Thứ Năm, 13 tháng 10, 2022

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG “CHIÊU LỪA” TRÊN MẠNG

 

          Thời gian gần đây, tình trạng lừa đảo trên internet, mạng xã hội diễn biến phức tạp với nhiều hình thức, thủ đoạn mới xuất hiện. Mặc dù cơ quan chức năng đã cảnh báo trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng các đối tượng lừa đảo ngày càng có nhiều thủ đoạn tinh vi để lôi kéo nên nhiều người vẫn "mắc bẫy".

          Mới đây, một phụ nữ ở quận Cầu Giấy, TP Hà Nội đã mất gần 1 tỷ đồng khi bị lừa làm cộng tác viên bán hàng trên mạng. Cụ thể, theo đơn trình báo của chị N (nhân vật đề nghị giấu tên-PV), chị nhận được một lời mời làm cộng tác viên chạy quảng cáo cho các sàn thương mại điện tử như Tiki, Shopee...

          Sau khi tham gia vào công việc, chị N được hướng dẫn làm nhiệm vụ thanh toán các đơn hàng để được hưởng tiền hoa hồng. Mỗi ngày, chị được giao 7-15 nhiệm vụ với số tiền thưởng dao động từ 20.000 đến 50.000 đồng/nhiệm vụ. Chị N đã dùng tiền trong tài khoản của mình thanh toán nhiều đơn hàng với tổng số tiền là gần 1 tỷ đồng.

          Dù đối tác hứa sẽ trả cho chị N cả tiền ứng thanh toán đơn hàng và tiền hoa hồng khoảng 1,5 tỷ đồng nhưng sau đó, chị N không nhận được gì nên đến cơ quan công an trình báo.

          Một vụ lừa đảo khác, ngày 22-9-2022, Công an quận Cầu Giấy (Hà Nội) đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Khánh Linh (trú tại Đan Phượng, Hà Nội). Theo điều tra, Linh sử dụng tài khoản Facebook “Khánh Linh” đăng bài với nội dung cung cấp dịch vụ nâng hạn mức thẻ tín dụng ngân hàng.

          Ngày 10-9-2022, chị T đọc được bài viết của Linh nên đã nhắn tin đề nghị nâng hạn mức thẻ tín dụng của bản thân từ 50 triệu đồng lên 200 triệu đồng. Đối tượng Linh bảo rằng, để nâng được hạn mức thẻ thì cần phải cung cấp tài khoản và mật khẩu truy cập ứng dụng ngân hàng. Do nhẹ dạ cả tin, chị T đã cung cấp thông tin cho Nguyễn Khánh Linh. Có quyền truy cập vào tài khoản ngân hàng của chị T nên đến tối cùng ngày, khi em gái chị T vừa chuyển 100 triệu đồng vào tài khoản của chị T thì Linh đã chuyển luôn vào tài khoản của mình để chiếm đoạt.

          Tại TP Hồ Chí Minh, trong các ngày 24 và 27-9-2022, Công an huyện Bình Chánh và Công an quận Tân Phú đã triệt phá hai băng nhóm lừa đảo bằng thủ đoạn đóng giả nhân viên ngân hàng dụ dỗ khách hàng vay vốn với lãi suất 0% kèm điều kiện phải mua bảo hiểm. Băng nhóm thứ nhất gồm: Lê Thị Thanh Sáu (trú tại quận Tân Phú, cầm đầu) và Nguyễn Quốc Đạt (trú tại tỉnh Đồng Nai) cùng 6 đối tượng khác; băng nhóm thứ hai do Nguyễn Hồng Thạch (trú tại tỉnh Đồng Nai) điều hành, với sự giúp sức của 82 đối tượng khác.

          Thủ đoạn của hai băng nhóm này là đưa ra thông tin gian dối về việc ngân hàng có cho vay các khoản từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng với lãi suất 0%. Khách hàng chỉ phải đóng phí bảo hiểm tiền vay từ 1,7 triệu đồng đến 3,8 triệu đồng tùy theo số tiền muốn vay. Khi bị hại đồng ý vay và chuyển tiền mua bảo hiểm, các đối tượng gửi bưu phẩm gồm giấy tờ và thẻ ngân hàng cho bị hại.

          Đến khi bị hại ra cây ATM rút tiền mới biết là thẻ giả. Công an TP Hồ Chí Minh khuyến cáo người dân cảnh giác trước các loại hình được quảng cáo là vay tiền nhanh chóng, dễ dàng, giải ngân trong ngày thông qua các trang mạng, mạng xã hội.

          Những lời mời chào vay tiền với thủ tục nhanh gọn, chỉ cần đóng phí bảo lãnh để giải ngân có thể là “bẫy” của các đối tượng lừa đảo. Nếu có nhu cầu vay vốn, người dân nên tìm hiểu kỹ và trực tiếp đến trụ sở, chi nhánh các ngân hàng để được tư vấn, hướng dẫn thủ tục vay tiền nhằm bảo vệ quyền lợi của mình.

          Ngoài những thủ đoạn trên, các đối tượng còn sử dụng nhiều “chiêu trò” khác để lừa đảo, như: Tìm hiểu thông tin qua mạng xã hội về nạn nhân, rồi giả danh cán bộ các cơ quan hành pháp gọi điện để đe dọa, nói nạn nhân có liên quan đến các vụ án, đề nghị cung cấp thông tin để phục vụ công tác điều tra, gợi ý nộp tiền "chạy tội" hoặc cung cấp những thông tin cá nhân để chúng chiếm đoạt phục vụ mục đích lừa đảo; nhiều đối tượng tìm cách chiếm quyền điều khiển tài khoản Facebook, giả danh chủ tài khoản mạng xã hội để lừa vay tiền, mượn tài sản...

          Thủ đoạn của các đối tượng lừa đảo rất tinh vi. Thông qua các hoạt động trên mạng xã hội, chúng tìm hiểu về các mối quan hệ của người bị hại. Tạo các tài khoản giống với bạn bè, người thân của người bị hại. Sau đó nhắn tin, nhờ chuyển khoản, vay tiền.

          Trường hợp anh H (trú tại quận Cầu Giấy, TP Hà Nội) là một điển hình. Anh H nhận được tin nhắn vay tiền từ tài khoản Facebook giống với người thân của anh. Để xác nhận mình nói chuyện với đúng người, anh H yêu cầu người này gọi video thông qua ứng dụng Facebook Messenger. Người này gọi lại và anh H xác nhận đúng là người quen, rồi đồng ý chuyển khoản tiền 50 triệu đồng.

          Sau này, đến hạn trả tiền, anh H liên lạc vào tài khoản Facebook nói trên thì bị chặn. Thấy khả nghi, anh H đến nhà tìm thì mới biết mình bị lừa. Người thân của anh chưa bao giờ liên lạc hay vay tiền. Thì ra, các đối tượng đã sử dụng những hình ảnh trên tài khoản Facebook hiện có của người này để tạo Facebook giả danh, dùng phần mềm giả hình ảnh để gọi điện thông qua ứng dụng Facebook Messenger.

          Theo Trung tá Triệu Mạnh Tùng, Trưởng phòng 6, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Bộ Công an): Không gian mạng tiềm ẩn nhiều loại tội phạm với các thủ đoạn lừa đảo tinh vi, xảo quyệt.

          Người dùng internet và mạng xã hội cần cảnh giác, không cung cấp thông tin cá nhân cho những người và tổ chức không có thẩm quyền, không có địa chỉ rõ ràng. Khi bị "mắc bẫy" lừa đảo, nạn nhân cần liên hệ ngay với cơ quan công an để phối hợp điều tra, xử lý. Đối với những giao dịch chuyển tiền qua ngân hàng, chủ tài khoản cần liên hệ với ngân hàng để tra soát các giao dịch.

          Được biết, Bộ Công an đang phối hợp với các bộ, ngành liên quan như Bộ Thông tin và Truyền thông, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để tăng cường biện pháp quản lý khi cung ứng, phát hành sim điện thoại trả trước và thẻ ngân hàng, nhằm hạn chế tối đa việc sử dụng sim rác và tài khoản ngân hàng vào các hoạt động lừa đảo.

          Tuy nhiên, trước hết, mỗi người phải đề cao cảnh giác, nâng cao hiểu biết pháp luật và trình độ công nghệ thông tin để tránh bị lừa, đặc biệt là không "mắc bẫy" bởi chính lòng tham của mình.

                                                                            Nguồn QĐND

Nhận diện những luận điệu phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 

          Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra đủ thứ quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

          Luận điệu chúng thường rêu rao là “Việt Nam lựa chọn con đường đi lên CNXH là một sai lầm lịch sử”, là ‘ảo tưởng”, là “thiên đường bánh vẽ”. Chúng cho rằng, nếu lấy mốc thời gian tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời thì đến nay, đã gần 200 năm mà CNXH không trở thành hiện thực, bị sụp đổ ngay ở nước Nga-quê hương của V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Một khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại thì ở Việt Nam cũng sẽ bị sụp đổ.

          Một câu hỏi chúng tự đặt ra: “Việt Nam quá độ đi đâu?”, rồi lại tự lèo lái dư luận rằng, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN), lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; đi lên CNXH phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, chặng đường, có sự đấu tranh giữa “cái cũ và cái mới”, thế nên Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam không bao giờ vượt qua được các chặng đường quá độ gian khổ đó và không thể đi đến cái đích của CNXH .

          Sau khi Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, đó chỉ là một thứ “mị dân”. Theo lập luận của chúng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có vai trò lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không đủ khả năng lãnh đạo trong công cuộc phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), vì “những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới là do các nước tư bản đầu tư vào, chứ không phải do năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

          Dưới chiêu trò “bình mới rượu cũ”, các luận điệu nêu trên chủ yếu dựa vào một số lý thuyết chống cộng, chủ nghĩa duy vật máy móc, lý thuyết “hội tụ”, lý thuyết “xã hội hậu công nghiệp”, lý thuyết các nền văn minh... nhằm biện minh cho sự tồn tại của chế độ TBCN, phủ nhận tính khách quan của thời kỳ quá độ đi lên CNXH trong thời đại ngày nay. Không dừng lại ở đó, một số luận điệu còn tinh vi đánh tráo khái niệm, lấy hiện tượng để đánh đồng với bản chất, triệt để lợi dụng sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) để lớn tiếng tuyên truyền “CNXH chỉ là ảo tưởng”; trong khi lại cố tình khuếch trương, thổi phồng những thành quả của chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện đại, mà không thấy rõ bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản và những bất công chưa thể giải quyết tận gốc trong lòng xã hội tư bản hiện nay.

          Mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nhằm gây hoang mang, mất niềm tin, ru ngủ tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân; sâu xa hơn, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá độ bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH ở Việt Nam, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của CNTB.

THƯ CỦA ĐẠI HỘI GỬI CÁN BỘ, ĐOÀN VIÊN, THANH NIÊN TOÀN QUÂN

Các đồng chí cán bộ, đoàn viên, thanh niên thân mến!

Trong không khí thi đua sôi nổi của tuổi trẻ cả nước lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022-2027; trong hai ngày 11 và 12-10-2022, Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Quân đội lần thứ X được tổ chức trọng thể tại Thủ đô Hà Nội.

ĐẶT TRỌN NIỀM TIN

Kính thưa đồng chí Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam!

Thưa các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị!

Kính thưa các mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân!

Thưa các đồng chí đại biểu khách quý, cùng toàn thể đại hội!

NGÀY HỘI TUỔI TRẺ QUÂN ĐỘI

Ngày 12-10, tại Hà Nội, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam long trọng tổ chức Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Quân đội lần thứ X (2022-2027).

VIỆT NAM LUÔN QUAN TÂM PHÁT TRIỂN VĂN HÓA-XÃ HỘI

Chiều 13-10, tại Nhà Quốc hội, tiếp đoàn đại biểu Ủy ban Văn hóa xã hội của Quốc hội Lào, Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh quan điểm phát triển kinh tế phải đi đôi với giữ gìn, chấn hưng văn hóa truyền thống, chăm lo xã hội; nâng cao đời sống vật chất phải đi đôi với nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân.

VIỆT NAM TRÚNG CỬ VÀO HỘI ĐỒNG NHÂN QUYỀN LHQ NHIỆM KỲ 2023-2025

Theo phóng viên TTXVN tại Liên hợp quốc (LHQ), 11h45 ngày 11-10-2022 (22h45 cùng ngày theo giờ Việt Nam), Việt Nam đã trúng cử trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 tại phiên họp của Đại hội đồng LHQ khóa 77 tại New York (Mỹ).

THÀNH TỰU QUYỀN CON NGƯỜI CỦA VIỆT NAM

Chúc mừng Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025, nhà báo nổi tiếng người Indonesia Veeramalla Anjaiah khẳng định đây là “sự công nhận” cam kết của Việt Nam trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người.

THÔNG ĐIỆP VỀ ĐẨY MẠNH CHUYỂN ĐỔI SỐ QUỐC GIA

Sáng 10-10, tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số, dự và phát biểu chỉ đạo tại Chương trình Ngày Chuyển đổi số quốc gia.

TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC VIỆT NAM - BELARUS

Chiều 11-10, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tiếp Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Belarus tại Việt Nam Uladzimir Baravikou.

RA MẮT KÊNH TRUYỀN HÌNH QUỐC GIA KHU VỰC TÂY NAM BỘ

Trong chương trình công tác tiếp xúc cử tri, làm việc tại Cần Thơ, chiều 13-10, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự lễ ra mắt Kênh truyền hình quốc gia khu vực Tây Nam Bộ (VTV Cần Thơ) do Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) tổ chức.

Ý ĐỒ XOÁ MỜ LỊCH SỬ ĐỂ LÀM PHAI NHẠT Ý CHÍ CÁCH MẠNG, LÒNG YÊU NƯỚC VIỆT NAM Tướng Mỹ Macnamara đã rút ra nguyên nhân Mỹ thất bại quan trọng nhất là "không hiểu con người và lịch sử Việt Nam". Họ cay cú và hứa sẽ trở lại sau 20 năm. Nhưng không phải với súng đạn mà bằng đô la? Lịch sử Việt Nam đã được lưu vào sử sách. Muốn thay đổi cũng khó. Chỉ còn cách làm con người Việt Nam trong tương lai quên đi lịch sử của mình. Để làm thay đổi lịch sử Việt Nam, họ mua chuộc, dụ dỗ một số người mang danh "Nhà sử học" núp bóng dưới chiêu bài nghiên cứu lịch sử để xuyên tạc những tấm gương lịch sử, đòi thay đổi cách gọi chính quyền ngụy, tô vẽ các nhân vật phản động, bán nước thành những danh nhân... và cài dần vào sách giáo khoa lịch sử những mầm đ.ộ.c này. Đặc biệt, để người Việt Nam quên đi lịch sử của mình, họ gây ra cả một trận chiến tâm lý coi thường môn Lịch sử, giảm dần vai trò môn Lịch sử trong hệ thống các môn học. Dần dần biến nó thành môn "ai thích học thì học, không thích học thì bỏ đi". Thực hiện âm mưu thâm đ.ộ.c này, nhiều nhà "Cải cách giáo dục Việt Nam" đã ngày đêm viết bài, vận động thay sách giáo khoa hoặc sửa đổi sự thật lịch sử và đỉnh cao là biến môn Lịch sử thành môn tự chọn ở PTTH. Thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam, tiêu diệt tư tưởng của CNXH và CNCS bằng mọi cách là mục tiêu bất di bất dịch của Mỹ và NATO. Tấn công vào hệ tư tưởng CNCS, Mỹ và NATO bắt đầu từ giáo dục. Ý đồ xoá mờ lịch sử của các thế lực thù địch là hòng làm phai nhạt ý chí cách mạng, lòng yêu nước Việt Nam . Ở Việt Nam, song song với việc tấn công vào Lịch sử, họ cũng đồng thời tấn công vào môn Tiếng Việt (Ngữ Văn). Mượn tay các nhà "Cái cách giáo dục", họ tìm mọi cách tác động để sách giáo khoa Tiếng Việt (Ngữ Văn) loại bỏ ra khỏi chương trình giáo dục phổ thông hầu hết những bài viết mang tính lịch sử hoặc những bài thơ văn cách mạng có tính giáo dục cho thanh niên lý tưởng sống cao cả, tình yêu nhân loại cần lao... để đưa vào những bài viết giáo dục lối sống thực dụng của phương Tây. Làm khô héo tâm hồn giới trẻ, biến họ thành những người có lối sống thực dụng, trọng vật chất, ích kỷ cá nhân mà quên đi tình nghĩa, đạo lý… Là người Việt Nam yêu nước, mỗi chúng ta có quyền và trách nhiệm tự hào về lịch sử oai hùng của dân tộc mình gắn liền với lý tưởng, con đường mà Bác Hồ đã chọn, với tình yêu sâu sắc và lòng kiên định như kiềng ba chân. Làm cho Mỹ không bao giờ giải quyết được bài học từ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam!

ASEAN tiếp tục phát huy vai trò trung tâm hợp tác, thúc đẩy liên kết khu vực Đông Á, nhưng vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức tác động không nhỏ đến bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam.

 Ở khu vực Đông Nam Á, tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN tiếp tục được thúc đẩy đi vào chiều sâu, thể hiện ASEAN tiếp tục là khu vực phát triển năng động, ngày càng phát huy vai trò trung tâm trong thúc đẩy liên kết khu vực Đông Á. Tuy nhiên, tranh chấp chủ quyền biển, đảo giữa các nước lớn với một số nước ASEAN, buộc các nước phải chú trọng nhiều hơn đến quốc phòng. Bên cạnh đó, trình độ phát triển không đồng đều, sự khác biệt về lịch sử, văn hóa, thậm chí vấn đề ý thức hệ vẫn còn nặng nề trong một số nước thành viên ASEAN. Sự can dự của các nước lớn cùng với tính toán lợi ích quốc gia, dân tộc riêng rẽ của một số nước cản trở lập trường chung của ASEAN trong giải quyết những vấn đề phức tạp, gây khó khăn trong lựa chọn đối sách, xử lý quan hệ với các nước lớn. Do vậy, các nước lớn lợi dụng và thực thi chính sách chia rẽ, ngoại giao trên thế mạnh, chi phối, làm suy giảm vai trò của ASEAN.

Việt Nam là thành viên đóng vai trò ngày càng quan trọng trong ASEAN và nhiều tổ chức khu vực khác. Trong nhìn nhận của các nước lớn - như ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu - Việt Nam là một trong những nước có ảnh hưởng mang tính “dẫn dắt” trong ASEAN. Do đó, trong chính sách của các nước, nhất là các nước lớn đối với khu vực, Việt Nam có vị trí tương đối quan trọng, được các nước coi là một đối tác cần tăng cường, là nhân tố góp phần kết nối quan hệ của các nước với ASEAN(6). Với nhận thức của các nước về vai trò của Việt Nam nêu trên là điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát huy vị thế, lựa chọn những kế sách phù hợp trong bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.

Tóm lại, tình hình thế giới và khu vực hiện nay và dự báo trong thập niên thứ ba của thế kỷ XXI có những biến đổi phức tạp, nhanh chóng và khó lườngTình hình trên tiếp tục tác động trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vừa tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi mới, vừa mang đến những khó khăn, thách thức lớn đối với nước ta, đòi hỏi cần phải luôn theo dõi, bám sát tình hình, vận dụng phương pháp khoa học để đánh giá đúng bối cảnh quốc tế. Đặc biệt, phải nắm bắt, dự báo được các xu hướng trong quan hệ quốc tế, khu vực cũng như mục tiêu, lợi ích, ý đồ chiến lược của các nước, nhất là các nước lớn, đối với khu vực và Việt Nam để đề ra đường lối, chính sách, sách lược kịp thời, trong đó phải luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết; kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi; kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bất luận trong hoàn cảnh nào cũng cần tìm phương cách để tránh rơi vào thế kẹt giữa các bên./.

Châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục là khu vực phát triển năng động, có vị trí địa kinh tế - chính trị ngày càng quan trọng trên thế giới, nhưng tiềm ẩn nhiều nhân tố bất ổn, tác động đến việc bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam.

 Trong thời gian gần đây, vai trò, sức mạnh và ảnh hưởng của châu Á - Thái Bình Dương đang ngày càng tăng lên khi các nền kinh tế trong khu vực có sự phục hồi và phát triển tích cực mặc dù chịu tác động của đại dịch COVID-19. Theo nhận định của Giám đốc Viện Nghiên cứu kinh tế quốc tế Ph. Béc-xten, trong nền kinh tế toàn cầu, vai trò của khu vực châu Á đã được tăng cường trong 20 năm qua và tiếp tục được củng cố trong hai thập niên tới(3). Trong tương lai, với các đặc điểm như số lượng lao động và nhu cầu thị trường lớn với những quốc gia là thị trường mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước ASEAN, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú ở Trung Quốc, khu vực Viễn Đông của Nga, Đông Nam Á, công nghệ cao và kinh nghiệm quản lý của các nước tư bản phát triển như Mỹ, Nhật Bản..., cơ hội tập hợp của các nền kinh tế này sẽ giúp mở rộng không gian tăng trưởng kinh tế châu Á - Thái Bình Dương.

Cùng với sức hút đặc biệt về kinh tế, ảnh hưởng trên lĩnh vực an ninh - chính trị của khu vực đến an ninh quốc tế cũng ngày càng tăng. Châu Á - Thái Bình Dương tập trung 3 trong số 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, đồng thời là nơi hiện diện và tập trung nhiều lợi ích và ưu tiên chiến lược của tất cả các nước lớn trên thế giới. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới và đóng vai trò ngày càng lớn đối với các vấn đề chính trị toàn cầu(4). Tại khu vực đã xuất hiện một số sáng kiến liên kết và thỏa thuận đa phương không chỉ có nội dung kinh tế - thương mại mà còn mang ý nghĩa tập hợp lực lượng về chính trị, chiến lược và an ninh(5); các diễn đàn hợp tác, như Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) có xu hướng mở rộng nội dung hợp tác sang các vấn đề an ninh, chính trị... Sự hiện diện của nhiều nước lớn thúc đẩy quan hệ hợp tác trong và ngoài khu vực phát triển mạnh mẽ, hình thành các liên kết song phương và đa phương, góp phần duy trì xu thế hòa bình, kiềm chế xung đột, ngăn ngừa chiến tranh.

Tập hợp lực lượng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương ngày càng linh hoạt, chịu tác động lớn bởi sự điều chỉnh chính sách của Mỹ, Trung Quốc và những chuyển động trong quan hệ Mỹ - Trung Quốc. Hợp tác đi cùng với va chạm lợi ích và cạnh tranh ảnh hưởng giữa các cường quốc, đặc biệt là giữa hai nước đã và đang diễn ra một cách phức tạp, toàn diện ở khu vực. Kể từ thời điểm Tổng thống Mỹ Đô-nan Trăm lên nắm quyền (tháng 1-2017) đến nay, Mỹ công khai xác định Trung Quốc là “đối thủ cạnh tranh chiến lược” và thách thức an ninh lớn nhất của Mỹ. Trên cơ sở đó, Mỹ triển khai nhiều nội dung, biện pháp chiến lược để cạnh tranh vai trò lãnh đạo khu vực với Trung Quốc, đặt khu vực trước những cơ hội và thách thức an ninh mới. Chiều hướng này còn tiếp tục trong thời gian tới và tác động không nhỏ tới chính sách và an ninh của các nước.

Mặc dù hòa bình, ổn định vẫn là xu thế chủ đạo tại châu Á - Thái Bình Dương, song tình hình khu vực cũng có nhiều diễn biến phức tạp, trong đó, mặc dù quan hệ kinh tế ngày càng phát triển và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng nhưng quan hệ chính trị giữa các nước trong khu vực, đặc biệt là các cường quốc, vẫn chứa đựng nhiều nhân tố bất ổn định và những mâu thuẫn có thể bùng phát thành xung đột, đó là: 1- Các tranh chấp biên giới - lãnh thổ tại khu vực, nhất là tranh chấp biển, đảo tại Biển Đông và biển Hoa Đông, trở nên phức tạp hơn, trở thành nguy cơ gây mất ổn định khu vực, ảnh hưởng tới việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải, đe dọa lợi ích chung của các nước trong và ngoài khu vực; 2- Tình hình nội trị nhiều nước diễn biến phức tạp, nhân tố chủ nghĩa dân tộc nổi lên tác động đến quyết sách đối nội và đối ngoại của nhiều nước; 3- Các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống trở nên gay gắt hơn trong khi khu vực vẫn chưa có cơ chế hữu hiệu để đối phó với các nguy cơ này; 4- Khu vực xuất hiện nhiều cấu trúc hợp tác quốc phòng, nhưng thiếu một cơ chế hữu hiệu để ngăn ngừa và xử lý các thách thức an ninh, tranh chấp, xung đột.

Việt Nam là cầu nối giữa vùng kinh tế biển và kinh tế lục địa ở châu Á. Biển Đông là nơi cạnh tranh gay gắt giữa các nước lớn, cả trước mắt và lâu dài để bảo đảm an ninh, an toàn tự do hàng hải, hàng không trên tuyến vận tải quốc tế; có vị trí quan trọng trong chiến lược của các nước lớn. Do vậy, các nước lớn muốn lôi kéo Việt Nam trong thực hiện chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Những chuyển động của khu vực châu Á - Thái Bình Dương tạo cơ hội để Việt Nam mở rộng quan hệ và tận dụng nguồn lực từ bên ngoài, góp phần nâng cao sức mạnh quốc gia của Việt Nam. Tuy nhiên, những nhân tố bất ổn như tình hình Biển Đông đã và đang ảnh hưởng lớn đến việc bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ biển, đảo và lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam. Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) quy định cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền biển, đảo, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức, tranh chấp về phân định các vùng biển chồng lấn, đòi hỏi phải đấu tranh khẳng định và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Việt Nam với gần 100 triệu dân, có kinh nghiệm, truyền thống lịch sử, có sức mạnh, vị thế trên trường quốc tế, luôn kiên định đường lối độc lập, tự chủ, nhưng cũng chịu sức ép rất lớn từ các thách thức trong khu vực và trên thế giới.

Nhiều vấn đề có tính toàn cầu nổi lên, tác động mạnh tới nhận thức và quan hệ của các nước nói chung, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam nói riêng.

 Ngày nay, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin... là những vấn đề mang tính toàn cầu nổi lên và đây là những nhân tố tích cực thúc đẩy tiến bộ của thời đại. Đặc biệt, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục phát triển mạnh mẽ, mở ra một thời đại mới về phát triển lực lượng sản xuất, dẫn tới sự thay đổi nền tảng trên mọi mặt của đời sống chính trị - xã hội của các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ do mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên, can thiệp lật đổ, khủng bố tiếp diễn phức tạp; các điểm nóng vẫn tồn tại và mở rộng ở nhiều khu vực trên thế giới. Bên cạnh đó, cộng đồng quốc tế phải đối phó ngày càng quyết liệt hơn với các thách thức an ninh phi truyền thống, như an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh tài chính, an ninh mạng, khủng bố vũ trang, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh... đang tiếp tục diễn biến phức tạp, đe dọa nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững của nhiều quốc gia. Đây là những vấn đề không một quốc gia nào có thể tự giải quyết mà cần sự chung tay của cộng đồng quốc tế.

Việt Nam có vị trí địa lý đặc thù, chịu tác động nặng nề từ các thách thức an ninh phi truyền thống, ảnh hưởng lớn đến nguồn lực, xây dựng lực lượng, thế trận phòng thủ, các mặt bảo đảm cho hoạt động của lực lượng vũ trang trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thời bình và khi có chiến tranh. Chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng ngày càng bị các thế lực thù địch, phản động sử dụng rộng rãi để xâm phạm chủ quyền, an ninh, lợi ích quốc gia, phá hoại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chi phối, tác động lớn đến chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của Việt Nam. Tuy nhiên, với sự ổn định về chính trị, thế và lực của Việt Nam ngày càng gia tăng trên trường quốc tế, do vậy, cộng đồng quốc tế đánh giá cao vai trò của Việt Nam trong hợp tác cũng như tham gia xử lý các vấn đề mang tính toàn cầu; đồng thời, là nước có sự phát triển nhanh về công nghệ thông tin nên Việt Nam có những điều kiện thuận lợi để tiếp cận công nghệ, tranh thủ thị trường, tham gia mạng lưới sản xuất và chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, cũng như ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ mới, tạo sức đột phá mới trong phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng - an ninh, góp phần tích cực trong việc bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong tình hình mới.

Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa bảo hộ và sự phụ thuộc của các nước đang phát triển, nước nhỏ vào nước lớn có xu hướng gia tăng, tác động không nhỏ đến vấn đề bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.

 Dự báo đến năm 2030, tình hình thế giới, khu vực có thể tiếp diễn các xu thế lớn của những năm qua, nhưng phạm vi, quy mô, mức độ và tính chất có những biểu hiện khác trước. Tình hình sẽ diễn biến phức tạp, khó lường, song hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo. Đấu tranh giai cấp và quan hệ quốc tế tiếp tục diễn ra với nhiều hình thức mới. Thay vì sự phân hóa sâu sắc như trong thời kỳ Chiến trạnh lạnh, trong những năm tới, các quốc gia tham gia tiến trình hội nhập ngày càng đông đảo, qua đó xuất hiện ngày càng nhiều các cấu trúc an ninh, hợp tác đa tầng nấc, theo cả trục dọc và trục ngang, cả ở quy mô tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực và toàn cầu. Hội nhập quốc tế ngày càng mở rộng, khiến sự tùy thuộc, ràng buộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia ngày càng gia tăng. Vì lợi ích địa - chính trị, địa - kinh tế, nhiều nước gác lại tranh chấp, đối đầu để cùng hợp tác, khai thác thế mạnh của nhau nhằm chia sẻ lợi ích. Thậm chí, một số quốc gia có sự khác nhau về hệ tư tưởng, chế độ chính trị cũng bỏ qua những khác biệt này để không chỉ hợp tác mà còn sẵn sàng trở thành “đồng minh” tạm thời của nhau trong xu thế tập hợp lực lượng mới. Mặc dù các cường quốc tiếp tục đóng vai trò chính trong quan hệ quốc tế, các quốc gia nhỏ và vừa sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tham gia các vấn đề thế giới, khu vực. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các yếu tố “công bằng”, “dân chủ” trở thành các chuẩn mực trong quan hệ quốc tế đương đại; ngược lại, những chuẩn mực trong các mối quan hệ, hợp tác, hay các cách thức giải quyết các vấn đề quốc tế vẫn sẽ do các cường quốc đóng vai trò quyết định. Mặt khác, cùng với tác động của đại dịch COVID-19, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa bảo hộ và sự phụ thuộc của các nước đang phát triển, nước nhỏ vào nước lớn có xu hướng gia tăng cũng làm cho tính phức tạp của thế giới đương đại đa dạng và khó đoán định.

Trước các xu hướng trên, Việt Nam vận dụng hiệu quả đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi(2). Bên cạnh đó, những tác động tiêu cực do chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa bảo hộ mang lại đối với Việt Nam là không hề nhỏ, đòi hỏi cần có những đối sách phù hợp nhằm hạn chế những tác động này để không ngừng bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.

Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, nhất là cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc, diễn ra ngày càng gay gắt, phức tạp, tác động đến hòa bình, ổn định và quan hệ quốc tế của nhiều nước, trong đó có Việt Nam.

 Trong thời gian qua, thế giới chứng kiến các nước lớn có sự cạnh tranh chiến lược gay gắt, phức tạp, đặc biệt cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc diễn ra một cách trực tiếp, toàn diện. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, gia tăng sức mạnh quân sự, tiếp tục can dự, chi phối an ninh, chính trị thế giới, khu vực và các nước khác. Các nước lớn kết hợp răn đe quân sự với các biện pháp kinh tế, văn hóa, chính trị, ngoại giao, tạo “sức mạnh mềm”, sẵn sàng can thiệp vũ trang, tấn công các nước nhỏ bằng các biện pháp vũ trang và phi vũ trang, buộc các nước phải khuất phục, thay đổi chế độ chính trị... Vai trò của luật pháp quốc tế, thể chế quốc tế tăng lên, nhưng một số nước lớn vẫn đang tìm cách thay đổi “luật chơi” trong quan hệ quốc tế. Ranh giới giữa chiến tranh và hòa bình, môi trường chiến lược diễn biến ngày càng phức tạp, thúc đẩy chạy đua vũ trang. Do yêu cầu phát triển kinh tế, nhất là để vượt qua khủng hoảng bởi tác động của đại dịch COVID-19, các nước đẩy nhanh tốc độ khai thác tài nguyên thiên nhiên, từ đó làm trầm trọng thêm vấn đề môi trường và gia tăng thách thức đối với phát triển bền vững. Sự khan hiếm tài nguyên thúc đẩy các nước lớn tiến hành chính sách “ngoại giao tài nguyên” một cách mạnh mẽ hơn. Cuộc chạy đua về kiểm soát tài nguyên giữa các cường quốc khiến cho môi trường an ninh, chính trị quốc tế thêm căng thẳng.

Không chỉ vậy, nhằm tạo dựng các trục hợp tác bao vây, kiềm chế Trung Quốc, Mỹ triển khai chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, thúc đẩy nhanh và mạnh mẽ hơn quá trình tập hợp lực lượng ở khu vực; tìm cách lôi kéo các đối tác khác trong khu vực. Trong khi đó, Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh lôi cuốn các nước tham gia Sáng kiến “Vành đai, Con đường” nhằm mở rộng ảnh hưởng chính trị, lợi ích của mình; ngăn chặn, phá thế bao vây, kiềm chế của Mỹ và các đồng minh của Mỹ. Điều này tạo nên áp lực không nhỏ đối với các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam trước việc “chọn bên”. Các nước lớn có thể sẽ sử dụng vai trò, ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế để gây sức ép đối với các nước trong khu vực, nhất là trong các tổ chức quốc tế và khu vực mà những nước này đóng vai trò chủ đạo. Bên cạnh sự cạnh tranh gay gắt, không loại trừ các nước lớn thỏa hiệp với nhau, ảnh hưởng đến lợi ích của các nước vừa và nhỏ, trong đó có Việt Nam.

Trật tự đa cực đang hình thành ngày càng rõ nét cho phép Việt Nam có điều kiện để thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong quan hệ quốc tế và lựa chọn những kế sách phù hợp để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.

 Thực tiễn tình hình quốc tế cho thấy, kể từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc cho tới một vài thập niên tới, thế giới đang trong quá trình hình thành cấu trúc trật tự mớiTrật tự hiện nay không còn là đơn cực nhưng vẫn chưa phải đa cực(1). Tuy sức mạnh của Mỹ trong tương quan so sánh với phần còn lại của thế giới không còn cho phép Mỹ có khả năng áp đặt thế giới theo ý chí của riêng mình, nhưng sự ra đời và tồn tại của các trung tâm quyền lực khác, như Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ, Liên minh châu Âu (EU)... vẫn chưa đủ khả năng định hình trật tự đa cực. Cấu trúc “nhất siêu, đa cường” vẫn tồn tại và ngôi thứ giữa các nước lớn không có nhiều thay đổi, song khoảng cách so sánh lực lượng giữa các nước lớn, nhất là giữa Mỹ và Trung Quốc, có sự thay đổi nhanh chóng. Trật tự đa cực và sức mạnh tổng hợp quốc gia của các cường quốc đứng đầu, nhất là Mỹ và Trung Quốc, ngày càng có xu hướng “cân bằng”, buộc các nước phải “cân nhắc” hành vi của mình do lo ngại về phản ứng của các nước khác. Chính điều đó mang lại lợi ích không nhỏ cho hòa bình, ổn định và phát triển của thế giới và khu vực.

Cục diện thế giới trên cho phép Việt Nam có điều kiện lựa chọn những kế sách phù hợp trong bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến” để không bị chi phối trong quan hệ quốc tế, giảm sức ép của các nước lớn; thúc đẩy quan hệ với nhiều đối tác, nhất là các nước lớn, trên các vấn đề lợi ích chiến lược; qua đó, kiềm chế, đẩy lùi âm mưu, ý đồ và hành động xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ, thực hiện “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với Việt Nam.

Những luận điệu xuyên tạc kệch cỡm

 


Đến nay,  tất cả 63 tỉnh, thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đang xuyên tạc trắng trợn chủ trương đúng đắn này. Chúng nhận định bừa rằng "việc thành lập càng nhiều ban bệ thì càng tham nhũng hơn, thêm một cấp là thêm tham nhũng...". Thực tế đã cho thấy rõ những luận điệu trên của thế lực thù địch là hoàn toàn sai trái, kệch cỡm.

Xuyên tạc trắng trợn, bất chấp thực tế

Bất chấp hiệu quả của công tác đấu tranh PCTN, TC tại Việt Nam thời gian qua được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận, các thế lực thù địch, phản động vẫn cố tình đăng tải, chia sẻ nhiều thông tin sai trái, xuyên tạc, suy diễn, quy chụp chủ trương của Đảng thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC. Đặc biệt, các tổ chức phản động như Việt Tân, Hội Anh em dân chủ; các hãng truyền thông nước ngoài và các chương trình có phát sóng bằng tiếng Việt như RFA, VOA, RFI, BBC... tán phát nhiều bài viết, hình ảnh xuyên tạc, công kích, đả phá kịch liệt chủ trương thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC của Đảng, Nhà nước ta.

Đài Á Châu Tự Do (RFA), Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA)... đưa ra luận điệu: “Vì sao “lò” chống tham nhũng đang cháy mà hàng loạt cán bộ cao cấp vẫn không sợ?”. Những kẻ thiếu tử tế vu khống rằng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực tại Việt Nam thực chất là việc các phe phái tranh quyền để triệt hạ nhau dưới vở kịch chống tham nhũng. Họ hồ đồ cho rằng, "trên thế giới này, không có quốc gia nào mà người dân lại phải còng lưng đóng thuế để nuôi nhiều cơ quan chống tham nhũng đến vậy"... Hoặc "hơn 10 năm chống tham nhũng, càng chống thì càng tham nhũng, vụ sau lớn hơn vụ trước cả về số tiền của và quan chức với chức vụ cao hơn, diễn ra ở nhiều ngành, nhiều cấp...".

Cá biệt, có đối tượng còn đưa ra luận điệu xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ rằng, chính quyền sinh ra tham nhũng rồi lại thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC thì chỉ để làm khổ người dân mà thôi; không cần thiết và tốn tiền, tốn của. Từ đó chúng hô hào, kêu gọi: Muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi chế độ, phải “đa nguyên, đa đảng”, phải thực hiện cái gọi là “xã hội dân sự”, “tam quyền phân lập”...

Hiệu quả rõ ràng của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Đầu tiên có thể thấy rõ ràng rằng, công tác PCTN, TC ở Việt Nam thời gian qua có nhiều bước đột phá mạnh mẽ, mang lại hiệu quả, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Theo thông tin được công bố sau Phiên họp thứ 22 của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC, thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách lớn về xây dựng Đảng và PCTN, TC được ban hành tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động. Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán được đẩy mạnh. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vi phạm, cả cán bộ cấp cao, đương chức và nghỉ hưu bị xử lý nghiêm minh. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay đã thi hành kỷ luật cán bộ liên quan đến tham nhũng, tiêu cực ở các cấp, trong đó có 56 cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, có 10 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng.

Thời gian qua, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã chỉ đạo triển khai khá toàn diện, đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp để xây dựng, hoàn thiện thể chế về PCTN, TC cả trong Đảng và Nhà nước. Từ nghiên cứu, ban hành mới đến rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện một số quy định của Đảng và các quy định của pháp luật còn bất cập hoặc chưa phù hợp với thực tiễn, để kịp thời bổ sung, điều chỉnh; từng bước hình thành khuôn khổ pháp lý vững chắc để cán bộ không thể tham nhũng, tiêu cực. Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã từng bước gắn kết đồng bộ giữa phòng, chống tham nhũng với phòng, chống tiêu cực. Nếu như ở các nước chỉ có quy định, chế tài xử lý các hành vi tham nhũng, thì tại Việt Nam hiện nay đã có cả quy định, chế tài xử lý các hành vi tiêu cực. Đó là một bước tiến vượt trội!

Từ đầu năm 2022 đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã ban hành gần 30 văn bản về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và PCTN, TC. Đặc biệt, việc ban hành Quy định số 69-QĐ/TW, ngày 6-7-2022 của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm và Hướng dẫn số 25-HD/BCĐTW, ngày 1-8-2022 của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC hướng dẫn một số nội dung về công tác phòng, chống tiêu cực đã hình thành cơ chế đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực ngày càng đồng bộ, thống nhất, chặt chẽ.

Trong 6 tháng đầu năm 2022, Quốc hội đã thông qua 6 dự án luật; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 44 nghị định, 15 quyết định; các bộ, ngành ban hành 216 thông tư, thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý kinh tế-xã hội, kịp thời thể chế hóa các đường lối, chủ trương của Đảng, góp phần phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực. Bên cạnh đó, Quốc hội, Chính phủ cũng đang chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đến việc đấu thầu, đấu giá, quy hoạch, quản lý, sử dụng đất, tài sản công, tài chính công, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp,... theo đề xuất của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC.

Những luận điệu cho rằng chỉ có “đa nguyên, đa đảng”, “tam quyền phân lập” mới chống được tham nhũng thật nực cười. Bởi nếu chỉ đơn giản vậy, sao nhiều quốc gia được gọi là “đa nguyên, đa đảng”, “xã hội dân sự”, “tam quyền phân lập” mà tham nhũng vẫn tràn lan? Tại sao với chế độ một đảng lãnh đạo, Việt Nam vẫn đang thực hiện hiệu quả công tác PCTN, TC? Có thể thấy, thực tế kết quả công tác PCTN, TC tại Việt Nam thời gian qua đã khiến những luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch trở nên kệch cỡm.

Bảo đảm công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chặt chẽ, thông suốt

Việc thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC là thực sự cần thiết, phù hợp với thực tiễn hiện nay. Việc làm này thể hiện rõ quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh PCTN, TC ở mọi cấp, mọi ngành, thực hiện cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC được thành lập sẽ góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương công tác PCTN, TC, thể hiện tinh thần "trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt", khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Ban chỉ đạo cấp tỉnh là cánh tay nối dài của Ban chỉ đạo Trung ương nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng, bảo đảm cho công tác đấu tranh PCTN, TC được liền mạch, chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương; kịp thời giải quyết những vướng mắc, bức xúc của nhân dân về tham nhũng, tiêu cực và đưa công tác này tiến lên một bước mới.

Vì vậy, cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng hơn nữa trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, kiều bào ta ở nước ngoài, cộng đồng quốc tế về những thành tựu đạt được trong PCTN, TC ở Việt Nam; về sự cần thiết phải thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC, từ đó củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân. Cùng với đó, cần tỉnh táo nhận diện và bác bỏ các luận điệu sai trái của các thế lực phản động, thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam.

PCTN, TC là cuộc đấu tranh lâu dài, gian nan, vất vả để chống “giặc nội xâm”. Để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này, không được chủ quan, không nóng vội, không được thỏa mãn và né tránh, cầm chừng mà phải thật kiên trì, đấu tranh không ngừng, không nghỉ; vừa phải kiên quyết phát hiện, xử lý tham nhũng, vừa phải kiên trì giáo dục, quản lý, ngăn ngừa, răn đe, không để xảy ra tham nhũng; đồng thời phải cảnh giác, đấu tranh với những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng đấu tranh PCTN, TC để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Xây dựng phòng tuyến văn hóa đủ sức ngăn ngừa những tác phẩm lệch lạc, xấu độc

 


Đảng, Nhà nước ta và các cơ quan quản lý không hạn chế, kìm hãm tư duy sáng tạo nghệ thuật của văn nghệ sĩ, nhưng định hướng, mong muốn, khuyến nghị các văn nghệ sĩ cần đặt những sản phẩm sáng tạo-những thành quả lao động nghệ thuật-vào đúng vị trí của nó và phù hợp với các giá trị chuẩn mực của cộng đồng, xã hội.

Trong bối cảnh thông tin bùng nổ hiện nay, cần thực hiện nhiều giải pháp để xây dựng phòng tuyến văn hóa đủ sức ngăn ngừa hiệu quả những hệ lụy tiêu cực từ các tác phẩm VHNT có nội dung thấp kém, xấu độc. Giải pháp có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là tiếp tục quán triệt sâu sắc, thực hiện hiệu quả những định hướng của Đảng về VHNT gắn với phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới.

Đặc biệt chú trọng quán triệt và thực hiện tốt nội dung Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) "Về tiếp tục xây dựng và phát triển VHNT trong thời kỳ mới" và những chương trình, kế hoạch về phát triển văn hóa, VHNT mà các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương và chính quyền các địa phương đã xác định.

Coi trọng và phát huy vai trò, trách nhiệm của những người làm nhiệm vụ “gác cổng nghệ thuật”, những cơ quan trực tiếp làm công tác biên tập, xuất bản, phát hành, tránh để những sản phẩm phi nghệ thuật được xuất bản, phát tán, lưu hành trong đời sống xã hội. Các cơ quan quản lý, cơ quan biên tập, xuất bản phải thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác biên tập; phối hợp chặt chẽ với cơ quan liên quan để phân tích, sàng lọc và nắm được tư tưởng văn nghệ sĩ thông qua sản phẩm sáng tạo.

Bên cạnh đó, những người làm công tác quản lý VHNT phải thực sự nhạy bén trong nhận định, đánh giá tác phẩm nghệ thuật, biết phân biệt rõ những tác phẩm nghệ thuật chân chính với những sản phẩm “núp bóng nghệ thuật” được tạo ra bởi tư duy thấp hèn, phục vụ những lợi ích cá nhân không lành mạnh và mang động cơ đen tối.

Đối với đội ngũ văn nghệ sĩ và cán bộ, đảng viên, cần nhận thức đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của VHNT trong đời sống tinh thần của nhân dân. Lĩnh vực VHNT là một mặt trận mà những “chiến sĩ văn hóa” cần đem hết tài năng, trí tuệ và nhiệt huyết của mình để cống hiến, sáng tạo những tác phẩm VHNT có giá trị.

Cùng với đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần đấu tranh với những tác phẩm “núp bóng văn hóa”, những tác phẩm phi nghệ thuật và những cuốn sách có tư tưởng lệch lạc, ý đồ chống phá Đảng, Nhà nước, bôi nhọ lịch sử dân tộc, ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng, nhận thức, tình cảm của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.

Chúng ta tôn trọng sự tự do sáng tạo nhưng phải quan tâm bồi dưỡng tư tưởng chính trị, quan điểm, lập trường cho văn nghệ sĩ. "Lá, cành" của "cây xanh" văn nghệ sĩ phải luôn "quang hợp" ánh sáng lý tưởng cách mạng, nếu không, "cây" sẽ bị héo và "quả" sẽ sài đẹn. Lịch sử nghệ thuật cho thấy, các nghệ sĩ lớn luôn tự do sáng tạo theo một xu hướng nhất định.

Sáng tạo VHNT theo những nguyên lý cơ bản của mỹ học Mác-xít là sáng tạo theo tinh thần nhân văn, tiến bộ, phù hợp với quy luật tư tưởng và tình cảm tâm lý tiếp nhận của con người. Sứ mệnh cao cả nhất của văn nghệ sĩ là tự do sáng tạo vì nước, vì dân, vì chủ nghĩa xã hội, vì những phẩm giá tốt đẹp của con người và giá trị chân, thiện, mỹ của xã hội.

Trong xã hội hiện đại, để góp phần cho VHNT đi đúng hướng và có sức sống dồi dào, sức lan tỏa sâu rộng, các cơ quan chức năng và các hội chuyên ngành VHNT cần tiếp tục tổ chức các chuyến đi thực tế để văn nghệ sĩ có điều kiện tìm hiểu kỹ hơn về đời sống xã hội, từ đó có những cảm nhận vui buồn, cảm thông và chia sẻ với các tầng lớp nhân dân, nhất là người lao động.

Vốn sống của văn nghệ sĩ không chỉ loanh quanh trong một cơ quan, địa phương, ngành nghề mà phải vươn ra khắp mọi miền Tổ quốc. Sinh thời, nhà văn Nam Cao từng nhấn mạnh: “Sống đã rồi hãy viết”.

Vì lẽ đó, việc duy trì tổ chức những chuyến đi thực tế để các văn nghệ sĩ được sống, được hít thở, được đập cùng nhịp đập trái tim của nhân dân ở mọi lúc, mọi nơi trên đất nước Việt Nam sẽ góp phần giúp họ am hiểu cuộc đời, biết chắt lấy tinh hoa đời sống để xây dựng mô hình, chất liệu, sức sống cho tác phẩm VHNT.

Đẩy lùi những tác phẩm “núp bóng nghệ thuật” làm tha hóa tư tưởng con người

 


Lợi dụng các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Zalo, YouTube và lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí, một số “văn tài tha hóa” đã cho ra đời những sản phẩm "núp bóng tác phẩm nghệ thuật", làm tha hóa tư tưởng con người và tác động tiêu cực đến đời sống tinh thần xã hội.

Văn nghệ sĩ tha hóa sẽ cho ra những đứa con tinh thần lạc lối, nguy hại

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”(1). Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, những văn nghệ sĩ yêu nước đã sử dụng một loại vũ khí có sức mạnh “thanh cao mà đắc lực”-thứ vũ khí không được chế tác bằng kim loại, không gây sát thương, nhưng mang lại hiệu quả chiến đấu to lớn, góp phần làm nên những chiến thắng lẫy lừng của dân tộc Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ở thế kỷ 21.

Nhà thơ Sóng Hồng(2) đã viết: “Dùng bút làm đòn xoay chế độ/ Mỗi vần thơ: Bom đạn phá cường quyền” ("Là thi sĩ"). Những vần thơ như thay cho lời khẳng định về giá trị, vị trí, vai trò của VHNT trong kháng chiến giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta xác định, VHNT là lĩnh vực rất quan trọng để bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, hoàn thiện nhân cách, đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh của con người. Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) khẳng định: “VHNT là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hóa; là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là một trong những động lực to lớn, trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam...

VHNT Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế phải phát triển toàn diện và mạnh mẽ, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ”(3).

Ngày nay, trong điều kiện đất nước phát triển, đặc biệt là sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tư duy sáng tạo văn học cũng như tâm lý học sáng tạo nghệ thuật của văn nghệ sĩ đã được đổi mới, mở rộng và phát triển mạnh mẽ, hội nhập cùng với xu hướng hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới. Cũng từ đó, VHNT ngày càng có cách nhìn phóng khoáng hơn, biên độ sáng tạo được mở rộng hơn, hệ thống tiếp nhận cũng được định hình theo sự phân tầng của tư duy nghệ sĩ; góp phần đổi mới, đa dạng hơn về đề tài, nội dung tư tưởng.

Tuy nhiên, thời gian qua xuất hiện một số văn nghệ sĩ đã bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo, mua chuộc; hay thậm chí chính họ bị tha hóa về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Những đối tượng này thành lập các hội, nhóm, “sáng tạo” ra một thứ nghệ thuật đồi trụy "núp bóng" văn hóa, văn chương; tạo ra những cái gọi là “tác phẩm nghệ thuật” thiếu chuẩn mực, thiếu đạo đức, chà đạp truyền thống lịch sử, làm ô uế thuần phong mỹ tục của dân tộc với những tư duy lệch lạc, những câu chuyện rẻ rúng, những thứ ngôn từ thô tục... để phủ nhận thành quả cách mạng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đổ biết bao xương máu mới giành được.

Thậm chí, “tác phẩm nghệ thuật” ấy được lồng ghép và tạo dựng những hình ảnh dung tục với một lối tư duy phi truyền thống, phi văn chương, phi nghệ thuật, phi chính trị... nhằm mục đích tuyên truyền, kích động, bôi nhọ lịch sử, bôi nhọ lãnh tụ, bôi nhọ anh hùng dân tộc, bôi nhọ nền tảng truyền thống văn hóa ngàn đời của dân tộc...

Ví như những cuốn sách: “Bên kia bờ ảo vọng”, “Một cơn gió bụi”, “Tây Hùng Vương”, “Mối chúa”, “Đất mồ côi”... làm cho người tiếp nhận, nhất là thế hệ trẻ bị hoang mang, dẫn đến nhận thức lệch lạc, đánh mất niềm tin vào cuộc sống, trật tự xã hội bị đảo lộn, tư duy con người bị xô lệch, mất phương hướng.

Xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam - điều vô lý, không thể chấp nhận

 


Một thực tế không thể phủ nhận đó là kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng (XD,CĐĐ) đạt được trong thời gian qua không những được cán bộ, đảng viên và nhân dân ta ghi nhận, đánh giá cao mà còn khẳng định XD, CĐĐ là vấn đề có tính nguyên tắc và mang tính chiến lược để Đảng ta có đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Thế nhưng, các thế lực thù địch phớt lờ điều ấy, chúng còn ra sức công kích vấn đề có tính nguyên tắc và chiến lược này.

1. Với tâm địa đen tối, cái nhìn hằn học, các thế lực thù địch cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã quá khôn ngoan khi đưa vấn đề xây dựng Đảng thành vấn đề then chốt nhưng đó chỉ là kiểu “giật gấu vá vai”. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”. Là một công việc bình thường trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vậy mà mỗi khi Đảng ta kỷ luật một số cán bộ cao cấp trong bộ máy Đảng, Nhà nước có vi phạm, trên một số đài, báo nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam như: BBC, RFA, RFI, VOA... và các trang mạng xã hội phản động, nhất là tổ chức Việt Tân luôn xuyên tạc rằng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam là “thanh trừng phe phái” hay “tính hiệu quả không thể cao khi người dân đứng ngoài cuộc chiến chống suy thoái”, cho rằng việc xử lý cán bộ vi phạm để “tăng cường quyền lực cho khối nội chính, tuyệt đối hóa quyền lực của Đảng”, v.v.. Thực ra, những nhận định này là hồ đồ và xuyên tạc vì công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc làm thường xuyên, liên tục của Đảng để “cơ thể Đảng” thường xuyên khỏe mạnh, có khả năng “đề kháng”, “miễn dịch” trước sự chống phá của các thế lực thù địch.

Từ lý luận và thực tiễn đều chứng minh một vấn đề có tính nguyên tắc và mang tính chiến lược, đó là Đảng phải thường xuyên được xây dựng, chỉnh đốn để Đảng thực sự là đạo đức, là văn minh, đủ sức và xứng đáng với vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước, dân tộc. Trước yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, công tác XD, CĐĐ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh ngày càng cấp thiết, bởi lẽ, đất nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới. Điều đó càng đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục đổi mới, vươn tầm trí tuệ, Đảng phải được xây dựng vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ. Do vậy, không thể có chuyện việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở nước ta là “giật gấu vá vai” như ai đó đã từng rao giảng. Thực tiễn đã chứng minh, càng làm tốt công tác XD, CĐĐ bao nhiêu thì Đảng ta ngày càng vững mạnh bấy nhiêu, luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.

2. Vì sao xây dựng, chỉnh đốn Đảng là vấn đề có tính nguyên tắc? Điều này được xác định ngay từ khi Đảng ra đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là một tất yếu khách quan, gắn chặt với quá trình phát triển, trưởng thành của sự nghiệp cách mạng; Đảng là một tổ chức sống trong lòng xã hội, một bộ phận hợp thành cơ cấu của xã hội. Tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ chức vụ trong Đảng, Nhà nước luôn chịu sự tác động, ảnh hưởng từ môi trường xã hội cả những cái tốt, tích cực, tiến bộ, cả những cái xấu, tiêu cực và lạc hậu.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội thì vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng càng phải quan tâm nhiều hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định, nếu không làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì “... một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(1). Do vậy, đối với những cán bộ, đảng viên nắm giữ quyền lực càng phải đề cao ý thức, trách nhiệm trong XD, CĐĐ. Nó không chỉ góp phần làm cho Đảng ta mạnh lên mà còn là nhu cầu tự hoàn thiện, tự làm trong sạch và khẳng định nhân cách của mình. Bởi lẽ, nếu không biết sử dụng đúng quyền lực và đặt nó vào đúng vị trí thì nó sẽ phá hoại ghê gớm, nhất là khi người nắm giữ quyền lực bị tha hóa, biến chất, họ sẽ biến quyền lực của Đảng, của nhân dân thành đặc quyền, đặc lợi, rơi vào chủ nghĩa cá nhân.

XD, CĐĐ là vấn đề có tính quy luật trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta, đặc biệt là trước những biến cố, bước ngoặt quan trọng của cách mạng. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng có mối quan hệ biện chứng, trong đó xây dựng là nền tảng, có tác dụng to lớn để thực hiện chỉnh đốn Đảng. Ai đó cho rằng chỉ cần xây dựng Đảng là đủ mà coi thường chỉnh đốn Đảng là điều phi lý, không thể chấp nhận; bởi chỉnh đốn Đảng là một mặt hết sức quan trọng và là điều kiện không thể thiếu của xây dựng. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng gắn bó chặt chẽ với nhau, xâm nhập vào nhau, ràng buộc và quy định lẫn nhau, xây dựng Đảng ngay trong nội dung chỉnh đốn và chỉnh đốn là thành tố nội tại để xây dựng Đảng tốt hơn. Do vậy, không thể coi trọng, nhấn mạnh mặt này, xem nhẹ, coi thường mặt kia; hai mặt xây dựng và chỉnh đốn có quan hệ chặt chẽ, là vấn đề có tính quy luật của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Nguyên tắc của XD, CĐĐ là lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; thực hiện đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách để Đảng không rơi vào độc đoán, chuyên quyền. Đồng thời trong sinh hoạt Đảng, phải thực hiện đúng đắn nguyên tắc tự phê bình và phê bình, bởi đó là thứ vũ khí, là quy luật làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Cùng với đó cần thực hiện tốt kỷ luật nghiêm minh và tự giác, làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát để giữ gìn sự đoàn kết và sự trong sạch của Đảng. Sự thật này không thể xuyên tạc, chân lý này không thể bẻ cong.

3. Đảng ta khẳng định phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII về một số vấn đề cơ bản và cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay đã được triển khai sâu rộng, thực hiện quyết liệt và đạt những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, càng đi sâu vào quá trình đổi mới, nhiều vấn đề về công tác XD, CĐĐ càng được đặt ra cấp bách cần phải giải quyết, nhất là khi: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”(2). Sự ra đời của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường XD, CĐĐ; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng ta đã bác bỏ mọi cách nhìn lệch lạc, quan điểm sai trái về công tác XD, CĐĐ. Thực tế chứng minh rằng, kết quả thực hiện nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Trung ương 4 khóa XII đã góp phần tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác XD, CĐĐ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên về công tác XD, CĐĐ được nâng lên. Qua thực hiện các nghị quyết về XD, CĐĐ đã có nhiều tấm gương điển hình tiên tiến được nhân rộng, lan tỏa trong đời sống xã hội, đồng thời xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và xã hội, có tác dụng cảnh báo, răn đe, phòng ngừa chung. Kết quả này có ý nghĩa rất quan trọng đối với cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái cho rằng Đảng ta không thể XD, CĐĐ thành công.

Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định quyết tâm XD, CĐĐ trong Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 về đẩy mạnh XD, CĐĐ và hệ thống chính trị, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Theo đó, “XD, CĐĐ phải gắn với xây dựng hệ thống chính trị, phạm vi thực hiện không chỉ đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên mà còn cả các cơ quan nhà nước và đội ngũ công chức, viên chức, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và thành viên, đoàn viên, hội viên của các tổ chức này”(3). Đây là những nội dung thể hiện sự phát triển và mở rộng của công tác XD, CĐĐ để đáp ứng với điều kiện mới của Đảng ta, là minh chứng bác bỏ mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Theo báo cáo của cơ quan chức năng, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 1.300 tổ chức đảng và 87.000 đảng viên. Chỉ tính trong năm đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII, năm 2021, cả nước đã khởi tố, điều tra 390 vụ án với 1.011 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, trong đó đã khởi tố mới nhiều vụ án lớn, nghiêm trọng, phức tạp “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Như vậy, những ai hiểu biết ở mức bình thường nhất cũng phải thừa nhận rằng, việc xử lý cán bộ nêu trên thể hiện sự nghiêm minh của Đảng, Nhà nước, kiên quyết xử lý đúng người, đúng tội, không có chuyện sử dụng danh nghĩa chống suy thoái để “thanh trừng phe phái” như ai đó đã xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín của Đảng. Đây là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc rất quyết liệt, là “chặt cành để cứu cây”, “kỷ luật vài người để cứu muôn người”.

Những thành quả đã đạt được trong công tác XD, CĐĐ thời gian qua là niềm tin để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần đề cao cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch; kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vững tin xây dựng nước ta ngày càng giàu mạnh.

Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

 


Diễn biến mới, phức tạp và khó nhận diện của biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đòi hỏi chúng ta phải hành động kiên quyết và khôn khéo để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ tổ chức, tạo ra hệ “miễn dịch” bảo vệ cán bộ, đảng viên. Theo GS-TS  Bùi Ngọc Quỵnh, để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên dưới tác động của công nghiệp 4.0 cần có những giải pháp đồng bộ, sát thực với điều kiện, diễn biến thực tế. Trong đó, cần tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị, xây dựng bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng cho cán bộ, đảng viên. Đây chính là trang bị cho cán bộ, đảng viên cả “thanh kiếm” và “khiên chắn” để tăng cường “sức đề kháng”, tạo hệ “miễn dịch” trong tư tưởng, nhận thức của mỗi người trước sự lôi kéo của các thế lực thù địch.

Cùng với đó là phát huy vai trò của tổ chức Đảng để ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ cơ sở. Mỗi cấp bộ đảng cần làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhất là nắm và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay; quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng chính trị; kịp thời phát hiện những nhận thức lệch lạc và giáo dục, định hướng, giải quyết tốt để tạo sức đề kháng từ phía tổ chức. Đồng thời, đầu tư, hiện đại hóa các phương tiện, công cụ truyền thông để tạo điều kiện thuận lợi cho đấu tranh, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch. Các chiêu thức chống phá tinh vi đòi hỏi công tác đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng, phản bác quan điểm sai trái, thù địch bằng lý luận sắc bén, thuyết phục; khai thác tốt vai trò công nghệ để giám sát các thông tin độc hại ngay từ nguồn phát tán để ngăn chặn từ xa; mở rộng tối đa phạm vi bao phủ của thông tin chính thống trên hệ sinh thái truyền thông, tạo khả năng áp đảo cần thiết trong các loại hình chiến tranh thông tin; sử dụng công nghệ để vạch trần, chỉ ra những mánh khóe, thủ đoạn, âm mưu ẩn chứa tinh vi trong những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, cần ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục, định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên trước những tiêu cực, mặt trái, những vấn đề chính trị - xã hội phức tạp. Phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc tự tu dưỡng, tự học tập để nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng. Đó là con đường tự thân nhằm nâng cao sức đề kháng thông qua khả năng tự nhận biết, tự phân loại, sàng lọc và định hướng thông tin để tự bảo vệ mình, bảo vệ tổ chức trước các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch; không để lực lượng thù địch có cơ hội lợi dụng, mua chuộc, lôi kéo, chống phá.

Nhận diện, đấu tranh với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

 


Thời gian qua, lợi dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (công nghiệp 4.0), các thế lực thù địch, phản động đã thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây là âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, thể hiện rõ tính chất, mức độ phức tạp của tình hình để có các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả, làm giảm nguy cơ dẫn đến các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ Đảng.

Dùng công nghệ, mạng xã hội để tuyên truyền, chống phá

Theo PGS-TS Bùi Ngọc Quỵnh, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng, biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với người cán bộ, đảng viên là sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống; hoài nghi, lung lay về lập trường, lý tưởng và cuối cùng là thay đổi, buông bỏ lập trường giai cấp công nhân, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; nói và làm ngược lại với đường lối, chủ trương, mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Sự nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là ở chỗ, nó diễn ra ngay trong chính những con người vốn đã từng là cán bộ, đảng viên, thậm chí có những người đã từng rất gương mẫu. Khi đó, Đảng không chỉ mất đi những cán bộ, đảng viên, mà những biểu hiện thoái hóa đó còn gieo rắc sự hoang mang, hoài nghi cho những người khác và xã hội đối với Đảng, Nhà nước.

Cũng theo PGS-TS Bùi Ngọc Quỵnh, ở nước ta, “tác động chuyển hóa” đang trở thành một mũi tiến công mà các thế lực thù địch, phản động sử dụng để làm thoái hóa, biến chất một bộ phận cán bộ, đảng viên, làm suy yếu, mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Công nghiệp 4.0 trở thành công cụ hữu hiệu để chúng thực hiện âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở Việt Nam.

Ở một góc nhìn khác, TS Nguyễn Đức Long, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng cho rằng, những tác động của công nghiệp 4.0 làm cho cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trở nên khó khăn, phức tạp hơn. Đó là, những tiến bộ trong công nghệ đã bị các thế lực thù địch lợi dụng biến thành “công cụ” hữu hiệu tuyên truyền xuyên biên giới nhằm xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhờ sự trợ giúp của công nghệ, hoạt động chống phá gia tăng về quy mô, đa dạng về hình thức, nguy hiểm về tính chất, không bị giới hạn bởi không gian, thời gian; làm “mờ đi” chủng tộc, màu da, quốc tịch, hệ tư tưởng, bạn - thù. Con người dễ bị lạc vào thế giới “ảo” dưới sự dẫn dắt bởi tin giả, tin xấu, độc của các thế lực phản động với sự hỗ trợ đắc lực của các thành tựu công nghệ mới. 

Thông qua là các trang mạng xã hội, các diễn đàn, hệ thống truyền thông đa phương tiện, các thế lực thù địch gieo rắc các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, tấn công trực diện, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phá hủy nền tảng tư tưởng của Đảng, bản chất cách mạng của Đảng và Nhà nước. Với luận điệu xuyên tạc được lặp đi lặp lại nhiều lần, các thế lực thù địch sử dụng công nghệ để tạo ra sự “thu hút” ảo, như số lượng người đọc, người bình luận, người chia sẻ “khủng” để gây chú ý, hoài nghi, hoang mang và dần làm lung lay tư tưởng của một số cán bộ, đảng viên. Chúng đội lốt, nhân danh “công lý”, “tập thể”, “quyền dân sự” để lập các hội, nhóm nhằm tập hợp, lôi kéo một số cán bộ thoái hóa, biến chất; lập ra cái gọi là “thư ngỏ”, “tâm thư”, “kiến nghị” rồi phát tán nội dung trên các trang mạng xã hội hòng làm nhiễu loạn tình hình.

Chúng còn tận dụng công nghệ thông tin, công nghệ trí tuệ nhân tạo để đầu tư tài chính, công nghệ, con người cho lĩnh vực truyền thông nhằm tuyên truyền, xuyên tạc, vu khống, lôi kéo, dần làm “đổi màu” truyền thông, tách truyền thông khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Chúng triệt để lợi dụng công nghệ để đầu tư các sản phẩm truyền thông xấu, độc, phản giá trị; khoét sâu vào trí tò mò, thích cái mới lạ, tin giật gân về các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội để nhanh chóng lan tỏa trên môi trường mạng toàn cầu. Thực tế cho thấy, một số cán bộ, đảng viên sau khi bị tiêm nhiễm thông tin tiêu cực, độc hại đã tỏ ra hoài nghi về con đường cách mạng, có tư tưởng xét lại một số chủ trương của Đảng, như đảng viên làm kinh tế tư nhân, phát triển kinh tế tư nhân hay vấn đề kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa... Họ hoài nghi và cho rằng, đây chính là biểu hiện, là minh chứng về sự dần “đổi màu” của Đảng, của chế độ…