ, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học giai đoạn này đã được bổ sung, phát triển trên nhiều nội dung, góp phần khẳng định tính đúng đắn những nguyên lý cơ bản; đấu tranh chống tư tưởng cơ hội, giải đáp những vấn đề lý luận, thực tiễn mới nảy sinh; đáp ứng yêu cầu của lịch sử, tiến tới ngày càng hoàn thiện trở thành một hệ thống khoa học.

Quá trình bảo vệ, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học giai đoạn này, khẳng định công lao to lớn của C.Mác và Ph.Ăngghen trong bảo vệ, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học cũng như hoàn thiện chủ nghĩa Mác trên cả ba bộ phận hợp thành. Với học vấn uyên bác, trí tuệ thiên tài, luận chứng sâu sắc, lôgic, chặt chẽ, hai ông đã để lại mẫu mực cho sự phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học cho đời sau. Trong gần nửa thế kỷ, với hoạt động lý luận, thực tiễn đa dạng, C.Mác và Ph.Ăngghen không ngừng nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận. Những nội dung này từng bước được truyền bá trong phong trào công nhân, dần giữ vị trí chủ đạo của nó trong phong trào công nhân quốc tế.

Những nội dung chủ nghĩa xã hội khoa học được phát triển trong giai đoạn này là cơ sở để V.I.Lênin và các đảng cộng sản và công nhân kế thừa và phát triển trong những giai đoạn tiếp theo. Mặc dù, với những cống hiến tuyệt vời cả về lý luận và thực tiễn, song cả C.Mác và Ph.Ăngghen không bao giờ tự cho học thuyết của mình là một hệ thống giáo điều, “nhất thành bất biến”, trái lại, nhiều lần hai ông đã chỉ rõ đó chỉ là những “gợi ý” cho mọi suy nghĩ và hành động. Trong Lời nói đầu viết cho tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp” từ 1848 - 1850 của C.Mác, Ph.Ăngghen đã thẳng thắn thừa nhận sai lầm về dự báo khả năng nổ ra của những cuộc cách mạng vô sản ở châu Âu, vì lẽ lịch sử đã chỉ rõ rằng trạng thái phát triển kinh tế trên lục địa lúc bấy giờ còn rất lâu mới chín muồi để xóa bỏ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Đây cũng chính là “gợi ý” để V.I.Lênin và các nhà tư tưởng lý luận của giai cấp công nhân tiếp tục bổ sung và phát triển phù hợp với điều kiện lịch sử mới.

Sự phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học trong giai đoạn này cho tới nay vẫn là chân lý được thực tiễn kiểm nghiệm. Những sáng tạo và phát triển của người đi sau vẫn lấy lý luận của các ông đặt nền móng làm điểm xuất phát và cơ sở. Nhiều vấn đề còn nghi vấn, tranh luận xuất hiện xung quanh chủ nghĩa Mác cũng phải quay về tìm sự gợi ý từ chủ nghĩa Mác. Trên cơ sở những nội dung được trình bày trong giai đoạn này cũng những toàn bộ quá trình ra đời, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen là cơ sở, tiền đề trực tiếp cho V.I.Lênin và các đảng cộng sản và công nhân kế thừa, phát triển phù hợp với thực tiễn. Đánh giá về chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin chỉ rõ: “Học thuyết của Mác là học thuyết vạn năng vì nó là một học thuyết chính xác”[1].



[1] V.I. Lênin toàn tập, Tập 23, “Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác” (1913), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr. 50. 

Lý luận về cách mạng vô sản

 


Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của Công xã Pari và thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, C.Mác và Ph.Ăngghen phát triển nhiều nội dung về bạo lực cách mạng. Căn cứ vào sự phát triển của chế độ tư sản, kinh nghiệm cách mạng tư sản, cách mạng vô sản, C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định cách mạng bạo lực là nguyên tắc chung của cách mạng vô sản. Hai ông cho rằng, bạo lực cách mạng là tất yếu, xuất phát từ mục đích, tính chất của nhà nước của giai cấp tư sản là nhà nước dùng để duy trì sự bóc lột giai cấp những người lao động, nhà nước dùng bạo lực để trấn áp quần chúng và từ mục đích, tính chất của cuộc cách mạng vô sản, do vậy phải dùng bạo lực cách mạng để đập tan nhà nước của giai cấp bóc lột và thực tế không thể thay nhà nước tư bản bằng con đường tiêu vong được mà bằng quy luật chung, bằng một cuộc cách mạng bạo lực.

C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng phải giải tán quân đội thường trực của giai cấp tư sản, thực hiện vũ trang toàn dân chống lại kẻ thù. Lần đầu tiên tư tưởng này được đề cập như là một nguyên tắc xây dựng bạo lực của giai cấp công nhân, của nhà nước Công xã. Từ thực tiễn của Công xã mà C.Mác và Ph.Ăngghen cũng cho rằng cần thiết phải xây dựng một quân đội thường trực mạnh, kiên quyết tấn công kẻ thù, tiêu diệt chúng ở những sào huyệt cuối cùng. Điều đó, có nghĩa là phải sử dụng bạo lực một cách triệt để, không khoan nhượng với kẻ thù.

Xung quanh lý luận về cách mạng vô sản, Ph.Ăngghen chỉ rõ vấn đề quyền lãnh đạo là mấu chốt thành bại của cách mạng. Cách mạng muốn giành được thắng lợi và củng cố thắng lợi thi giai cấp vô sản phải tổ chức ra chính đảng nhuần nhuyễn về mặt lý luận lãnh đạo. Sau khi giành thắng lợi bước đầu thì dùng biện pháp cách mạng kiên quyết, rứt khóat là một khâu quan trọng; thiết lập một nhà nước vô sản hoàn toàn mới, bởi vì, giai cấp vô sản một khi nắm quyền thống trị thì không thể cứ tiếp tục quản lý bằng bộ máy nhà nước cũ được; nhưng chỉ có thế hệ trưởng thành trong những điều kiện tự do mới thì mới có thể hoàn toàn vứt bỏ được toàn bộ nhà nước. Điều đó có nghĩa là sự tiêu vong của nhà nước không thể thực hiện được một sớm, một chiều mà phải trải qua cả một thời đại lịch sử.

Ph.Ăngghen phát triển nhiều nội dung về giải quyết vấn đề nông dân trong cách mạng vô sản. Trong bối cảnh phong trào công nhân bị ảnh hưởng của tư tưởng cơ hội, có quan điểm sai lầm về vấn đề nông dân, do vậy trong giai đoạn này, Ph.Ăngghen đã viết nhiều thư phê bình lãnh đạo hai đảng công nhân Pháp và Đức về vấn đề này. Đặc biệt, tháng 11 năm 1894, Ph.Ăngghen viết tác phẩm “Vấn đề nông dân ở Pháp và ở Đức” để phê phán những sại lầm trong cương lĩnh ruộng đất của hai đảng công nhân ở Pháp và Đức, trình bày có hệ thống nguyên tắc cơ bản và lập trường của chủ nghĩa Mác về vấn đề nông dân, vạch ra cương lĩnh và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp.

Về sách lược đấu tranh của chính đảng vô sản của được đề cập trong giai đoạn này. Đây là vấn đề quan trọng của lý luận và thực tiễn xã hội chủ nghĩa. Trong tác phẩm “Lời nói đầu viết cho tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp từ năm 1848 - 1850” của C.Mác” (1894), Ph.Ăngghen xác định trong điều kiện mới để thực hiện mục tiêu giành chính quyền, giai cấp vô sản phải có sách lược linh hoạt, phù hợp. Ông chỉ ra, trong đấu tranh, dùng hình thức hợp pháp hay không hợp pháp do điều kiện lịch sử quyết định; căn cứ vào bài học cách mạng trong quá khứ, cách mạng chưa phát triển tới mức có thể giành thắng lợi bằng một đòn quyết định mà phải dần dần tiến lên từng bước; phải đoàn kết quần chúng rộng rãi.

Ngoài những nội dung cơ bản trên, trong những năm cuối đời qua các tác phẩm “Tình hình chính trị ở châu Âu” (1888); “Chính sách đối ngoại của chế độ Nga Hoàng” (1890); “Châu Âu có thể giải trừ quân bị hay không” (1893) Ph.Ăngghen đã dự báo khoa học về hậu quả chiến tranh thế giới tương lai; thái độ của đảng vô sản với nguy cơ chiến tranh mới; đánh giá ý nghĩa của nó đối với phong trào xã hội.

C.Mác và Ph.Ăngghen đã bổ sung, phát triển nhiều nội dung lý luận về đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ nghiên cứu cuộc khởi nghĩa của Ba Lan năm 1863, hai ông cho rằng vấn đề độc lập của Ba Lan là tiền đề, điều kiện của hòa bình, dân chủ và tiến bộ của châu Âu; đấu tranh giải phóng dân tộc ở đây phải là trung tâm của cách mạng vô sản ở châu Âu. Sau đó, nghiên cứu tiếp sự nghiệp đấu tranh giải phóng của Ai rơ len, ban đầu hai ông cho rằng chỉ khi có sự trợ giúp của cách mạng vô sản ở Anh thì cách mạng giải phóng của Airơlen mới thành công. Nhưng đến năm 1869, các ông là có quan điểm ngược lại về nội dung này. Đối với phong trào giải phóng dân tộc ở phương Đông. Trong tác phẩm “Cách mạng ở Trung Quốc và ở châu Âu” (1853), C.Mác đã trình bày và phân tích tính chất cơ bản của kết cấu kinh tế - xã hội Trung Quốc lúc đó và dự báo sự phát triển của cách mạng Trung Quốc. Cũng trong những năm 50 - 60 của thế kỷ XIX, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng giành thời gian nghiên cứu các cuộc khởi nghĩa ở Ấn Độ và dự báo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Ấn Độ trở thành “người đồng minh tốt nhất” của phong trào công nhân quốc tế.

Đứng trước yêu cầu của thực tiễn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dành nhiều tâm huyết để nghiên cứu các cuộc cách mạng, các cuộc chiến tranh, tiếp thu những thành quả nghiên cứu của những người đi trước, từ đó bổ sung, phát triển lý luận quân sự mác xít. Lý luận quân sự của C.Mác và Ph.Ăngghen giai đoạn này thể hiện trên những nội dung cơ bản: mối liên hệ giữa chiến tranh với chế độ nhà nước; giai cấp công nhân muốn thực hiện sứ mệnh lịch sử phải vũ trang cả mặt vật chất và tinh thần; vấn đề khởi nghĩa giành chính quyền; vai trò của nhân tố tinh thần trong cách mạng; nghệ thuật tác chiến; xây dựng quân đội; tổng kết bài học hoạt động quân sự của Công xã Pari; vấn đề phát sinh, phát triển, diệt vong của chiến tranh từ nguồn gốc của lịch sử loài người; ủng hộ chiến tranh cách mạng của các dân tộc bị áp bức... Những nội dung trên cung cấp cho giai cấp công nhân một vũ khí tư tưởng sắc bén để nhận thức và cải tạo thế giới; thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, xây dựng nền hòa bình bền vững trên toàn thế giới.

Trong giai đoạn những năm 50 đến những năm 90 của thế kỷ XIX, cùng với vai trò nổi bật của C.Mác và Ph.Ăngghen, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác, trong phong trào công nhân còn nhiều nhà cách mạng tiêu biểu, có những đóng góp to lớn trong việc truyền bá, phát triển chủ nghĩa Mác như: Vinhem Vônphơ, Ioxip Vâyđơmayơ; Rolang Danienxo; I.Đitxơghen; P.Laphácgơ; A.Bêben; G.V.Plêkhanốp.

Về hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa


Lý luận về hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa, nhất là về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được C.Mác và Ph.Ăngghen phát triển toàn diện và sâu sắc. Từ thực tiễn Công xã Pari, C.Mác đã bước đầu nhận thức được những nội dung đầu tiên về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ông cho rằng quá độ từ xã hội có giai cấp sang không giai cấp là quá trình lịch sử lâu dài, sự tồn tại của các giai cấp gắn với giai đoạn nhất định của sự phát triển sản xuất; cải tạo hệ thống xã hội là quá trình phức tạp, thực hiện từng bước; không thể thủ tiêu chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ. Đến năm 1875, trong tác phẩm “Phê phán Cương lĩnh Gôta”, C.Mác đã phát triển nhiều nội dung, trong đó có lý luận về các giai đoạn phát triển của xã hội cộng sản tương lai, làm cho chủ nghĩa Mác nhảy vọt về chất. C.Mác cho rằng chủ nghĩa cộng sản là kết quả tất yếu của sự phát triển lịch sử loài người. Những trình bày về hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa trong giai đoạn này là sự tổng kết những nghiên cứu của C.Mác từ những năm 40 của thế kỷ XIX trở đi.

Trong tác phẩm “Phê phán Cương lĩnh Gôta”, C.Mác trình bày lý luận về sự phân kỳ trong hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, đưa ra quan niệm, tính tất yếu, đặc điểm cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đến giai đoạn này, C.Mác và Ph.Ăngghen phân kỳ trong hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa có hai giai đoạn: giai đoạn thấp là chủ nghĩa xã hội và giai đoạn cao là giai đoạn phát triển trên cơ sở của chính nó là chủ nghĩa cộng sản. Tuy chưa có sự phân chia một cách cụ thể, song C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng trong giai đoạn thấp của hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa tất yếu phải trải qua thời kỳ quá độ lâu dài. C.Mác chỉ rõ: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản1.

Vào những năm 70 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác ngày càng được truyền bá trong phong trào công nhân. Đúng vào lúc đó, trong nội bộ phong trào diễn ra cuộc luận chiến lớn chống lại chủ nghĩa Duyrinh, bảo vệ chủ nghĩa Mác. Trong cuộc luận chiến này, Ph.Ănghen đã viết tác phẩm “Chống Duyrinh” (1877) để vạch trần quan điểm sai lầm của Duyrinh, tổng kết, luận chứng có hệ thống về ba bộ phận chủ nghĩa Mác. Đối với chủ nghĩa xã hội khoa học, tác phẩm đã phân tích rõ tiền đề lý luận; quá trình ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học; phân tích sự ra đời của chế độ xã hội mới là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử, là sự tiếp nối của các hình thái kinh tế- xã hội trước đó những trên cơ sở phát triển cao hơn.

 Bước đầu, C.Mác và Ph.Ăngghen đã có nghiên cứu mới về sự phát triển xã hội của các nước kinh tế lạc hậu.dành nhiều thời gian nghiên cứu. Nội dung này được thể hiện trong tác phẩm tiêu biểu như “Bản thảo kinh tế những năm 1857-1858”, bản thảo “Bút ký nhân loại học”, “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” (1884), hai ông đã phát triển lý luận mới về hôn nhân cổ đại, xã hội thị tộc; nguồn gốc của chế độ tư hữu, sự phát triển không ngừng của quyền thừa kế; nguồn gốc của nhà nước.; nghiên cứu so sánh xã hội phương Đông và phương Tây; chế độ sở hữu châu Á; phê phán các hành vi thực dân hóa; từ đó đưa ra những phát hiện mới về tính đa dạng về con đường phát triển và khả năng phát triển của xã hội loài người, nhất là vấn đề phát triển và bỏ quan giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa của các nước kinh tế lạc hậu. C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra các nước kinh tế lạc hậu có ba khả năng phát triển: một là, bị phương Tây biến thành thuộc địa, phát triển chủ nghĩa tư bản; hai là, chế độ tư hữu trong nội bộ công xã từ từ chiến thắng chế độ công hữu; ba là, chế độ công hữu chiến thắng chế độ tư hữu, bỏ qua cái “khe núi Capdia” của chế độ tư bản, tiếp thu thành tựu của nhân loại tiến lên chủ nghĩa xã hội. Những nhận thức mới trên thực chất là nghiên cứu của C.Mác và Ph.Ăngghen về lý luận về xã hội phương Đông, khẳng định con đường phát triển xã hội đa dạng.

Vào những năm cuối đời, những tài liệu mới về nhân loại học đã giúp C.Mác và Ph.Ăngghen ngày càng nhận rõ, quy luật phát triển chung của thế giới không những không loại bỏ tính đặc thù về hình thức và trật tự các giai đoạn phát triển cá biệt mà còn lấy đó làm tiền đề. Đó chính là tính thống nhất, tính phổ biến, tính đặc thù, tính khác biệt ẩn chứa trong quá trình phát triển của các dân tộc, vạch ra con đường phát triển độc đáo của từng quốc gia.

Sau khi C.Mác mất (1883), kế thừa và thực hiện những nội dung nghiên cứu mà C.Mác đang thực hiện, Ph.Ăngghen và những người đồng chí của mình đã hoàn thiện các dự thảo tác phẩm của C.Mác; tổ chức thành lập Quốc tế II; đấu tranh chống lại, phê phán các học giả công kích chủ nghĩa Mác; chống phái cơ hội chủ nghĩa. Những năm cuối đời, Ph.Ăngghen viết nhiều tác phẩm mới như: Hoàn thành các tập còn lại của bộ Tư bản; “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” (1884); “Góp phần phê phán dự thảo cương lĩnh năm 1891 của Đảng dân chủ - xã hội” (1891); “Lời nói đầu viết cho tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp từ năm 1848 - 1850” của C.Mác” (1894). Qua những hoạt động này, Ph.Ăngghen làm rõ hơn lý luận về cách mạng vô sản, dân chủ, nhà nước; vạch trần chủ nghĩa cơ hội; liên minh công nông; chiến lược, sách lược của cách mạng vô sản.

Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” (1884), Ph.Ăngghen đã phân tích các hiện tượng lịch sử xã hội có liên quan, lịch sử xã hội loài người qua các giai đoạn, nguồn gốc của gia đình, chế độ tư hữu, nhà nước. Đây là cuốn sách rất quan trọng, V.I.Lênin đánh giá, đây là một trong những tác phẩm chủ yếu của chủ nghĩa xã hội hiện đại. Không những vậy, nó còn có ý nghĩa với nhiều môn khoa học khác như nhân loại học, dân tộc học, khảo cổ học, xã hội học, sử học, chính trị học. Ph.Ăngghen đã phân tích rõ về nguồn gốc và bản chất của nhà nước. Theo đó, nhà nước là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, có nguồn gốc từ sự xuất hiện chế độ tư hữu, xuất hiện giai cấp. Bản chất của nhà nước là tổ chức, công cụ của giai cấp thống trị dùng để bóc lột, áp bức giai cấp bị áp bức, bảo vệ những lợi ích căn bản của bản thân mình; khi lực lượng sản xuất phát triển cao độ, xã hội tiến vào giai đoạn sản xuất mà sự tồn tại của giai cấp không còn là tất yếu, trở thành trở ngại trực tiếp cho sản xuất, thì giai cấp sẽ tiêu vong. Giai cấp tiêu vong thì nhà nước cũng không tránh khỏi tiêu vong theo. Giai đoạn xã hội ấy là xã hội cộng sản tương lai.



1 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 19, “Phê phán Cương lĩnh Gô ta” (1975), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.47. 

Đối tượng nghiên cứu của Lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa

 


Đối tượng nghiên cứu của môn Lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa là quá trình phát sinh, hình thành, phát triển và tính quy luật phát triển của những trào lưu tư tưởng, những quan điểm phê phán, đấu tranh nhằm xóa bỏ chế độ áp bức bóc lột, xây dựng chế độ xã hội công bằng, bình đẳng và hữu ái, trong đó con người được sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Là một khoa học xã hội nhân văn, khoa học lịch sử, môn Lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa nghiên cứu toàn bộ quá trình hình thành, phát triển và hoạt động của tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong lịch sử, từ những mầm mống tư tưởng thời kỳ cổ đại đến các giai đoạn hình thành, phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học. Do đó, đối tượng nghiên cứu của Lịch sử Tư tưởng xã hội chủ nghĩa tập trung nghiên cứu những sự kiện lịch sử tiêu biểu, nội dung tư tưởng cơ bản, những đại biểu tư tưởng xã hội chủ nghĩa điển hình trong các giai đoạn lịch sử, quá trình hình thành, phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học giai đoạn của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và giai đoạn sau khi V.I.Lênin mất. Từ thực tiễn lịch sử đó, Lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa tổng kết các bài học kinh nghiệm, nêu bật ý nghĩa lịch sử của sự phát triển tư tưởng xã hội chủ nghĩa đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, rút ra những vấn đề quy luật và tính quy luật của sự phát triển đó, làm cơ sở để các đảng cộng sản, đảng công nhân, giai cấp công nhân các nước liên hệ, vận dụng trong quá trình đấu tranh cách mạng của mình.

Tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa có một quá trình phát triển lâu dài trong lịch sử tư tưởng nhân loại, từ thấp đến cao, từ những mầm mống sơ khai đến các quan niệm còn mang nặng tính không tưởng, ảo tưởng và phát triển tới đỉnh cao là chủ nghĩa xã hội khoa học. Chính vì vậy, nghiên cứu môn lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa phải làm rõ quá trình phát sinh, hình thành và phát triển của toàn bộ nội dung tư tưởng, cũng như mỗi khía cạnh cấu thành nó trong suốt chiều dài lịch sử và mỗi giai đoạn, thời kỳ lịch sử. Đồng thời, nghiên cứu làm rõ những đặc điểm, những nấc thang phát triển của cả nội dung và hình thức tư tưởng, khả năng hiện thực hóa tư tưởng đó trong đời sống xã hội. Từ nghiên cứu quá trình phát sinh, hình thành và phát triển của tư tưởng xã hội chủ nghĩa cả nội dung và hình thức của nó, cho thấy lịch sử quá trình hình thành, phát triển của tư tưởng xã hội chủ nghĩa luôn tuân theo những tính quy luật sau đây:

Thứ nhất, sự phát triển tư tưởng xã hội chủ nghĩa chịu sự quy định của những điều kiện và trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn lịch sử nhất định.

Thứ hai, sự phát triển tư tưởng xã hội chủ nghĩa luôn phản ánh đầy đủ và sinh động bộ mặt cơ cấu xã hội - giai cấp, các quan hệ chính trị và đặc điểm cuộc đấu tranh giai cấp trong lịch sử, nhất là thực tiễn đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân quốc tế.

Thứ ba, sự phát triển tư tưởng xã hội chủ nghĩa chịu sự chi phối của đời sống văn hóa tinh thần xã hội sự truyền bá, ảnh hưởng của tư tưởng này trong quần chúng nhân dân.

Thứ tư, sự phát triển tư tưởng xã hội chủ nghĩa là sản phẩm của sự kết hợp các tiền đề khách quan và nhân tố chủ quan, thông qua hoạt động thực tiễn xã hội.

Thứ năm, sự phát triển tư tưởng xã hội chủ nghĩa là kết quả của quá trình đấu tranh nội tại, loại bỏ những cái lỗi thời, ấu trĩ, sai trái; kế thừa những giá trị bền vững và phát triển sáng tạo những nhân tố phù hợp với hoàn cảnh lịch sử mới.

Nắm vững những tính quy luật cơ bản trên đây góp phần xem xét nhận định tư tưởng xã hội chủ nghĩa được khách quan, chân thực và đúng đắn. Đồng thời, có chủ trương, biện pháp bảo vệ và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học, giữ vững niềm tin đối với bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa xã hội khoa học trong điều kiện hiện nay.