Các nhà nghiên cứu nghệ thuật quân sự Việt Nam đã phân tích, khái quát tư tưởng nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh, coi đó là đường lối quân sự cơ bản của cách mạng Việt Nam – một trong những nhân tố quyết định dẫn đến thắnglợi giải phóng hoàn toàn đất nước ta.
Sau khi
Bác Hồ qua đời, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Mỹ, ông Gớt Hôn đánh giá về Bác: “Người
là một lãnh tụ chính trị nhưng Người cũng là một lãnh tụ xuất sắc về quân sự”.
Không ngẫu nhiên ông đánh giá cao Bác Hồ như vậy, bởi chắc ông đã đọc kỹ tiểu sử
và nghiên cứu những bài viết về quân sự của Bác. Nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh
là sự kế thừa tinh hoa nghệ thuật quân sự thế giới. Hồi ở Pháp Người đọc nhiều
sách quân sự của cách mạng tư sản Pháp, của công xã Pa-ri và quân đội Pháp hiện
thời. Thời gian ở Liên Xô Người đã nghiên cứu nghệ thuật quân sự Xô viết. Đặc
biệt Người nghiên cứu rất kỹ binh pháp cổ Trung Quốc để có “Những hiểu biết cơ
bản về quân sự”, ”Phép dùng binh của Tôn Tử”(1943)… Nghệ thuật quân sự Hồ Chí
Minh là sự tiếp nối truyền thống nghệ thuật quân sự Việt Nam với những nguyên
lý cơ bản: Đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân để thay cường bạo
(Nguyễn Trãi), Vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước chung sức, là khoan
thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc (Trần Quốc Tuấn), là lấy nhỏ đánh lớn, lấy
ít địch nhiều, là “ngụ binh ư nông”…
1. Chúng ta muốn hoà bình
Nghệ thuật
quân sự Hồ Chí Minh là trọng hoà bình, là không muốn chiến tranh. Khi cả nước
chuẩn bị phải bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, Bác Hồ tuyên bố với thế giới
rằng: “Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hoà bình. Chúng tôi không muốn chiến
tranh… Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách… Nhưng cuộc chiến
tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm. Chúng tôi
không lạ gì những điều đang đợi chúng tôi…”. Rõ ràng để trở thành nhà quân sự
kiệt xuất là ngoài ý muốn của Người, không hề muốn chiến tranh, nhưng cần thiết
thì Người cùng cả dân tộc buộc phải tiến hành chiến tranh để giành độc lập, tự
do, để cho xứ sở này luôn tràn ngập ánh trăng hoà bình như trong những áng thơ
của Người vậy. Cây muốn lặng gió chẳng muốn đừng, dã tâm của kẻ thù là muốn đưa
dân ta trở về kiếp nô lệ, cả nước ta phải cầm súng, Bác Hồ viết Lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến:
“Chúng ta
muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực
dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa.
Không!
Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không
chịu làm nô lệ”.
Tư tưởng
hoà bình yêu tự do của Người là sự kế thừa, tiếp nối tinh thần trọng hoà hiếu của
cha ông, cách sống thương người như thể thương thân của dân tộc: “Theo tinh thần
bốn bể đều là anh em, tôi yêu mến thanh niên Pháp cũng như yêu mến thanh niên
Việt Nam. Đối với tôi, sinh mệnh của một người Pháp hay sinh mệnh của một người
Việt đều đáng quý như nhau… Trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều
là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người”.
2. Toàn
dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến
Nghệ thuật
chiến tranh trong lịch sử giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn là nghệ thuật chiến
tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc, Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Bác Hồ giải
thích: “Toàn dân kháng chiến nghĩa là toàn cả dân, ai cũng đánh giặc. Bất kỳ
đàn ông đàn bà, người già con trẻ, ai cũng tham gia kháng chiến”. Đường lối
kháng chiến này lại được thể hiện cụ thể mà sinh động trong một bài thơ của Người:
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến/ Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng/
Tiến lên chiến sỹ! Tiến lên đồng bào/ Sức ta đã mạnh, người ta đã đông/ Trường
kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi/ Thống nhất độc lập, nhất định thành công
(Chúc năm mới – 1947). Có nhà phê bình đã chia thơ Hồ Chí Minh ra thành hai loại,
thơ tuyên truyền cổ động và thơ nghệ thuật. Chúng tôi lại cho rằng thơ Hồ Chí
Minh chỉ có một loại thơ nghệ thuật, dĩ nhiên cần phải hiểu nghệ thuật ở nghĩa
rộng rãi hơn, nghệ thuật cả ở những vấn đề ngoài văn bản chứ không chỉ tồn tại
trong hình thức văn bản. Những tác phẩm như Chúc năm mới trên thì vừa là tuyên
truyền vừa là nghệ thuật, nghệ thuật đưa chính trị vào nghệ thuật, nghệ thuật
mượn nghệ thuật để tuyên truyền…
Cách đánh
du kích là hệ quả tất yếu của đường lối chiến tranh nhân dân được Bác Hồ đặc biệt
chú ý. Người viết tác phẩm Đánh du kích như đánh cờ nêu những cách đánh giặc cụ
thể của một cụ nông dân đã già yếu: Một ông già, một sợi dây/ Làm cho điêu đứng
một bầy địch nhân; của một cụ bà cao tuổi: Tuổi già gan lại càng già/ Làm cho địch
biết tay bà mưu cao; của một em bé: Tuổi nhỏ mà gan thì to/ Đem hai thứ trứng
bán cho quân thù… Đây chính là sự cụ thể hoá của nghệ thuật chiến tranh nhân
dân: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo,
đảng phái, dân tộc… Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có súng
có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp
cứu nước”.
3. Kiên
quyết không ngừng thế tiến công
Hạt nhân
của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là tư tưởng chiến lược tiến công. Đây chính là
vấn đề quyết định sự thắng lợi của bất kỳ công việc gì chứ không chỉ là việc
đánh giặc, bởi chỉ nhờ có tiến công mới có thể tạo ra được thế chủ động, mà
trong đánh giặc thì việc này là tối cần thiết, như Bác Hồ nói: “Giữ quyền chủ động
chính là giữ thế công, giữ thế công mới đánh được giặc”. Bài thơ Học đánh cờ được
các nhà nghệ thuật quân sự nước ta coi là sự thể hiện của đường lối chiến lược
quân sự Việt Nam ngắn gọn nhất, sinh động nhất. Bài thơ có 3 khổ, 12 câu, 108 chữ
thì hai chữ tấn công được nhấn mạnh tới ba lần: Tấn công thoái thủ ưng thần tốc
(Tấn công thoái thủ nhanh như chớp), Kiên quyết thì thì yếu tấn công (Kiên quyết
không ngừng thế tấn công), Công thủ vận trù vô lậu toán (Tấn công phòng thủ
không sơ hở). Chỉ có trên cơ sở tấn công mới tạo ra được thời cơ. Cấu trúc của
khổ thơ sau là một kết cấu nhân quả:
Phải nhìn
cho rộng suy cho kỹ
Kiên quyết
không ngừng thế tấn công
Lạc nước
hai xe đành bỏ phí
Gặp thời
một tốt cũng thành công
Nhờ có tầm
nhìn rộng, suy nghĩ kỹ càng kết hợp với thế công (thì) dù có “lạc nước” nhưng vẫn
có thể “gặp thời một tốt cũng thành công”.
4. Quân
ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu…
Hồ Chí
Minh rất chăm lo xây dựng lực lượng quân đội theo nguyên tắc tập trung: “Về
quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng”. Quân đội ấy phải
hết sức coi trọng chính trị: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc,
vô dụng lại có hại. Quân đội ta là quân đội nhân dân. Nhân dân có Đảng lãnh đạo,
Đảng có chính cương, chính sách. Đã là quân đội nhân dân thì phải học chính
sách của Đảng”. Học tập chính trị để có quyết tâm, để rèn luyện ý chí đánh giặc.
Ở bất cứ thời nào, bất cứ nơi đâu, nếu có chiến tranh thì yếu tố con người vẫn
là yếu tố quyết định sự thành bại. Bác Hồ đã khẳng định điều đó bằng nhiều hình
thức khác nhau, những câu nói khác nhau, ví như một mệnh đề nổi tiếng: Đoàn kết,
đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công thì vấn đề đoàn
kết chính là con người. Hay ở một bài thơ khác, bài Thơ chúc mừng năm mới -1956
có hai câu cuối:
Quyết chí
bền gan phấn đấu
Hoà bình
thống nhất thành công
Thì chỉ
nhờ có giáo dục chính trị mới có thể quyết chí bền gan được. Cái gốc của giáo dục
là tình thương. Bác Hồ rất thương chiến sỹ mà bài thơ Tư chiến sĩ chỉ là một biểu
hiện: Canh thâm lộ cấp như thu vũ/ Thần tảo sương nùng tự hải vân/ Khoái tống
hàn sam cấp chiến sỹ/ Dương quang hoà noãn báo tân xuân (Đêm khuya, móc rơi dồn
dập như mưa thu/ Sáng sớm, sương dày như mưa mặt biển/ Mau gửi áo rét cho chiến
sỹ/ Ánh nắng ấm áp đã báo trước tin xuân mới sắp về). Đúng là một tình thương
cha con. Điều này được tiếp nối từ lịch sử: Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước
sông chén rượu ngọt ngào (Bình Ngô đại cáo)… Nhân đây xin nói tới đạo làm tướng
theo quan niệm của Bác thì cái gốc vẫn là tình thương yêu và sự gương mẫu: “Từ
tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng Tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật
chất và tinh thần của đội viên… Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình
đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở,
cán bộ không được kêu mình mệt”. Có thế thì mới tạo ra được Hùng sư bách vạn tất
thính lệnh (Trăm vạn hùng binh đều nghe lệnh).

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét