Thứ Tư, 16 tháng 6, 2021

Nhận thức về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới ở nước ta

Lý luận về dân chủ chiếm một phần quan trọng trong lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Theo C. Mác và Ph. Ăng-ghen, từ dân chủ chủ nô đến dân chủ tư sản rồi đến dân chủ vô sản (dân chủ xã hội chủ nghĩa) là những bước tiến của lịch sử. Các ông đã đánh giá một cách khách quan nền dân chủ tư sản, mặc dù nó còn rất nhiều hạn chế, khiếm khuyết, song là bước tiến bộ so với chế độ chuyên chế phong kiến. Đồng thời, các ông đã vạch ra bản chất giai cấp của dân chủ tư sản, đó là dân chủ đối với thiểu số bóc lột và chuyên chính đối với đa số nhân dân lao động. Theo C. Mác và Ph. Ăng-ghen, trong giai đoạn thứ nhất của cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp vô sản phải trở thành giai cấp thống trị, phải “giành lấy dân chủ”. Chỉ có giành được chính quyền nhà nước, giai cấp vô sản mới xây dựng và phát huy được nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, mới hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình là đưa nhân dân, trước hết là nhân dân lao động trở thành người chủ của xã hội, là chủ thể tối cao và duy nhất của mọi quyền lực. Tư tưởng đó của C. Mác và Ph. Ăng-ghen nói lên bản chất dân chủ của xã hội mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Kế thừa và phát triển những tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về dân chủ, V.I. Lê-nin đã làm sáng tỏ con đường biện chứng của quá trình phát triển dân chủ: “Từ chuyên chế đến dân chủ tư sản; từ dân chủ tư sản đến dân chủ vô sản; từ dân chủ vô sản đến không còn dân chủ nữa”(1). Với tư cách là một hình thức nhà nước, dân chủ ra đời, tồn tại và tiêu vong cùng với sự ra đời, tồn tại và tiêu vong của nhà nước. V.I. Lê-nin viết: “Đương nhiên, chế độ dân chủ cũng là một hình thức nhà nước và sẽ phải mất đi khi nhà nước tiêu vong, nhưng điều đó chỉ xảy ra khi chủ nghĩa xã hội thắng lợi hoàn toàn và được củng cố, quá độ lên chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn”(2). Tất nhiên chúng ta hiểu, dân chủ với tư cách một phạm trù chính trị sẽ tiêu vong, nhưng với tư cách một giá trị nó vẫn sẽ tồn tại ngay cả khi nhà nước không còn. Cũng như Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin nhấn mạnh đặc biệt tính chất giai cấp của dân chủ. V.I. Lê-nin đòi hỏi những người mác-xít không bao giờ được quên mà không hỏi rằng, đó là dân chủ cho giai cấp nào. V.I. Lê-nin đã nêu ra một trong những tiêu chí phân biệt dân chủ vô sản với các nền dân chủ trước đó: “Dân chủ vô sản là chế độ thống trị của đa số với thiểu số, vì lợi ích của đa số...”(3). V. I. Lê-nin đã nhấn mạnh sự cần thiết phải kết hợp giữa cuộc đấu tranh cho dân chủ với thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. Theo ông, một mặt, chỉ thông qua cuộc đấu tranh cho chế độ dân chủ mới thúc đẩy sự chín muồi của những tiền đề khách quan và chủ quan cho thắng lợi của cách mạng vô sản; mặt khác, chủ nghĩa xã hội sẽ không duy trì được thắng lợi, nếu không thực hiện đầy đủ chế độ dân chủ. Như vậy dân chủ là một thuộc tính nội tại, vốn có, thuộc tính bản chất của chủ nghĩa xã hội. Với tư cách là đỉnh cao trong toàn bộ lịch sử tiến hóa của dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự kết tinh toàn bộ những giá trị dân chủ đạt được trong lịch sử và nảy sinh những giá trị dân chủ mới về chất. Ở đây, dân chủ trở thành giá trị phổ biến của xã hội, thâm nhập vào mọi lĩnh vực, mọi quan hệ của đời sống xã hội, bao quát mọi góc độ trong sự tồn tại của con người, tạo ra ngày càng đầy đủ những điều kiện cho sự giải phóng mọi năng lực sáng tạo của con người. Vì vậy V.I. Lê-nin đã khẳng định, dân chủ vô sản là dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ đối với quảng đại quần chúng nhân dân lao động, là chế độ dân chủ vì lợi ích của đa số. Dân chủ xã hội chủ nghĩa không loại trừ đấu tranh giai cấp, nó kiên quyết đấu tranh chống lại mọi hành vi đi ngược lại những chuẩn mực dân chủ, vi phạm những giá trị dân chủ chân chính của nhân dân. Do vậy, trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ và chuyên chính không tách rời nhau, dân chủ gắn liền với pháp luật, kỷ cương, kỷ luật. Kế thừa và phát triển những tư tưởng về dân chủ của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm đặc sắc về dân chủ bằng diễn đạt rất ngắn gọn: “Dân là chủ”, “Dân làm chủ”, “Dân là gốc”, “Nước ta là nước dân chủ”, “Dân chủ là cái chìa khóa vạn năng”. Khẳng định vai trò làm chủ xã hội của nhân dân, Hồ Chí Minh nói: “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”, và quan trọng hơn Hồ Chí Minh còn khẳng định phải làm cho dân được hưởng quyền làm chủ xã hội trên thực tế. Từ “dân là chủ” tiến lên thành “dân làm chủ” là một bước tiến về chất của dân chủ. Theo Hồ Chí Minh, phải làm sao cho người dân có quyền làm chủ, có điều kiện làm chủ, biết hưởng quyền làm chủ, đồng thời biết dùng quyền làm chủ. Muốn vậy nhân dân phải có năng lực làm chủ. Năng lực đó không phải bỗng dưng mà có, không phải từ trên trời rơi xuống, không phải do “ban phát” mà, một mặt, Đảng, Nhà nước phải tạo ra cơ chế, chính sách, luật pháp thích hợp; mặt khác, người dân phải phấn đấu, rèn luyện, phải học dân chủ, phải nâng cao trình độ hiểu biết về dân chủ, phương pháp thực hành dân chủ và bản lĩnh thực hành dân chủ. Có như vậy, nhân dân mới có quyền dân chủ thực sự, tránh tình trạng dân chủ chung chung, dân chủ hình thức. Theo Hồ Chí Minh, để các quyền dân chủ được thực hiện trong cuộc sống, các quyền đó phải được thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luật và được thực hiện bằng những thiết chế tương ứng của Nhà nước. Ở đây, dân chủ và pháp luật, dân chủ và kỷ cương không bài trừ, phủ định nhau, trái lại, chúng nằm trong sự thống nhất biện chứng, là điều kiện, tiền đề phát triển của nhau. Thực tế cho thấy, cả vô chính phủ lẫn độc đoán chuyên quyền đều trái với bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Không thể có dân chủ mà thiếu pháp luật, kỷ luật, kỷ cương. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã có những bước tiến quan trọng trong nhận thức lý luận về dân chủ và thực hành dân chủ, đã đạt được những thành tựu quan trọng về thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, làm cho dân chủ xã hội chủ nghĩa trở thành động lực của đổi mới và phát triển đất nước.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét