Nhà nước pháp quyền đề
cao vai trò của pháp luật trong tương quan với quyền lực của Nhà nước. Trong lịch sử loài
người từ phương Đông cho đến phương Tây pháp luật đã luôn luôn tồn tại cùng với
Nhà nước. Tư tưởng coi trọng pháp luật đã từng tồn tại, thắng thế tại Trung Hoa
cổ đại thời Xuân Thu và thời Chiến quốc (Thế kỷ thứ VI – thế kỷ thứ III TCN),
trở thành tư tưởng chủ đạo của nhà Tần dưới thời Hoàng đế Tần Thủy Hoàng (259 –
210 TCN). Ở Châu Âu, Luật La mã đã ra đời và phát triển trong một môi trường
văn hóa của các Đế chế La Mã (năm 27 TCN – năm 286) và Đế chế Byzantine
(395-1453) với những chế định pháp luật và hệ thống tố tụng phát triển. Đến
thời cận đại, nước Pháp rồi đến nước Đức đã cho nhân loại những sản phẩm văn
hóa pháp luật tuyệt vời thời Hoàng đế Napoleon (1769-1821) với các đạo luật nổi
tiếng như các Bộ luật nội dung và tố tụng những năm 1804 – 1811 và Bộ luật Dân
sự Đức năm 1896 – những đạo luật có tầm ảnh hưởng to lớn đến toàn bộ sự phát
triển về sau này đến nền pháp luật và văn hóa pháp lý của châu Âu và thế giới.
Ở Việt Nam, luật thành văn đã ra đời từ rất sớm trong thời kỳ Trung đại như bộ Hình
thư năm 1042 thời vua Lý Thái Tông (1000 – 1054), bộ Quốc triều thông
chế thời Vua Trần Thái Tông (1225 – 1258), đặc biệt là Quốc triều hình
luật, còn được gọi là Bộ luật Hồng Đức được ban hành năm 1483 dưới
triều Vua Lê Thánh Tông (1442 – 1497), một Bộ luật thể hiện thành quả lập pháp
vĩ đại của nhiều triều vua Hậu Lê trên cơ sở tư tưởng chính trị - đạo đức Nho
giáo, tư tưởng chính trị - pháp lý - đạo đức nhân nghĩa của dân tộc Việt, văn
hóa truyền thống dân tộc với nhiều nội dung tiến bộ với kỹ thuật lập pháp khá
phát triển[4]. Đến thời kỳ thuộc địa Pháp, trong những năm 20-30
của thế kỷ XX ở Việt Nam cũng đã có các đạo luật như bộ Dân luật giản yếu
Nam kỳ năm 1883, Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ năm 1931, Bộ luật Dân sự
Trung kỳ năm 1936 ở những mức độ nhất định đã góp phần thúc đẩy sự phát
triển các quan hệ pháp lý với tiệm cận với các giá trị pháp lý phương Tây đương
thời.
Mặc
dù vậy, Luật La Mã, các đạo luật thời Trung đại – cận đại này ở châu Âu và ở
Việt Nam chưa hề đặt ra những hạn chế pháp lý đối với giai cấp cầm quyền – các
vương triều phong kiến, mặc dù có thể thấy, ở đó có những đảm bảo cho sự bình
đẳng trước pháp luật, có những quy định bảo vệ quyền sở hữu tài sản cá nhân vốn
đã từng được thừa nhận từ thời Luật La Mã! Đặt Nhà nước dưới pháp luật, Nhà
nước phải chịu sự giới hạn và ràng buộc bởi pháp luật là yếu tố cốt lõi của một
tư tưởng mới – tư tưởng pháp quyền.
Cùng với việc khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa (CHXHCN) Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân kể từ năm 2001, sau lần sửa đổi Hiến pháp năm
1992, ở Việt Nam đã có bước chuyển rõ ràng về bản chất của nguyên tắc thượng
tôn pháp luật. Điều đó có thể thấy rõ nhất trong các quy định của Hiến pháp
trước đây về nguyên tắc pháp chế XHCN (Điều 12 Hiến pháp năm 1992) đối với bước
chuyển sang nguyên tắc pháp quyền thể hiện ở nội dung Điều 4 Hiến pháp năm 2013
và quy định tại Điều 14 về các quyền con người, quyền công dân được công nhận,
tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm. Tính thượng tôn pháp luật và sự ràng buộc của nó
đối với Nhà nước, các cơ quan của Nhà nước còn được thể hiện một cách nhất quán
thông qua nhiều nguyên tắc mới của pháp luật như nguyên tức suy đoán vô tội;
theo đó, người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh
theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố xét xử, thi
hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh
thần và phục hồi danh dự. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ,
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác
phải bị xử lý theo pháp luật (Điều 31 Hiến pháp năm 2013). Giải mã giá trị của
yếu tố thủ tục chặt chẽ đối với việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân,
càng ngày pháp luật tố tụng của nước ta càng được hoàn thiện. Chẳng hạn, đó là
các quy định về yêu cầu bảo đảm trình tự, thủ tục tố tụng trong Bộ luật Tố tụng
hình sự (TTHS) năm 2015 (Điều 7 và các điều 86, 245, 267, 280, v.v…). Chẳng
hạn, Điều 7 của Bộ luật TTHS năm 2015 yêu cầu: “không được giải quyết nguồn tin
về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình
tự, thủ tục do Bộ luật này quy định”. Khẳng định tính phải chịu ràng buộc
của pháp luật đối với cơ quan công quyền cũng chính là cơ sở cho việc ban hành
và thực hiện trên thực tế Luật Tố tụng hành chính và Luật Trách nhiệm bồi
thường nhà nước. Thượng tôn pháp luật, không có vùng cấm, không ai được đứng
trên pháp luật là quan điểm chủ đạo của toàn bộ công cuộc đấu tranh phòng,
chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay.
Nhà nước pháp quyền đặt mình dưới pháp luật, chịu sự ràng buộc của pháp luật, chính xác!
Trả lờiXóa