Lòng Dân là gốc của ý Đảng, ý Đảng phải xuất phát từ lòng Dân.
Tiếp tục xây đắp, giữ gìn nền tảng đó là mong mỏi của nhân dân. Tuy nhiên,
trong thực tiễn vừa qua, nhiều vụ, việc diễn ra trái với lòng Dân, ý Đảng cần
phải được nhìn nhận thấu đáo, từng bước lãnh đạo, chỉ đạo và kiên quyết khắc
phục kịp thời,
1 - Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, vai trò to lớn
của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ đất nước đều được các triều đại phong
kiến Việt Nam trước đây khẳng định.Ý thức “Dân là gốc” được hình thành từ rất
sớm. Triều nhà Lý, trong Bộ Hình thư, công bố năm 1042 đã xác định: Chăm lo đến
đời sống người dân trăm họ, chỉnh đốn pháp luật sao cho giảm bớt nỗi khổ của
dân, xóa bớt bất công trong thiên hạ. Trước họa giặc Tống hùng mạnh, Lý Thường
Kiệt đã viết lời hịch vang dội “Nam quốc sơn hà” để phát động toàn dân đánh
giặc. Được quân sĩ và nhân dân đồng lòng hưởng ứng, cùng với tài thao lược của
mình, Lý Thường Kiệt đã lãnh đạo việc đè bẹp ý chí xâm lược của kẻ thù.
Triều nhà Trần kế thừa nhà Lý, ý thức “Dân là gốc” lại được phát huy cao hơn.
Giặc Nguyên - Mông hung hãn và hùng mạnh nhất thời đó, nhưng cả 3 lần xâm lược
đất Việt (các năm 1258, 1285 và 1287 - 1288) đều bị thất bại thảm hại. Để có
được thành công to lớn như vậy, trước hết nhà Trần đã tập hợp được sức mạnh,
thống nhất được ý chí của quân dân bằng việc long trọng mở Hội nghị Diên Hồng
(năm 1284). Vua đã cho mời các vị bô lão, những người có uy tín nhất từ các
làng, xã trong các vùng, miền về Kinh thành Thăng Long bàn việc quyết tâm đánh
giặc. Nhờ quyết tâm cao của toàn dân quanh triều đình và việc tập hợp, trọng
dụng được nhiều tướng tài, xuất thân từ nhiều tầng lớp, với nhiều hoàn cảnh
khác nhau, như Trần Quang Khải, Trần Bình Trọng, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư,
Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng..., mà đứng đầu là Hưng Đạo Đại
Vương Trần Quốc Tuấn, nên Triều nhà Trần đã bảo vệ vững chắc giang sơn, đất
nước. Khi đất nước thanh bình, Trần Quốc Tuấn đã đưa ra kế sách “Khoan thư sức
dân để làm kế bền gốc rễ, đó là thượng sách giữ nước”. Đến Triều đại nhà Lê, ý
thức “Dân là gốc” được Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi viết rất rõ trong mở đầu
“Bình Ngô đại cáo”: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, và ông là người đã sớm đưa
ra nhận định: “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân” để cảnh báo cho những
ai đi ngược lại lợi ích của dân, làm trái lòng dân... Đến Triều Nguyễn, khi vua
Hàm Nghi rời Kinh đô Huế để phát động kháng chiến chống thực dân Pháp, trong
lời Chiếu của mình, nhà vua đã viết: “Dân là gốc của xã tắc”.
2 - Từ ngày có Đảng, Đảng ta và Bác Hồ đặc biệt đánh giá cao vị
trí, vai trò của nhân dân, quan tâm sâu sắc đến đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “trong bầu trời không gì quý bằng
nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”,
“nước lấy dân làm gốc”. Người còn khẳng định “việc gì đúng với nguyện vọng nhân
dân thì được quần chúng nhân dân ủng hộ và hăng hái đấu tranh”, “Đảng không có
dân thì lấy đâu ra lực lượng? Dân không có Đảng thì lấy ai dẫn đường?...”. Tư
tưởng đó được Đảng ta nhất quán trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, từ các cuộc
kháng chiến chống giặc ngoại xâm, đến sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế hiện nay.
Quan điểm của Đảng ta về công tác dân vận đã khẳng định: “Cách mạng là sự
nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhân dân là chủ, nhân dân làm
chủ”. Đảng ta đã kịp thời đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm từ các sự
kiện, vụ việc phức tạp liên quan đến quan hệ giữa chính quyền với nhân dân, như
sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu; sự kiện thay đổi
chính quyền ở các nước Trung Đông, Bắc Phi...; vụ Thái Bình những năm 1997 -
1999, vụ bạo động xảy ra ở Tây Nguyên (tháng 2-2002, tháng 4-2004), vụ Mường
Nhé (Điện Biên) năm 2011... để lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững
mạnh, nắm chắc tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, chăm lo công tác an
sinh xã hội, không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân. Đảng đã ra nhiều nghị
quyết chuyên đề, như nghị quyết về đại đoàn kết toàn dân tộc; về công tác dân
tộc, công tác tôn giáo; về giai cấp công nhân, nông dân, doanh nhân, trí thức,
phụ nữ, cựu chiến binh, thanh niên... để định hướng lãnh đạo và vận động, tập
hợp quần chúng qua các thời kỳ cách mạng.
Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Đảng đã ban hành một số chỉ thị, quyết
định, quy định để cấp ủy đảng thực hiện, như Chỉ thị số 100-CT/TW, ngày
13-01-1981, của Ban Bí thư Trung ương, về cải tiến công tác khoán, mở rộng
“khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông
nghiệp; Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18-02-1998, của Bộ Chính trị, “về xây dựng và
thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở”; Quyết định số 217-QĐ/TW, Quyết định số
218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị “về việc ban hành Quy chế Giám sát
và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị -
xã hội”, “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị -
xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”. Nhà
nước cũng ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để các cấp chính quyền và
mọi công dân chấp hành. Hiện nay, cơ quan soạn thảo văn bản đang lấy ý kiến góp
ý vào dự thảo Luật Trưng cầu ý dân trước khi trình Quốc hội thông qua. Việc
“trưng cầu ý dân” thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với nhân dân, thể
hiện sự công khai, dân chủ của Đảng với nhân dân. Đảng, Nhà nước thường xuyên
quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo: phát huy dân chủ phải gắn với kỷ cương, kỷ cương
phải gắn với dân chủ. Đồng thời, hết sức cảnh giác với các thế lực thù địch,
lợi dụng các vấn đề về “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” để kích
động, chia rẽ mối quan hệ Đảng - Dân, chia rẽ lòng Dân, ý Đảng, thực hiện âm
mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ ở nước ta. Rõ ràng, sự nghiệp cách
mạng nước ta phát triển thắng lợi, trong đó có thành tựu to lớn, có ý nghĩa
lịch sử của 30 năm đổi mới, chính là nhờ lòng Dân gắn với ý Đảng, là nhờ mối
quan hệ máu thịt, mối quan hệ “cá - nước” giữa Đảng với Dân được dày công vun
đắp, tăng cường.
3 - Tuy nhiên, trong thực tiễn vừa qua nhiều vụ, việc diễn ra trái
với lòng Dân, ý Đảng cần phải được nhìn nhận thấu đáo, từng bước lãnh đạo, chỉ
đạo và kiên quyết khắc phục kịp thời, đó là:
Một số ít bộ, ngành đưa vào thông tư hướng dẫn những chính sách không sát thực
tế, không hợp lòng dân. Có người cho đó là những chính sách “từ trên trời rơi
xuống”. Một số cán bộ có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chủ trương của Đảng về
công tác cán bộ để thông qua cấp ủy hoặc chính quyền hoặc thủ trưởng đơn vị bố
trí người thân của mình vào những chức vụ lãnh đạo, quản lý nhưng không tương
xứng với năng lực, trình độ, uy tín. Việc làm đó đã gây tâm lý băn khoăn trong
cán bộ, đảng viên, nhân dân.
Nhân dân cũng lo lắng về các biểu hiện “vận động hành lang” dưới mọi hình thức
trái nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng diễn ra ở một số tổ chức đảng, chính
quyền. Một bộ phận cán bộ, đảng viên “nghĩ khác, nói khác”, “nói khác, làm
khác” và “nói không làm”, sống thiếu gương mẫu, trái với lời dạy của Bác Hồ:
“Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Một
số cán bộ lo “chạy chức, chạy quyền” do có cán bộ lãnh đạo, quản lý, thủ trưởng
đơn vị không công tâm, khách quan trong đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ. Từ
đó, vô tình hay hữu ý đưa vào bộ máy nhà nước một bộ phận cán bộ cơ hội, thực
dụng, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, hoặc một số biểu hiện “lợi ích nhóm” đã làm
giảm niềm tin của nhân dân vào tổ chức đảng.
Bên cạnh đó, mặc dù cấp ủy, chính quyền các cấp đã quan tâm, có nhiều biện pháp
lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết và có nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng tình
trạng tham nhũng còn lớn; số người chết do tai nạn giao thông, số người nghiện
ma túy, nhiễm HIV còn cao; giải quyết việc làm, ô nhiễm môi trường, an toàn
thực phẩm kết quả, hiệu quả còn thấp. Một số nơi cải cách thủ tục hành chính
chưa tốt, giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân thiếu kịp thời...
cũng đều trái với “Lòng Dân, ý Đảng”.
4 - Chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XII của Đảng,
nhân dân rất quan tâm, kỳ vọng đến việc các cấp ủy đảng đánh giá đúng tình
hình, nhất là đưa ra được những quyết sách để phát triển nhanh, bền vững kinh
tế, bảo vệ vững chắc và toàn vẹn lãnh thổ đất nước; nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho nhân dân; giải quyết tốt vấn đề việc làm; giảm thiểu tai nạn
giao thông, tệ nạn xã hội; giảm tham nhũng, lãng phí; ô nhiễm môi trường; chăm
lo tốt hơn việc học hành, chữa bệnh cho nhân dân,... Đặc biệt, nhân dân mong
muốn các cấp ủy đảng quan tâm lắng nghe ý kiến góp ý, xây dựng, giới thiệu của
nhân dân để chọn người có đức, có tài cho Đảng. Những người vào cấp ủy phải
được đánh giá đúng hiệu quả, kết quả hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao,
được nhân dân tín nhiệm. Trong thực tiễn đã có một số ít trường hợp lựa chọn
cán bộ của cấp ủy đảng không hợp với lòng Dân. Có cán bộ được bầu, được phân
công vào cương vị lãnh đạo nhưng người dân tín nhiệm thấp và ngược lại có cán
bộ được đông đảo nhân dân đánh giá tốt, tín nhiệm nhưng không được cấp ủy lựa
chọn. Những trường hợp đó cần sớm nghiêm túc giải quyết, để thực hiện thành
công đại hội đảng các cấp nhiệm kỳ 2015 - 2020.
Đảng ta từ nhân dân mà ra, ý Đảng bắt nguồn từ lòng Dân và chính lòng Dân đã kết thành ý Đảng. Đảng lãnh đạo nhân dân thì nhân dân cũng được quyền nói lên chính kiến của mình. Ý Đảng không thể khác với lòng Dân. Đảng phải trực tiếp trả lời câu hỏi: Nhân dân đang muốn gì? để từ đó đề ra các chủ trương, đường lối cho đúng, cho sát và phù hợp với nhân dân. Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mà Đảng ta từng bước phấn đấu chỉ có thể thành công khi Đảng, Nhà nước mãi mãi lấy “Dân là gốc”, phát huy tốt sức mạnh to lớn của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thường xuyên gắn kết chặt chẽ “Lòng Dân, ý Đảng” trong lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp đổi mới đất nước./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét