Trong bài viết mới đây “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh một ý quan trọng: “Chúng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.
Chúng ta đang nhìn thấy, dưới tác động của đại
dịch COVID, thế giới có nhiều thay đổi cả về kinh tế và chính trị với nhiều nỗi
lo lắng, bất an và khủng hoảng. Nhưng những giá trị nhân ái, đoàn kết, nhân
văn, chia sẻ vẫn ngời sáng và là điểm tựa, là sức mạnh ẩn tàng để con người vượt
qua đại dịch. Đó đều là những giá trị bất biến của văn hóa. Kinh tế, chính trị
khi đặt trong nó sức mạnh nội sinh là văn hóa sẽ có được bộ lọc chuẩn để không
bị chệch khỏi các giá trị cốt lõi công bằng, dân chủ, văn minh, không đi ngược
lại các chế định của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân và vì nhân dân.
Nhận thức được đúng tính chất, vai trò, vị
trí quan trọng của văn hóa, quan điểm nhất quán của Đảng ta từ rất sớm đã luôn
coi văn hóa là một trong những trụ cột quan trọng cần có sự quan tâm đầy đủ và
đồng bộ để tạo nên sức mạnh tổng hợp của quốc gia trong quá trình phát triển.
Ngay từ năm 1943, bản Đề cương về văn hóa Việt Nam đã khẳng định vai trò, vị
trí của văn hóa là một trong ba mặt trận chính trị - kinh tế - văn hóa. Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, theo Người,
trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cần được coi trọng ngang
nhau, đó là chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Người khẳng định, “chính
trị nghĩ rộng cũng là văn hóa và văn hóa nghĩ sâu cũng là chính
trị”. “Văn hóa cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài mà phải ở
trong kinh tế và chính trị”. Quan điểm được Đảng ta liên tục kế thừa, bổ sung,
phát triển phù hợp với từng giai đoạn. Nghị quyết 33-NQ/TW ngày 9-6-2014, Ban
Chấp hành Trung ương Khóa IX tiếp tục khẳng định và làm rõ thêm: “Văn hóa là nền
tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước.
Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”.
Văn hóa có mặt trong nhiều thành tựu to lớn,
có ý nghĩa lịch sử tạo nên cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của nước
ta ngày nay. Không thể phủ nhận sự đồng hành của văn hóa, sự hiện diện của văn
hóa trong các bình diện của đời sống xã hội đã tạo thành sức mạnh nội sinh, vừa
là nguồn lực, vừa là thành quả của phát triển. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao trong bối cảnh đất nước bước sang một giai đoạn mới với tầm nhìn
và khát vọng đất nước phồn vinh, hạnh phúc thì lực đẩy văn hóa này vẫn còn
“chưa tương xứng”, “chưa đủ”. Sau nhiều hồi chuông riết róng, “văn hóa trong
chính trị và trong kinh tế bước đầu được coi trọng và phát huy hiệu quả tích cực”,
tuy nhiên, Đại hội XIII vẫn tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu về vị trí, vai trò của văn
hóa thông qua đánh giá “văn hóa chưa được quan tâm tương xứng với kinh tế và
chính trị chưa thật sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của sự phát triển
bền vững đất nước. Vai trò của văn hóa trong xây dựng con người chưa được xác định
đúng tầm”.
Đã có
nhiều cuộc “mổ xẻ” làm “nóng” nhiều diễn đàn, hội thảo, tọa đàm khoa học, trên
báo chí, trong dư luận, để đi tìm nguyên nhân và lời giải, vì sao quan điểm thì
đầy đủ và đúng đắn mà thực tiễn lại chưa được như mong muốn? Văn hóa nằm ở đâu
trong dòng chảy của phát triển? Làm sao để văn hóa phát huy được giá trị và sức
mạnh, thực sự là nền tảng tinh thần, là động lực và nguồn lực phát triển của đất
nước?
Nhiều nghiên cứu trong khoa học xã hội đã chỉ
ra, trong giai đoạn đổi mới đất nước 35 năm qua, quá trình chuyển đổi thể chế
kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa là căn nguyên của nhiều biến động về mặt xã hội. Nhiều giá trị truyền
thống tích cực bị sang chấn, đổ vỡ bởi sự chuyển đổi từ mô hình xã hội nông
nghiệp sang công nghiệp. Kinh tế thị trường bên cạnh việc tạo ra sức sống mới
cho nền kinh tế cũng kéo theo những mặt trái trong hành xử, lối sống, đạo đức
nghề nghiệp, đạo đức công dân... Có những giá trị tốt đẹp bị xâm hại, khuất lấp,
phủ mờ; có những thói hư tật xấu cố hữu còn trì níu, sinh sôi trong điều kiện mới,
có những sức ì, thói quen lạc hậu còn tồn tại như “quán tính”, có những cái mới
nảy sinh, du nhập nhưng phản tiến bộ, lai căng, lai tạp,… làm xâm hại, kìm hãm, cản trở việc xây dựng, hình
thành các nhân tố tích cực của kinh tế thị trường. Toàn cầu hóa, hội nhập quốc
tế một mặt, “phát huy vai trò cá nhân và làm giàu văn hóa của nó” mặt khác
“thúc đẩy các nền văn hóa đậm đà bản sắc trở thành những mảnh ghép văn hóa đa dạng
và xa lạ”. Sự bề bộn của kinh tế thị trường, sự phát triển của công nghệ,
internet, truyền thông trong bối cảnh toàn cầu hóa, mở cửa… đem đến nhiều giá
trị tiến bộ nhưng đồng thời cũng khuếch tán cái phản giá trị, phi tiến bộ. Sự
trộn lẫn này dẫn đến tình trạng dòng chảy chính để định hình văn hóa bị can thiệp
bởi những xu hướng ngắn hạn, hời hợt, thoảng qua, làm phai bản sắc, lỏng lẻo kết
nối gia đình, đứt gãy thế hệ, nhạt kết nối thực trong khi bùng nổ kết nối ảo...
Bên cạnh đó, các thế lực thù địch vẫn luôn xem văn hóa, tư tưởng và một mặt trận
để chống phá, thực hiện “diễn biến hòa bình”, lợi dụng kẽ hở của luật pháp, của
truyền thông để truyền bá tư tưởng lai căng về tự do, dân chủ, khuếch tán sản
phẩm văn hóa, thông tin độc hại, nhất là trong giới trẻ.
Bên cạnh những yếu tố khách quan đó, quan trọng
hơn, căn bản hơn, cần nhìn sâu vào những nguyên nhân chủ quan, nội tại liên
quan đến nhận thức về vai trò, vị trí của văn hóa trong phát triển, đến tổ chức
thực hiện, thể chế hóa quan điểm về văn hóa. Quan điểm “phát triển kinh tế đi
đôi với phát triển văn hóa”, “Trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội đều
phải đề cao nhân tố văn hóa, con người” được nhấn mạnh, khẳng định rõ ràng, nhất
quán như vậy nhưng về nhận thức và ứng xử trong lãnh đạo, quản lý còn tư duy xem
nhẹ văn hóa, thiên lệch về kinh tế. Dẫn đến, sự gắn bó giữa văn hóa và kinh tế
chưa rõ nét, văn hóa vẫn “đứng ngoài” mà chưa thật sự có được sự quan tâm tương
xứng để có đời sống bình đẳng là “ngang hàng”, “vào trong” kinh tế, chính trị,
thực sự thấm sâu vào mọi mặt của đời sống xã hội.
Biểu hiện của việc chưa đánh giá đúng tầm mức,
sự quan trọng của văn hóa là có lúc có tình trạng tuyệt đối hóa, gắn “mác” văn
hóa trong diễn ngôn, nhắc nhiều đến văn hóa trong các lĩnh vực nhưng lại chưa
thực tâm hành xử vì văn hóa, còn nặng về phong trào, hình thức mà chưa rõ và cụ
thể về trách nhiệm, hành động của các chủ thể, nên hiệu quả cũng mờ nhạt. Ngay
trong các dự án phát triển, các báo cáo kinh tế - xã hội, trong các diễn đàn, hội
nghị của địa phương cũng như Trung ương dành nhiều dung lượng, thời lượng và mối
quan tâm về kinh tế nhưng dành cho văn hóa thì chỉ vài dòng đơn lẻ với tính chất
không thể không nhắc đến, nhưng dường như có hay không không quá quan trọng.
Trong các chỉ tiêu, mục tiêu cụ thể, việc định lượng cho văn hóa còn gặp nhiều
khó khăn và dễ bị “làm lơ”.
Văn hóa được coi “là nền tảng tinh thần của
xã hội”, nhưng việc phân bổ nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực văn hóa cũng thấp hơn
các lĩnh vực được coi là quốc sách và nền tảng khác. Kết luận 30-KL/TW ngày
20-7-2004 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về “Xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” trong đó chỉ đạo “Tăng
đầu tư cho văn hóa, phấn đấu đến năm 2010 ít nhất đạt 1,8% tổng chi ngân sách của
Nhà nước” nhưng ngân sách nhà nước chi đầu tư cho lĩnh vực văn hóa nhiều năm
qua mới chỉ đạt 1,71% chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển văn hóa.
Có khi, văn hóa bị phớt lờ, bị đẩy lại phía
sau trước những quyết sách, hoạch định kinh tế, lợi ích về văn hóa bị hy sinh,
nhường chỗ cho lợi ích về kinh tế, dẫn đến phát triển “nóng”, làm ăn chộp giật,
thiếu tầm nhìn, thiếu bền vững. Những thiếu hụt về văn hóa trong lãnh đạo và quản
lý cũng là căn nguyên dẫn đến nhiều căn “bệnh” làm kìm hãm, cản trở sự phát triển,
đe dọa sự tồn vong của chế độ.
Trước những tù túng, trì trệ và nhức nhối
trong phát triển văn hóa còn tồn tại nhận thức là các vấn đề về văn hóa thường
không “cháy nhà, chết người”. Trên thực tế, những ảnh hưởng từ từ, âm thầm từ
những hiện tượng suy thoái về đạo đức, xuống cấp về văn hóa lại thường rất lớn,
trong dài lâu và hậu quả khó khắc phục hơn khủng hoảng, suy thoái về kinh tế.
Nhận rõ những điểm nghẽn trong phát triển
văn hóa, tầm quan trọng của văn hóa, Nghị quyết Đại hội XIII đề ra định hướng
phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 là: “Phát triển con người toàn diện và
xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa thực
sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”
đi kèm những nhiệm vụ, giải pháp “phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam
và sức mạnh toàn dân tộc, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống
nhân dân, bảo đảm gắn kết hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội”./.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét