Thứ Năm, 9 tháng 5, 2024

Tiếp tục hoàn thiện lý luận về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quan điểm của Tổng Bí thư

 Trong tác phẩm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”(14). Để đạt được mục tiêu đó, cần phải phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN - “một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”(15). Trong đó, Tổng Bí thư tập trung luận giải, nhấn mạnh một số vấn đề cơ bản sau:

Về quan hệ sở hữu. Tương ứng với quá trình vận động, phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất nước ta từng bước được xây dựng phù hợp, tiến bộ, với nhiều hình thức sở hữu, đa thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật và đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Về tổ chức, quản lý. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Về quan hệ phân phối. Bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh, phúc lợi xã hội.

Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng XHCN trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Nói cách khác, kinh tế thị trường và tính định hướng XHCN có mối quan hệ chặt chẽ, không mâu thuẫn với nhau. Phát triển kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu XHCN và định hướng XHCN có vai trò định hướng cho nền kinh tế thị trường. Đây là điểm đặc sắc trong mô hình kinh tế thị trường ở Việt Nam, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xoá đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn”(16); đây là “yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(17). Đồng thời, mô hình kinh tế này cũng hướng đến giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa nhà nước - thị trường - xã hội, cụ thể:

Một là, Nhà nước đóng vai trò bảo đảm thị trường và xã hội thực hiện đúng chức năng của nó. Nhà nước không “làm thay” mà sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của mình để định hướng và điều tiết nền kinh tế không làm méo mó thị trường, thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh và bảo vệ môi trường.

Hai là, thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất. Kinh tế thị trường không phải vốn dĩ là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản, mà là kết quả của tiến trình phát triển văn minh nhân loại. Alvin Toffler - nhà tương lai học người Mỹ - khẳng định: Thị trường là một mạng lưới trao đổi được ví như một tổng đài, mà ở đó, hàng hóa, dịch vụ (cũng như tin tức) sẽ tìm tới nơi có nhu cầu. Do đó, nó không chỉ thuộc về tư bản, mà thiết yếu cho cả xã hội công nghiệp xã hội chủ nghĩa, cũng như bất kỳ đâu có hệ thống công nghiệp quy mô lớn gắn với động cơ lợi nhuận(18).

Ba là, xã hội là điểm nổi bật trong mục tiêu phát triển của Việt Nam, do đó Đảng Cộng sản chủ trương kết hợp chặt chẽ các mục tiêu, chính sách kinh tế với các mục tiêu, chính sách xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững. Các vấn đề xã hội không phải đi sau kinh tế, mà giải quyết tốt các vấn đề xã hội cũng chính là tạo điều kiện, động lực cho tăng trưởng.

Bên cạnh đó, trong cuốn sách, Tổng Bí thư còn có những bài viết quan trọng về phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, như: xây dựng giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp thanh niên, lực lượng công an, quân đội lớn mạnh…, đồng thời nhấn mạnh cần phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam; trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”; khơi dậy khát vọng hùng cường, thịnh vượng Việt Nam… để có thể xây dựng, phát triển thành công mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam./.

LHQ-ST

QUÂN ĐỘI THAM GIA ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC KHÔNG GIAN MẠNG

 

Trong những năm qua, lợi dụng sự phát triển của cách mạng khoa học - công nghệ, nhất là trên lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử viễn thông, internet, các trang mạng xã hội; các thế lực thù địch và các phần tử phản động, bất mãn cơ hội chính trị đã có những điều chỉnh những phương thức, thủ đoạn chống phá Việt Nam ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Chúng triệt để lợi dụng không gian mạng, đặc biệt các trang mạng xã hội phát tán những tài liệu, văn hóa phẩm xấu độc, nhất là những bài viết, video clip có những nội dung chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội.

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC HÌNH ẢNH LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

 


Một trong những âm mưu, thủ đoạn nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch là “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, làm cho lực lượng vũ trang xa rời sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mất dần phương hướng chính trị, không xác định được mục tiêu chiến đấu, mục tiêu bảo vệ... Khi mà lực lượng vũ trang không còn là chỗ dựa thì ắt sẽ dẫn đến Đảng, chính quyền không còn được bảo vệ, mất vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành đất nước và chế độ sẽ sụp đổ. Khi mà “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân và Công an nhân dân không thực hiện được, chúng lại giở chiêu bài nói xấu, bôi nhọ hình ảnh, hạ thấp uy tín. Để thực hiện chiêu trò này, một mặt chúng đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo những truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, bôi nhọ hình ảnh, phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Mặt khác, chúng tán phát tài liệu, tung tin đồn nhảm, gán ghép, ngụy tạo hình ảnh để vu cáo, nói xấu cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân...

Nguyên nhân và giải pháp phòng chống thông tin xấu, độc

 


Nội dung thông tin trên các trang mạng, trang thông tin điện tử, nền tảng trực tuyến hiện nay được cung cấp bởi hai nguồn: Từ tổ chức, cá nhân trong nước cung cấp, có nguồn gốc rõ ràng, được Bộ TT&TT cấp phép/hoặc không phải cấp phép hoạt động. Các trang này phần lớn đều tuân thủ quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam; từ các trang tin không rõ nguồn gốc, có tên miền quốc tế, đặt máy chủ tại nước ngoài cung cấp thông tin bằng tiếng Việt; từ các mạng xã hội nước ngoài cung cấp xuyên biên giới vào Việt Nam, trong đó Facebook, Youtube, Tiktok là các mạng xã hội có nhiều người Việt Nam sử dụng nhất.

Quá trình hình thành lý luận về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

 Năm 1986, trước bối cảnh nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng, trì trệ trầm trọng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành đổi mới toàn diện đất nước. Công cuộc đổi mới không đơn thuần là tìm ra giải pháp trước mắt cho nền kinh tế, mà thực chất là tìm ra mô hình phát triển mới và con đường phù hợp để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trước đó, Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng 9-1979) được xem là dấu mốc khởi đầu quá trình đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội đất nước với những chủ trương mới là “phát súng hiệu” về phát triển kinh tế hàng hóa, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần…, thể hiện qua những việc “bỏ ngăn sông, cấm chợ”, cho “sản xuất bung ra”, thừa nhận sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế(1).  

Đại hội VI của Đảng (năm 1986) chủ trương đoạn tuyệt với cơ chế tập trung, bao cấp, tạo lập cơ chế thị trường, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Trong cơ cấu nền kinh tế, ngoài thành phần kinh tế XHCN, với khu vực quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, Đảng thừa nhận và tôn trọng sự tồn tại khách quan của các thành phần kinh tế khác, gồm: tiểu sản xuất hàng hóa, tư bản tư nhân, tư bản nhà nước và kinh tế tự nhiên, tự túc, tự cấp.

Trên cơ sở những thành công bước đầu trong phát triển nền kinh tế đa thành phần, Đại hội VII của Đảng (năm 1991) tiếp tục lộ trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với cơ cấu gồm năm thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, cá thể tiểu chủ, tư bản tư nhân và tư bản nhà nước). Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) bắt đầu định hình các thành tố cơ bản về định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường: “Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bảo đảm nền kinh tế tăng trưởng gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái"(2).

Mặc dù từ Đại hội VI của Đảng đến Đại hội VIII của Đảng, Đảng đã có những bước phát triển nhất định về lý luận kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tuy nhiên, thị trường chỉ được coi là một cơ chế để điều tiết nền kinh tế, chưa xác lập là một chỉnh thể, bao gồm cả cấu trúc nội tại lẫn thiết chế vận hành. Về thực chất, chưa coi kinh tế thị trường là cơ sở kinh tế của xã hội để xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đại hội IX của Đảng (năm 2001) chuyển từ nhận thức thị trường như một công cụ, cơ chế quản lý kinh tế sang nhận thức thị trường là một chỉnh thể, cơ sở kinh tế của xã hội trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội: “Thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội"(3)

Về cơ bản, đến Đại hội IX của Đảng, mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta đã được định hình. Theo đó, mô hình này vừa phản ánh tính phổ quát của nền kinh tế thị trường hỗn hợp (thị trường và nhà nước), vừa mang tính “định hướng XHCN”, với những đặc trưng là: nền kinh tế nhiều thành phần, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, có sự quản lý của nhà nước XHCN, thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu phát triển bền vững trên cơ sở: “Từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường”(4).

Đại hội X của Đảng (năm 2006) nhấn mạnh việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và trước hết cần nắm vững định hướng XHCN. Trong đó, tính định hướng XHCN được thể hiện là nền kinh tế được xây dựng ở một chế độ xã hội do nhân dân làm chủ, Nhà nước pháp quyền XHCN quản lý, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”(5). Đại hội XI của Đảng (năm 2011) tiếp tục bổ sung và luận giải rõ hơn về nội hàm của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là mô hình kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt chi phối bởi nguyên tắc và bản chất chủ nghĩa xã hội”(6).

Đại hội XII của Đảng (năm 2016) tiếp tục hoàn thiện về nội hàm trên cơ sở gắn kết từng cấu phần “bên trong” với mục tiêu và phương thức vận hành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là: “Nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(7)Đến Đại hội XIII (năm 2021) của Đảng tiếp tục khẳng định “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”

LHQ-ST

HỒ CHÍ MINH SỐNG MÃI TRONG LÒNG NHÂN DÂN VIỆT NAM VÀ BẠN BÈ QUỐC TẾ

                           

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, song dấu ấn Người để lại trong thế kỷ XX thật đặc biệt. Từ khi xuất hiện trên vũ đài chính trị với bản Yêu sách của nhân dân An Nam năm 1919 cho đến khi từ biệt thế giới này năm 1969. Sau hơn 50 năm kể từ khi Người đi xa,  những nghiên cứu, đánh giá trong các trang viết, bài phát biểu về Người dường như vẫn cứ nối dài mãi mãi.

ĐẤU TRANH VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU KÍCH ĐỘNG GÂY CHIA RẼ VÙNG MIỀN

 

Trải qua hàng ngàn năm thăng trầm của lịch sử, sức mạnh đại đoàn kết đã trở thành di sản vô giá, truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam. Điều này luôn được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta khẳng định là nguồn gốc nội sinh quan trọng, nhân tố có ý nghĩa quyết định để nước nhà vượt qua mọi khó khăn, thử thách bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây, cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Thực tiễn từ khi có Đảng, truyền thống yêu nước và tinh thần đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo, vùng miền ở nước ta ngày càng được củng cố, tăng cường và phát huy mạnh mẽ. Tuy nhiên, đây cũng là một “mặt trận”, phương diện hết sức nóng bỏng thường xuyên bị các thế lực thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn hết sức thâm độc, nguy hiểm lợi dụng để xuyên tạc, kích động sự thù hằn, mâu thuẫn hòng phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị, trật tự an ninh, an toàn của đất nước.

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ hội nhập quốc tế

 

Thành tựu, kết quả của cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ hội nhập quốc tế là to lớn, có ý nghĩa quan trọng trên cả phương diện chính trị, tư tưởng - lý luận và thực tiễn, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật đúng đắn được hình thành; đất nước tiếp tục phát triển vững vàng trên con đường đổi mới và hội nhập quốc tế.

Từ khi đất nước tiến hành đổi mới và từng bước hội nhập quốc tế, âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động là không thay đổi nhưng chuyển sang hình thái mới, phương thức, thủ đoạn mới hết sức tinh vi xảo quyệt. Chúng lợi dụng Internet, báo điện tử, trang mạng xã hội, các website, các nền tảng công nghệ phổ biến: blog, Facebook, Youtube, Zalo… để tổ chức các chiến dịch phá hoại trên nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực cả lý luận và thực tiễn. Mục tiêu cơ bản của chúng là đả phá, công kích những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cộng sản cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội; âm mưu phủ nhận, loại bỏ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng; đòi từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thông qua các con đường hợp tác, giao lưu, trao đổi văn hóa, tri thức khoa học, kinh tế, luật pháp và các nền tảng công nghệ mạng, chúng đưa các lý thuyết mới, tư tưởng mới thâm nhập vào Việt Nam hòng “pha loãng tư tưởng chính thống”, làm mờ nhạt nguyên lý, nguyên tắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tập trung phê phán, hạ thấp vai trò, ý nghĩa thời đại, lý luận của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác - Lênin. Thâm độc hơn, chúng đem đối lập chủ nghĩa Mác- Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó đòi bác bỏ, thủ tiêu, loại bỏ chủ nghĩa Mác- Lênin ra khỏi Việt Nam… Thực chất của những chiêu trò, thủ đoạn này đều nhằm chống phá hệ tư tưởng và lý tưởng cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

Phụ họa với các chiến dịch chống phá điên cuồng, bất chấp đạo lý của các thế lực thù địch là hoạt động phá hoại âm thầm, “mưa dầm thấm lâu” của các nhà lý luận, học giả tư sản phối hợp với số đối tượng cơ hội chính trị, “trở cờ”, bất mãn, tiêu cực, hận thù giai cấp ở trong nước. Chúng liên thủ với nhau, sử dụng các chiêu bài tung hứng ca ngợi, tâng bốc mô hình chủ nghĩa tư bản phát triển và chủ nghĩa xã hội dân chủ; bịa đặt, dựng chuyện, phê phán, đả kích, xuyên tạc chủ nghĩa xã hội và mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô, Đông Âu trước đây. Đồng thời, tập trung tấn công phê phán, hạ bệ tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo, đóng góp, cống hiến của Đảng Cộng sản Việt Nam; xuyên tạc đường lối, chủ trương đổi mới, phủ nhận thành quả của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mục đích cuối cùng là hướng lái đất nước và nhân dân ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa xã hội ta hòa nhập với các giá trị phương Tây.

Thế giới ngày nay đang biến đổi hết sức sâu sắc, chấp nhận mâu thuẫn đan xen với nhau và sự tồn tại trong đa dạng, đa văn hóa, đa lợi ích. Sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ số và Internet, mạng xã hội làm cho thế giới xích lại gần nhau hơn; quan hệ dường như không bị ngăn cách, cản trở bởi hàng rào ý thức hệ, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa, biên giới địa lý và khoảng cách không gian, thời gian… Từ đó, xuất hiện những chiến dịch “xâm lăng” về văn hóa - tư tưởng, hô hào lấp chỗ trống về tư tưởng - lý luận, cổ xúy lối sống thực dụng và giá trị phương Tây. Bên cạnh đó, các nước lớn đều chú trọng gia tăng ảnh hưởng lợi ích chiến lược, lợi ích an ninh toàn cầu đã gây ra nhiều hệ lụy, nguy cơ làm chệch hướng những giá trị chuẩn mực trên cả phương diện chính trị, tư tưởng, văn hóa, đạo đức và ý thức con người. Nhiều tác động, ảnh hưởng tiêu cực từ các học thuyết tạp nham phi giai cấp, phi ý thức hệ, phi lý tưởng, phi văn hóa, phi đạo lý truyền thống đã trực tiếp tác động, ảnh hưởng tiêu cực đối với Việt Nam...

Nhận thức đúng đắn tính chất, thực chất và bản chất đối kháng của cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - lý luận - chính trị là không khoan nhượng, phải hết sức kiên trì, kiên định, thường xuyên, liên tục, sáng tạo, mang tính trí tuệ và tính chiến đấu cao, Đảng ta luôn nêu cao ý thức chính trị và bản lĩnh, lập trường giai cấp, đồng thời xác định và khẳng định những vấn đề có tính nguyên tắc, đề ra những chủ trương, phương châm, biện pháp đấu tranh phù hợp. Cuộc đấu tranh của Đảng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng để bảo vệ nền tảng tư tưởng đã được tổ chức trên phạm vi, quy mô rất rộng lớn, nhất là trên bình diện lý luận gắn với việc làm rõ, từng bước khẳng định, bổ sung những vấn đề mới về công cuộc đổi mới với sự lý giải tường minh, thấu đáo.

Toàn Đảng và cả hệ thống chính trị đã có sự thống nhất trong nhận thức cũng như hành động, tích cực, chủ động vào cuộc mà lực lượng xung kích, nòng cốt là ngành Tuyên giáo, các cơ quan truyền thông, thông tin, cơ quan nghiên cứu khoa học, lý luận, các ban đảng các cấp; lực lượng Công an, Quân đội và các nhà khoa học, các học giả thuộc chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn. Đã có hàng vạn bài viết các thể loại, hàng nghìn cuốn sách, tài liệu đấu tranh phản bác, vạch trần sự giả dối, xảo biện; phát hiện, ngăn chặn các luận điệu sai trái, độc hại của các thế lực thù địch tấn công phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, phá hoại nội bộ. Chúng ta giữ vững được thế trận và chủ động trên mặt trận chính trị tư tưởng; nắm chắc âm mưu chiến lược, chiến thuật, thủ đoạn, chiêu trò, biện pháp cách thức, hình thức, phương tiện chống phá của các loại đối tượng... Đảng luôn vững vàng về mặt chính trị, tuyệt đối không ngả nghiêng dao động, giữ vững vai trò, vị trí lãnh đạo Nhà nước và xã hội; kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, vận dụng sáng tạo, đề ra hệ thống quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới toàn diện đúng đắn và vận hành trong thực tiễn đổi mới thành công, giành được những “thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”, làm thay đổi căn bản diện mạo, uy tín, vị thế của Đảng và đất nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

Tuy nhiên, trên thực tế, cuộc đấu tranh này cũng gặp những hạn chế, khó khăn bất cập. Trong bối cảnh mới, các thế lực thù địch tăng cường, đẩy mạnh hơn bao giờ hết các chiến dịch, thủ đoạn chống phá từ bên ngoài, phối hợp, câu kết chặt chẽ với các đối tượng phản động, cơ hội chính trị trong nước. Chúng đã lập ra hàng trăm trang website, blog, fanpage, mạng xã hội có máy chủ đặt ở nước ngoài để truyền bá, chuyển tải thông tin xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo, đả phá, công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chống phá chủ nghĩa xã hội ở nước ta, công khai tấn công vào những vấn đề cơ bản của nền tảng tư tưởng của Đảng với lòng căm thù ngút trời của những kẻ thất thế, bại trận, vì lợi ích giai cấp ích kỷ, lợi ích cá nhân.

Bên cạnh đó, có lúc, có nơi, sự hiểu biết của một số người cộng sản, người cách mạng về chủ nghĩa Mác, về chủ nghĩa xã hội thiếu tính hệ thống, toàn diện, chưa thẩm thấu đầy đủ thế giới quan mác-xít, phương pháp luận mác-xít, thậm chí chưa đoạn tuyệt một cách dứt khoát với thế giới quan tư sản nói chung và thế giới quan dân chủ tư sản nói riêng. Cách thức tổ chức, mô hình, phương thức, biện pháp đấu tranh của ta có lúc chưa theo kịp sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình. Lực lượng, trang bị phương tiện tham gia cuộc đấu tranh còn những hạn chế về nhiều mặt, chưa ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nhất là trước sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên lĩnh vực thông tin, truyền thông.

Để đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ hội nhập quốc tế, phải chú ý một số nội dung trọng tâm như sau:

Một là, bảo đảm vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của cả hệ thống chính trị tập trung mũi nhọn đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động chuyển hóa chính trị của các thế lực thù địch, phản động; bảo vệ vững chắc địa vị và vai trò lãnh đạo của Đảng.

Cấp ủy đảng các cấp phải thống nhất nhận thức và hành động, quan tâm chỉ đạo thường xuyên, quyết liệt các lực lượng, các ngành, các cấp vào cuộc mà lực lượng xung kích, nòng cốt là ngành Tuyên giáo, các cơ quan truyền thông, thông tin tuyên truyền, cơ quan nghiên cứu khoa học, Hội đồng Lý luận Trung ương, các ban đảng các cấp; lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, các nhà nghiên cứu lý luận, các học giả. Tập trung đấu tranh phản bác, vạch trần sự giả dối, xảo biện, phát hiện, ngăn chặn các luận điệu sai trái, độc hại của các thế lực thù địch tấn công phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng gắn với việc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy lý luận, hoàn thiện hệ thống quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo thông qua các hình thức, phương thức, biện pháp phù hợp để huy động được sức mạnh tổng hợp mọi nguồn lực, trí tuệ, cơ chế chính sách phục vụ cuộc đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Hai là, quan tâm xây dựng, củng cố và hoàn thiện cơ sở pháp lý làm chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận.

Thực tiễn, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng diễn ra rất quyết liệt, khó khăn, phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do, tôn giáo, dân tộc, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Việc nhanh chóng cụ thể hóa, thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng để tăng cường, hoàn thiện cơ sở pháp lý thông qua hệ thống luật pháp, các văn bản chỉ đạo của Nhà nước, của Chính phủ và các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự là yêu cầu tất yếu, phù hợp với xu thế của thời đại ngày nay.

Thời gian tới cần tiếp tục nghiên cứu cụ thể hóa, pháp luật hóa đầy đủ các quan điểm chỉ đạo của Đảng về đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ thể chế xã hội chủ nghĩa trong hệ thống pháp luật của Nhà nước một cách phù hợp, nhất là các bộ luật quan trọng liên quan đến nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, coi trọng việc xây dựng bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ chuyên trách; mô hình, phương thức, biện pháp và cơ chế đấu tranh phù hợp với từng loại đối tượng, trên từng vấn đề, ở từng thời điểm.

Tiếp tục rà soát, nghiên cứu, sắp xếp kiện toàn bộ máy chỉ đạo, mô hình và cơ chế phương thức lãnh đạo cuộc đấu tranh phù hợp, hiệu quả và thiết thực hơn. Đặc biệt, không nên coi nặng về số lượng công trình, bài viết, cá nhân, đơn vị tổ chức đấu tranh phản bác mà quan trọng hơn là tìm cơ chế, biện pháp, hình thức tổ chức đấu tranh, tuyên truyền phù hợp, tập trung lực lượng mũi nhọn đấu tranh trong từng thời điểm, với từng loại đối tượng, từng vấn đề cụ thể, không để dàn trải, chồng chéo, trùng dẫm, thậm chí trái chiều nhau. Nghiên cứu ban hành quy định phổ biến, tuyên truyền công khai, rộng rãi các công trình nghiên cứu, bài viết phản bác có chất lượng, hàm lượng khoa học cao, sắc sảo, thuyết phục về lý luận và thực tiễn; mang tính hệ thống, toàn diện về mặt học thuật...

Trong quá trình tổ chức cuộc đấu tranh phải hết sức quan tâm chăm lo lựa chọn, bồi dưỡng, đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận chuyên nghiệp hoặc kiêm nhiệm có đủ bản lĩnh chính trị, năng lực, trình độ, tâm huyết tham gia cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng- lý luận. Bên cạnh đó, phải chú trọng phát huy cao độ lợi thế, tính chiến đấu của các công cụ thông tin, truyền thông hiện đại của Đảng, Nhà nước và các cơ quan ban, ngành, địa phương, bảo đảm tính kịp thời, đồng bộ, thiết thực, hiệu quả và tính lan tỏa xã hội.

Bốn là, nêu cao ý thức cảnh giác cách mạng và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ đảng viên; kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải luôn nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức trách nhiệm chính trị, bản lĩnh và lập trường giai cấp; kiên định cuộc đấu tranh, gắn việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới.

Bên cạnh đó, việc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải gắn liền với việc không ngừng mở rộng dân chủ trong Đảng, trong xã hội. Đề cao trách nhiệm và phát huy vai trò của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân trong cuộc đấu tranh phê bình và tự phê bình, “tự soi, tự sửa” theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và khóa XII để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống trong nội bộ, hạn chế đến mức thấp những nhân tố bất ổn từ bên trong./.

Kẻ “ăn cháo đá bát”

     Trong kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam có nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao được ông bà ta đúc kết từ thực tiễn cuộc sống, mang giá trị giáo dục sâu sắc. Trong đó, thành ngữ “ăn cháo đá bát” ám chỉ những kẻ vô ơn, bội nghĩa. Vì mang nặng chủ nghĩa cá nhân, hẹp hòi, ích kỷ cộng với sự “hà hơi, tiếp sức” của các thế lực phản động bên ngoài nên bọn họ sẵn sàng biến mình thành “con rối” điên cuồng chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.

Mới đây, trên trang Tiếng Dân News (baotiengdan.com), Nguyễn Đình Cống, kẻ “trở cờ”, đã có bài viết “Vài suy nghĩ khi đọc sách của ông Võ Hồng Phúc”. Ông Võ Hồng Phúc, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, là tác giả cuốn sách dưới dạng hồi ký có tên Chuyện của chúng tôi, chính thức giới thiệu và ra mắt bạn đọc vào cuối tháng 12-2022. Ở Việt Nam, chuyện đó hoàn toàn bình thường. Ông Nguyễn Đình Cống nếu đọc cuốn sách và có những ý kiến bình luận (khen, chê) về nội dung cuốn sách cũng là điều hoàn toàn bình thường. Thế nhưng ông Cống đã cố tình “xỏ xiên” khi mượn chuyện “bình sách” để xuyên tạc, công kích, nói xấu Đảng, Nhà nước và chế độ là điều trái với lương tâm và vi phạm pháp luật. 

Ông Cống viết: “Đổi mới từ năm 1986 thực chất là sửa sai, là cởi trói cho người dân. Ai sai, ai trói? Đảng chứ ai. Thế mà không một người nào trong lãnh đạo công nhận điều đó… Kinh tế thị trường, phát triển kinh tế tư nhân là làm ngược lại với Mác Lê, nhưng tuyên truyền là vận dụng sáng tạo…”. Chỉ những kẻ cố tình “bẻ cong ngòi bút” mới viết ra những câu chữ như vậy. Bởi vì, ông Nguyễn Đình Cống là người có học thức, được Đảng, Nhà nước ưu ái đưa đi đào tạo ở Liên Xô; sau này trở thành giáo sư, tiến sĩ, nhà giáo nhân dân, từng giảng dạy, công tác tại Đại học Xây dựng Hà Nội. Cũng như bao nhiêu đảng viên, trong giờ phút thiêng liêng khi đứng trước Quốc kỳ, Đảng kỳ và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đã từng tuyên thệ “Tuyệt đối trung thành với mục đích lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước…”. Thế nhưng sau khi nghỉ hưu, ông đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để rời khỏi hàng ngũ. Không những thế, ông còn phủi bỏ những ưu ái mà Đảng, Nhà nước đã mang lại cho bản thân ông cùng gia đình. Tục ngữ Việt Nam có câu “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Đằng này, ông đã không nhớ “người trồng cây” mà còn muốn… chặt luôn cây!

 Lịch sử mỗi quốc gia, dân tộc đều có những thăng, trầm và không hoàn toàn giống nhau. Chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết khoa học. Song, để hiện thực hóa vào thực tiễn sẽ có những phương thức vận dụng khác nhau. Để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đảng, Nhà nước ta thực hiện cơ chế kinh tế bao cấp trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước là hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện lịch sử của chúng ta khi đó. Nhưng khi cơ chế kinh tế bao cấp không còn phù hợp, trở thành lực cản, cộng với những điều kiện khách quan từ bên ngoài nên Đảng ta đã thực hiện công cuộc đổi mới. Đây là quyết định hoàn toàn đúng đắn, thể hiện sự sáng suốt của Đảng - hoàn toàn không phải “cởi trói, sửa sai” như ông Cống viết.

 Sau khi “nói hươu nói vượn” về các nguyên nhân, cuối cùng ông Cống cũng “lòi đuôi cáo” bản chất khi viết rằng “Từ trong học thuyết Mác Lê với độc quyền đảng trị, với việc đồng nhất Đảng và Nhà nước, đồng thời đặt Đảng trùm lên mọi luật pháp, là những sai lầm về đường lối mà không chịu nghe phản biện”. Người như ông Cống chắc chắn đã đọc Hiến pháp năm 2013. Điều 4 Hiến pháp quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Vậy thì làm gì có chuyện “đặt Đảng trùm lên mọi luật pháp” hay đó chỉ là suy nghĩ của những kẻ phản bội lại lý tưởng như Nguyễn Đình Cống? Tất cả ý kiến phản biện, góp ý đều được Đảng, Nhà nước tiếp thu, lắng nghe nhưng đó phải là những phản biện, góp ý tâm huyết, chân tình trên tinh thần xây dựng, vì mục tiêu chung. Những kẻ lợi dụng góp ý, phản biện để thực hiện ý đồ cá nhân chắc chắn sẽ không bao giờ có “đất sống”.
          Ở tuổi “gần đất xa trời”, thường thì con người ta sẽ suy nghĩ và hành động hướng đến những điều tốt đẹp để tích đức cho con cháu. Thế nhưng Nguyễn Đình Cống thì làm điều ngược lại. Những kết quả trên mọi mặt mà đất nước Việt Nam đạt được sau 38 năm đổi mới khiến cả thế giới khâm phục, xem là tấm gương. Vì vậy, những luận điệu xuyên tạc của Nguyễn Đình Cống càng thể hiện bản chất của kẻ “ăn cháo đá bát” đáng bị lên án.

ST

Thông tin xấu, độc trên mạng xã hội và trách nhiệm công dân

 

Trước sự phát triển nhanh chóng của mạng xã hội, chúng ta cần phải nhận diện đúng những thông tin xấu, độc khi tiếp cận nhằm phát huy những mặt tích cực, ngăn ngừa những tác động tiêu cực, góp phần ổn định chính trị xã hội của đất nước và xây dựng một môi trường sống an toàn, chất lượng. Để xác định được xem thông tin mà mình tiếp cận là giả hay thật; đúng hay sai; tốt hay xấu thì chúng ta cần tiếp cận tìm hiểu ở các nguồn thông tin chính thống. Nếu chủ thể đăng tải thông tin là các tài khoản ảo, không chính danh và tổng thể nội dung trang mạng xã hội đó, có thái độ nhìn nhận không phù hợp với quan điểm chính thống thì cần loại bỏ... 

Đồng thời, chọn lọc những thông tin có lợi, thông tin phù hợp với thuần phong mỹ tục, thông tin chính thống... để tiếp cận. Kịp thời phát hiện, tố giác và sẵn sàng tham gia đấu tranh ngăn chặn kẻ xấu kích động việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, thông báo cho các cơ quan chức năng để xử lý. Tích cực chia sẻ những thông tin chính thống để tuyên truyền, vận động bạn bè, người thân, đồng nghiệp, cộng đồng hiểu và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp. Nâng cao năng lực để chống thông tin xấu, độc trên mạng xã hội sẽ góp phần phát huy những tác động tích cực, hạn chế, ngăn ngừa những tác động tiêu cực, góp phần ổn định chính trị - xã hội của đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi chúng ta. 

Để nhận diện, phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả tác động từ thông tin xấu, độc trên mạng xã hội thì các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị trong hệ thông chính trị và mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần phải  nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong nhận diện, đấu tranh, phản bác thông tin xấu, độc trên không gian mạng. Tăng cường quán triệt, tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên, công chúc, viên chức, người lao động và quần chúng nhân dân về công  tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nâng cao chất lượng nội dung các chương trình, chuyên trang, chuyên mục về thành tựu phát triền kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế trong hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, những định hướng lớn, đột phá, nổi bật, quan trọng trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Phát huy hơn nữa thế mạnh của báo chí điện tử, xây dựng các trang TTĐT của các ngành, địa phương. Nâng cao chất lượng nội dung và hình thức nhằm xây dựng báo chí điện tử trở thành loại hình truyền thông chính thống chủ lực, hiện đại với nhiều ưu điểm, lợi thế nhanh, đa dạng, sâu rộng. Nâng cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng tham gia đấu tranh, phản bác thông tin không đúng, ngộ nhận, mơ hồ, sai trái với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Trong tuyên truyền đấu tranh, phải thực hiện nhất quán chủ trương “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “dùng tích cực để đẩy lùi tiêu cực”, lấy “xây” để “chống”. Thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, hướng dẫn, định hướng dư luận, kiên quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc khác ….

Khi tham gia mạng xã hội, mỗi người dân cần cẩn trọng, cân nhắc kỹ lưỡng trước khi phát ngôn, chia sẻ thông tin, ý kiến về vấn đề, sự kiện, hiện tượng nào đó, người dân cần có bản lĩnh, trí tuệ, thiện chí, tỉnh táo xem xét… không để bị cuốn theo cảm xúc của số đông, không phát ngôn cảm tính, không phán xét tùy tiện, không khơi mào ý kiến tiêu cực…  

Mạng xã hội là một “mặt trận” ngày càng phức tạp mà các thế lực thù địch đang lợi dụng để thúc đẩy chiến lược “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam”. Do đó, chúng ta cần phải nhìn nhận đúng đắn, qua đó kịp thời đấu tranh, phản bác các thông tin xấu, độc trên mạng xã hội, góp phần vào công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội.

 

Cảnh giác với thông tin xấu, độc, sai sự thật trên không gian mạng

 Xu hướng toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 dẫn đến sự hình thành kết nối cộng đồng mà biểu hiện của nó là sự phát triển bùng nổ của mạng xã hội. Bất kể người dùng Internet nào hiện nay đều sở hữu cho mình những tài khoản trang mạng xã hội như Facebook, Twitter, Youtube, Intagram,… Những mạng xã hội này thu hút hàng chục triệu người sử dụng, chủ yếu là giới trẻ độ tuổi lao động. Đây là một kênh cung cấp, chia sẻ thông tin cực kỳ quan trọng của xã hội hiện đại. Bên cạnh đó, mặt trái của nó, cũng chính là nơi mà các đối tượng xấu lợi dụng để đưa các thông tin xấu, độc, nhằm kích động bạo lực, bôi nhọ đời tư, vu khống, lừa đảo chiếm đoạt tài sản… gây mất an ninh trật tự.

Lợi ích mà mạng Internet đưa lại là điều ai cũng thấy được, nhất là kết nối con người với con người thông qua các trang mạng xã hội, đây là một môi trường có tính mở, không biên giới, không có giới hạn về thời gian, không gian địa lý. Mạng xã hội thu hút hàng chục triệu người dùng, từ người già cho đến trẻ nhỏ, nó đã len lỏi đến tận bàn ăn, giường ngủ…của mỗi gia đình, bất kể ngày đêm, khi có thời gian rảnh rỗi là người dùng mở ra xem. Qua đó, đã cung cấp nguồn thông tin, kho kiến thức khổng lồ, mở ra thế giới giải trí, kết nối bạn bè, mua sắm trực tuyến.

Tuy nhiên với sự phát triển đó cũng gây ra nhiều hệ lụy, rõ ràng nhất là những kẻ xấu lợi dụng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng và những thông tin giả, sai sự thật, bôi nhọ, nói xấu lãnh đạo Đảng, nhà nước, cán bộ đảng viên và lực lượng vũ trang… trên mạng xã hội, những thông tin xấu độc trên Internet và mạng xã hội do các thế lực phản động, các phần tử chống đối, cơ hội chính trị và cả những cá nhân thiếu hiểu biết tung ra có tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, gây nghi ngờ, gieo rắc sự hoang mang, dao động, làm giảm sút lòng tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Âm mưu của các thế lực thù địch tán phát thông tin xấu, độc nhằm kích động biểu tình, phá rối an ninh trật tự; vi phạm chuẩn mực đạo đức, văn hóa, thuần phong mỹ tục, kích động đồi trụy, bạo lực, lừa đảo trên mạng, đánh cắp thông tin, mật khẩu, tán phát vi rút. Thông tin xấu, độc trên mạng xã hội tác động tiêu cực đến nhận thức của người dân về chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Có thể nói mạng xã hội với đặc tính lan truyền nhanh, có khả năng mở rộng phạm vi tác động, vượt qua rào cản ngôn ngữ, khoảng cách địa lý, gây ảnh hưởng trên diện rộng, là công cụ nguy hiểm nhất mà các đối tượng có ý đồ xấu lợi dụng để tiếp cận và định hướng người đọc theo chiều hướng xấu mà chúng muốn. 

Về nội dung và bản chất, có thể nhận diện thông tin xấu, độc tán phát trên môi trường mạng Internet và mạng xã hội là những thông tin bịa đặt, bóp méo sự thật, xuyên tạc vấn đề, “đổi trắng, thay đen”, làm lẫn lộn đúng sai, thật giả hoặc có một phần sự thật nhưng được đưa tin với dụng ý xấu, phân tích và định hướng dư luận bằng luận điệu thù địch. Đó là các dạng thông tin có nội dung không phù hợp về chuẩn mực đạo đức, văn hóa, thuần phong mỹ tục như: kích động bạo lực, bôi nhọ đời tư, vu khống, tin đồn thất thiệt, thông tin nhảm nhí, rùng rợn…; thông tin cổ vũ, lôi kéo tham gia vào các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, lô đề, cờ bạc, cá độ, vay lãi nặng, tham gia vào các hội kín, nhóm kín trên mạng xã hội dẫn đến vi phạm pháp luật; thông tin sai trái, độc hại có tính chất tội phạm công nghệ cao như: lừa đảo trên mạng, đánh cắp thông tin, mật khẩu, tán phát virus… Bên cạnh đó là những thông tin sai trái, độc hại có tính chất chính trị, phân tích và định hướng dư luận bằng luận điệu sai trái, thù địch, kích động nhân dân… Về thủ đoạn tán phát thông tin xấu, độc thì các đối tượng lợi dụng các trang mạng lớn trên thế giới như Facebook, kênh Youtube làm công cụ phát tán thông tin xuyên tạc, bịa đặt. Nguồn phát chủ yếu từ một số tổ chức, cá nhân phản động ở nước ngoài hướng vào trong nước. 

Những cách thức của các thế lực thù địch sản xuất tin xấu, độc phát tán trên không gian mạng là “dối trá, xuyên tạc". Các đối tượng lấy hình ảnh hoạt động từ báo chí chính thống rồi cắt ghép, "xào nấu", thêm thắt, xuyên tạc, bịa đặt, cài cắm thêm nhiều tin giả hoặc bắt đầu từ một thông tin có thật sau đó cắt ghép, cài cắm thêm những tình tiết không xác thực nhưng liền mạch khiến cho cán bộ, đảng viên và người dân dễ bị lầm tưởng, sau đó, những tổ chức, cá nhân phản động dùng các tài khoản mạo danh và lập ra những tài khoản mang tên các lãnh đạo cấp cao hoặc các cơ quan ban ngành như Ban Tuyên giáo Trung ương, VTV, Bộ Công an… Hoặc các đối tượng lập các tài khoản lấy tên giống, gây nhầm tưởng là cơ quan báo chí như : Tin tứcViệt nam, Tin tức 24h… mặt khác, các đối tượng xấu cũng dùng tài khoản chính danh như Tổ chức phản động ở nước ngoài như: Việt Tân, RFA…để phát tán thông tin xấu độc.

Cán bộ, đảng viên cần gương mẫu, quét sạch chủ nghĩa cá nhân

 

Những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, chúng ta quyết liệt thực hiện cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để loại bỏ các biểu hiện suy thoái, làm trong sạch Đảng, trong sạch bộ máy Nhà nước để giữ vững niềm tin của nhân dân, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Cuộc đấu tranh ấy được đại bộ phận nhân dân và dư luận quốc tế đồng tình ủng hộ và đã mang lại những hiệu quả rất tích cực. Tuy nhiên, trong xã hội thời gian qua cũng xuất hiện những lo ngại về việc “đánh chuột làm vỡ bình” khi cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được thực hiện quyết liệt, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”.

Các thế lực thù địch đang tăng cường rêu rao các thông tin xuyên tạc rằng: “Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua chẳng qua là tranh giành quyền lực trong nội bộ Đảng”, họ gieo rắc những đồn đoán, suy luận thiếu căn cứ rằng sắp tới sẽ có thêm lãnh đạo A, lãnh đạo B bị xử lý... hòng gây hoang mang trong nhân dân. Rồi họ kết luận xằng bậy rằng “nhiều lãnh đạo cấp cao của Đảng bị kỷ luật, bị vướng vào lao lý do tham nhũng, tiêu cực chứng tỏ Đảng có lỗi hệ thống không thể khắc phục”. Từ đó, họ kêu gọi rằng “chỉ có thay đổi chế độ tại Việt Nam mới giải quyết được tận gốc vấn đề”.

Đáng tiếc là có những cán bộ, đảng viên và nhân dân đã tin theo những luận điệu sai trái ấy. Đã có những người bày tỏ tâm trạng bi quan, lo lắng cho sự tồn vong của chế độ ta. Cũng có những người vì tò mò, hiếu kỳ, muốn cập nhật các thông tin “nóng sốt”, những việc "thâm cung bí sử”, những "bí mật cung đình” mà không thể tìm thấy các loại thông tin ấy trên báo chí chính thống nên đã lên mạng xã hội để "hóng" và đã vô tình mắc bẫy kẻ xấu, thế lực thù địch.

Vì vậy, cán bộ, đảng viên cần hết sức tỉnh táo. Thứ nhất là, cần phải thấy rõ những thành tựu nổi bật của Việt Nam trên tất cả lĩnh vực, cùng với đó là uy tín quốc tế rất cao của đất nước ta trong những năm qua, từ đó hiểu được giá trị và vai trò lãnh đạo của Đảng trong tình hình hiện nay, phổ biến, lan tỏa ra quần chúng nhân dân. Thứ hai là, nhận thức được ý nghĩa quan trọng của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đối với sự bền vững của Đảng, của đất nước, từ đó thêm kiên trì, quyết tâm và tin tưởng tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh này. Thứ ba là, cán bộ, đảng viên cần phải gương mẫu, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng trong thực hiện nhiệm vụ. Cần loại trừ mọi biểu hiện tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.

Cũng rất cần tránh mọi biểu hiện “cua cậy càng, cá cậy vây”, hành động không vì lợi ích chung của Đảng, của đất nước, của nhân dân mà chỉ vì lợi ích cục bộ ích kỷ của bộ, ngành, cơ quan của mình và cá nhân mình. Nhân dân ta rất tinh tường, luôn phân biệt được rất rõ tốt-xấu, thật-giả. Cán bộ, đảng viên cần nhận thức rõ rằng: Sức mạnh vô song của Đảng ta, của đất nước ta chính là nhờ niềm tin của nhân dân với Đảng, với Nhà nước, từ đó đoàn kết được toàn thể dân tộc, toàn thể nhân dân. Thứ tư là, cần nhận thức rõ giá trị của ổn định chính trị đối với sự phát triển của đất nước; từ đó, trong mọi lời nói và việc làm nên hết sức cân nhắc, tránh tạo những tác động bất lợi. Thứ năm là, không xem, không tin, không tán phát thông tin trên các trang mạng của thế lực thù địch, phản động, các thông tin chưa được kiểm chứng. 

Cần khẳng định rằng, ổn định chính trị là vốn quý để phát triển đất nước. Tuy nhiên, ổn định chính trị không phải là thứ tài nguyên trời ban mà là nhờ năng lực và uy tín lãnh đạo của Đảng. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức rõ vấn đề này để có hành động đúng đắn nhằm giữ vững ổn định chính trị vì sự phát triển bền vững của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân.

 


Ổn định chính trị - Vốn quý để phát triển đất nước

 

Đối với đất nước ta, ổn định chính trị là tài sản vô giá. Điều này đã được minh chứng qua kết quả của gần 40 năm đổi mới, ổn định chính trị là nền tảng vững chắc để phát triển kinh tế đất nước, mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân.

Trong đánh giá của quốc tế về các yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của môi trường đầu tư tại Việt Nam thì ổn định chính trị luôn là yếu tố hàng đầu.  

Điều kiện sống còn để bảo vệ độc lập dân tộc, phát triển kinh tế

Ổn định chế độ chính trị là một hình thái đặc biệt của vận động xã hội-sự vận động trong trật tự, kỷ cương, bảo đảm các cấu trúc, chức năng cấu thành bản chất chế độ chính trị được giữ vững, tăng cường, không dẫn tới rối loạn, bất ổn. Ổn định chính trị là một nội dung cấu thành phát triển bền vững đất nước.

Trái lại, bất ổn chính trị có thể đe dọa lợi ích của mọi thành viên xã hội cũng như khả năng phát triển của đất nước trong hiện tại và tương lai. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, các bất ổn về kinh tế có thể được khắc phục thông qua kế hoạch ngắn hạn hoặc trung hạn, còn việc khắc phục bất ổn chính trị khó khăn hơn rất nhiều, không chỉ cần thời gian dài hơn, nguồn lực lớn hơn mà còn phải xử lý các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cực kỳ phức tạp.

Đằng sau các bất ổn chính trị là sự rạn nứt các khối đoàn kết xã hội, thậm chí các lực lượng chính trị, các giai tầng xã hội bị cuốn vào xung đột, chiến tranh, làm hao tổn nguồn lực quốc gia, ly tán lòng người, đất nước chia cắt, các thế lực ngoại bang nhân cơ hội can thiệp, ảnh hưởng đến độc lập và chủ quyền dân tộc, đất nước không chỉ bỏ lỡ các cơ hội phát triển mà còn đứng trước nhiều rủi ro. Phần lớn các cuộc xung đột tàn phá các quốc gia trong những năm gần đây đều khởi nguồn từ những bất ổn chính trị trong nước. Trong đó, có những cuộc xung đột đã kéo dài nhiều năm, không biết bao giờ mới kết thúc. 

Khi đổ vốn vào bất cứ quốc gia nào, nhất là những khoản đầu tư lớn, dài hạn, nhà đầu tư phải tìm hiểu cặn kẽ về môi trường chính trị, kinh tế, văn hóa, tôn giáo, dân cư của quốc gia đó. Mọi nguy cơ về bất ổn chính trị đều phải được nhà đầu tư phát hiện từ sớm, để từ đó có biện pháp ứng phó hoặc chọn quốc gia khác để đầu tư. Bởi vì những bất ổn về chính trị dễ dẫn tới những bất ổn về kinh tế, bất ổn về xã hội, gây rủi ro lớn cho nhà đầu tư. Thực tế cho thấy trong các cuộc biểu tình lớn trên thế giới, người biểu tình sẵn sàng tấn công, đập phá cơ sở sản xuất, kinh doanh, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp. Đầu tư vào một quốc gia có môi trường chính trị bất ổn chẳng khác nào ném tiền vào một canh bạc mà nhà đầu tư gần như cầm chắc phần thua.

Trải qua nhiều năm chiến tranh đau thương, đất nước bị chia cắt, bị tàn phá, dân tộc Việt Nam hiểu rất rõ giá trị của hòa bình, độc lập, thống nhất, giá trị của ổn định chính trị để phát triển đất nước, mang lại cuộc sống bình yên. Đối với Việt Nam, ổn định chính trị là điều kiện sống còn để bảo vệ độc lập dân tộc, ứng phó với các thách thức bên trong và bên ngoài. Bảo vệ Tổ quốc có nội dung cơ bản là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững ổn định chính trị.

Trong những năm gần đây, tình hình thế giới có nhiều biến động với những lò lửa chiến tranh, xung đột, căng thẳng địa chính trị giữa các nước trên thế giới, nhiều quốc gia bất ổn với những điểm nóng về sắc tộc, tôn giáo... gây e ngại cho nhà đầu tư thì Việt Nam có sức hút lớn nhờ luôn giữ được ổn định chính trị, ổn định kinh tế vĩ mô, có vị trí đắc địa trong giao thương và có chính sách ngoại giao đúng đắn, mở ra nhiều cơ hội hợp tác kinh tế. Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), quý I-2024, có hơn 6,17 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó, vốn đăng ký mới đạt hơn 4,77 tỷ USD, tăng 57,9% so với cùng kỳ năm 2023. Vì thế, ổn định chính trị chính là một thành tựu quan trọng từ sự lãnh đạo của Đảng ta.

Có thể nói, Việt Nam luôn giữ được ổn định chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vững vị thế lãnh đạo Nhà nước và xã hội, chính là vì Đảng có uy tín cao gần như tuyệt đối với nhân dân. Đạo đức của Đảng, trí tuệ của Đảng đã được minh chứng từ sự lãnh đạo tài tình của Đảng trong hơn 94 năm qua, trong các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và phát triển kinh tế. Chính vì tin Đảng, yêu Đảng mà nhân dân Việt Nam luôn theo Đảng, dù thử thách, gian lao đến mấy, khó khăn đến mấy cũng không sờn lòng. Sự lãnh đạo của Đảng không nhằm mục tiêu nào khác ngoài mục tiêu cao đẹp là phấn đấu đưa đất nước ta thành nước phát triển, có thu nhập cao, sánh vai với các cường quốc năm châu, nhân dân ấm no, hạnh phúc.

Bồi đắp tình cảm cách mạng

 

Niềm tin khoa học là có cơ sở để nuôi dưỡng và rèn luyện tình cảm cách mạng. Đó là một trong những động lực tinh thần mạnh mẽ nhất thúc đẩy hành động cách mạng. Tình cảm cách mạng được xây dựng trên các chuẩn mực đạo đức cần, kiệm, liêm, chính để chí công vô tư, đặt việc nước, việc dân lên trên hết, trước hết.

Khi cách mạng và Đảng cần, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải nêu cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, sẵn sàng hy sinh cả lợi ích và cuộc sống cá nhân riêng tư, vì sự nghiệp chung với tinh thần “dĩ công vi thượng” như Hồ Chí Minh nhấn mạnh. Còn nhớ, gần hai tháng trước khi mất, ngày 14-7-1969, trả lời phỏng vấn của nữ nhà báo Cuba-đồng chí Mácta Rôhát: “Đâu là điều thiêng liêng nhất?”, Người đã nói: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”. Đó là lẽ sống cao thượng được thúc đẩy suốt đời bởi tình cảm cách mạng của Hồ Chí Minh. Đó là đạo đức, là bản lĩnh văn hóa đạo đức của Hồ Chí Minh.

Những ai có tình cảm cách mạng trong sáng sẽ có sự bảo đảm bền bỉ để chống lại và đánh bại chủ nghĩa cá nhân-với lòng tham, tính tham, vụ lợi, vị kỷ-để thực hành lòng yêu nước, thương dân, nêu cao tinh thần trách nhiệm, để hy sinh và tự nguyện cống hiến, vì nước, vì dân. Tình cảm cách mạng xa lạ đối lập với thói vô trách nhiệm, sự hờ hững, hoài nghi, lãnh đạm, vô cảm mà không ít người mắc phải, trở nên suy thoái, hư hỏng, thành tù binh của chủ nghĩa cá nhân. Đến khi rơi vào những việc làm sai trái, những hành vi bất minh, bất chính, bất liêm, vô sỉ thì thành ra kẻ thù của nhân dân vì đã làm hại dân, hại nước.

Có tình cảm cách mạng mới có thể tâm huyết vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, mới có sức mạnh chống lại mọi sai trái, lỗi lầm, mới đủ dũng khí để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, mà thực chất là bảo vệ nhân dân. Một khi tình cảm cách mạng bị nguội lạnh thì niềm tin sẽ bị lung lay, suy yếu, thậm chí từ bỏ niềm tin, lý tưởng, lẽ sống chỉ vì sự cám dỗ của tiền bạc, danh vọng, địa vị, quyền lực. Rơi vào vô cảm, đó là sự suy đồi về đạo đức, nhân cách, không còn sức đề kháng để tự bảo vệ lương tâm, danh dự, liêm sỉ của mình, càng không thể bảo vệ Đảng, chế độ và nhân dân. Đủ hiểu vì sao, vào lúc này, Đảng ta đặc biệt coi trọng xây dựng Đảng về đạo đức, đề cao sự gương mẫu, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.

Kết quả tổng hợp từ giữ vững niềm tin khoa học và bồi đắp tình cảm cách mạng, thực hành đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, thực hành nhân-trí-dũng-liêm-trung từ vị tướng chỉ huy đến chiến sĩ, từ cán bộ lãnh đạo đến đảng viên và quần chúng sẽ dẫn đến bản lĩnh chính trị.

Bản lĩnh chính trị được hình thành, tôi luyện, thử thách trong thực tiễn, trong đối mặt trực tiếp, cọ xát trực tiếp với thực tiễn, tranh đấu với những tình huống phức tạp. Bản lĩnh chính trị có sức mạnh của trí tuệ khoa học, của đạo đức cách mạng, của cốt cách vững vàng về chính trị, không lung lay, dao động, không do dự, không tự đánh mất niềm tin, không xa dân-cội nguồn sức mạnh của Đảng.

Bản lĩnh chính trị là hành động chứ không phải lời nói suông, trung thực, nhất quán giữa nói và làm, không cơ hội, tùy thời, chỉ chăm lo cho cá nhân mình. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên trong đổi mới hiện nay là dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động quyết liệt vì lợi ích chung như Đảng đã nhấn mạnh.

Đảng ta khuyến khích những con người như thế và tìm tòi cơ chế để bảo vệ họ, đồng thời cũng áp dụng các chế tài cần thiết để xử lý những cán bộ, đảng viên từ bỏ trách nhiệm, không hành động vì sợ sai lầm, vì tìm sự an toàn cho riêng mình. Rơi vào trường hợp này thì không còn dũng khí, lòng trung thực và trách nhiệm vì sự nghiệp chung, không còn là bản lĩnh chính trị nữa mà trở thành vật cản đối với đổi mới và phát triển. Đó là những người “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”, tự coi mình ở ngoài cuộc, vô can, không chịu trách nhiệm, chỉ chăm lo vun vén, tìm kiếm lợi ích cho riêng mình.

Do đó, muốn có bản lĩnh chính trị để chủ động tham gia vào cuộc chiến đấu bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân thì phải đồng thời xây dựng niềm tin khoa học, bồi dưỡng tình cảm, đạo đức cách mạng, nêu cao tự phê bình và phê bình, củng cố sức mạnh của đoàn kết, dân chủ, đồng thuận từ trong Đảng đến trong dân và xã hội, thực hành “quyết tâm-tín tâm-đồng tâm” như chỉ dẫn của Bác Hồ.

Bản lĩnh chính trị là hạt nhân của văn hóa chính trị mà chúng ta phải dày công xây dựng. Chúng ta càng thấy dự cảm sâu sắc của Hồ Chí Minh khi Người nhấn mạnh: “Chính trị là đoàn kết và thanh khiết”, “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”.

Cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận càng diễn biến phức tạp bao nhiêu thì những điều cốt yếu nói trên càng cần thiết và quan trọng bấy nhiêu. Nó không chỉ bảo đảm cho nhận thức đúng mà còn là điểm tựa vững chắc cho hành động tự giác, sáng tạo, chủ động và tích cực của mỗi chúng ta trong cuộc đấu tranh chống lại các thế lực thù địch, để kiên định lý tưởng, mục tiêu và con đường đã lựa chọn: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, giữ vững định hướng XHCN của sự nghiệp đổi mới, xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Giữ vững niềm tin khoa học

 

Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh vạch trần những luận điệu xuyên tạc, giả dối, gạt bỏ những luồng thông tin xấu độc làm ô nhiễm môi trường tinh thần của xã hội, chúng ta cần giữ vững niềm tin khoa học, bồi dưỡng tình cảm cách mạng và trau dồi bản lĩnh chính trị. Đó là ba điều cốt yếu để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và bảo vệ nhân dân.

Niềm tin khoa học là niềm tin dựa trên cơ sở khoa học, nắm vững lý luận khoa học và cách mạng, hiểu biết quy luật để nhận thức đúng xu thế vận động, biến đổi và phát triển của lịch sử một cách tất yếu, khách quan.

Niềm tin khoa học không tự có sẵn, không hình thành dễ dàng chỉ một lần là xong và có mãi. Nhận thức là một quá trình, từ hiện tượng tới bản chất, từ đơn giản đến phức tạp, không ngừng khám phá, sáng tạo để nắm vững chân lý và hành động tự giác theo chân lý, theo quy luật.

Niềm tin khoa học do đó gắn liền với trình độ học vấn, học thức, với sự trưởng thành của tư duy lý luận, của phương pháp tư duy khoa học. Con người ta không chỉ lĩnh hội tri thức trong sách vở, qua học tập, lại phải có nhu cầu tự học suốt đời, có thói quen tự tu dưỡng, tự rèn luyện như một nhu cầu văn hóa, để tự làm mới nhận thức của mình mà còn phải chú trọng thực hành trong thực tiễn. Hồ Chí Minh là một kiểu mẫu về tự học-học trong nhà trường, học qua sách vở và nhất là học trong trường đời thực tiễn, học dân, hỏi dân để hiểu dân, tin dân.

Để có niềm tin khoa học, niềm tin của trí tuệ, niềm tin được dẫn dắt và thúc đẩy bởi lý luận khoa học và cách mạng, vượt lên kinh nghiệm và chủ nghĩa kinh nghiệm thực dụng, thiển cận, tầm thường, tự thanh toán khỏi mình bệnh giáo điều, sách vở, chủ quan duy ý chí, bệnh hình thức, lý luận suông và cả thói coi khinh lý luận, tự trói buộc mình bởi chủ nghĩa kinh nghiệm... cần phải thực hành lý luận trong thực tiễn và từ thực tiễn mà kiểm chứng lý luận, phát hiện lý luận mới. Người có niềm tin khoa học là người có năng lực sáng tạo, có tinh thần đổi mới và tự đổi mới, nhạy cảm với cái mới, có đầu óc phê phán cái cũ lạc hậu, lỗi thời, cái sai trái, cái giả để khẳng định và tin theo cái đúng, cái tốt, cái thật. Như thế, niềm tin khoa học hội tụ cả năng lực khoa học, cả phẩm chất đạo đức và về mặt giá trị, đó là một giá trị văn hóa, hướng tới chân-thiện-mỹ.

Niềm tin khoa học mang sức mạnh của lý tính, lý trí, tỉnh táo, sáng suốt, được chứng thực, thử thách trong thực tiễn. Vào năm 1959, trong chuyến thăm Indonesia, nói chuyện trước giới trí thức khoa học tại trường đại học ở thủ đô Jakarta, Hồ Chí Minh khiêm tốn nói trước các học giả nước bạn về việc tự học của mình. Người khẳng định rằng, chính thực tiễn cuộc sống và trong đấu tranh cách mạng mà Người lĩnh hội được những tri thức đích thực. Đó là những tri thức đáng tin cậy nhất. Từ trong kháng chiến, khi viết các tác phẩm “Đời sống mới” và “Sửa đổi lối làm việc”, Người căn dặn chúng ta, về mặt giáo dục và nhà trường, “phải đặc biệt chú trọng dạy và học các môn khoa học về tinh thần và đạo đức”.

Thống nhất lý luận với thực tiễn, theo Hồ Chí Minh là bản chất tối cao của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Đó là bảo đảm chắc chắn để xây dựng niềm tin khoa học duy vật và biện chứng. Nhờ đó, không trì trệ, bảo thủ, chủ quan, tư biện mà cũng không cực đoan, siêu hình, không phiêu lưu mù quáng. Niềm tin khoa học là cơ sở của lòng trung thành xét về mặt lý luận, của tinh thần lạc quan cách mạng vì giác ngộ chân lý và quy luật, vững tin ở triển vọng tương lai ngay cả khi gặp khó khăn, thử thách. “Thắng không kiêu, bại không nản” là vì vậy. Khi khẳng định: “Ta nhất định thắng, địch nhất định thua”, “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”, Hồ Chí Minh thể hiện rõ rệt một niềm tin khoa học mãnh liệt và Người đã gieo niềm tin, truyền cảm hứng cho mỗi chúng ta. 

Chính nhờ vững vàng, kiên định niềm tin khoa học ấy mà chúng ta tin tưởng ở Đảng khi Đảng quyết định đổi mới và hội nhập. Vào lúc thử thách hiểm nghèo khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đông Âu đổ vỡ chế độ XHCN, Đảng ta nhanh chóng đưa ra Cương lĩnh 1991 thay Cương lĩnh 1951, lại được bổ sung phát triển ở Cương lĩnh 2011. Đảng ta khẳng định rằng dù có trải qua những bước quanh co phức tạp nhưng chủ nghĩa xã hội (CNXH) vẫn là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử loài người. Triển vọng tốt đẹp thuộc về CNXH chứ không phải chủ nghĩa tư bản, dù chủ nghĩa tư bản đã trở thành chủ nghĩa tư bản hiện đại. Tuyên bố chính trị đó của Đảng nhanh chóng trở thành ngọn cờ tập hợp các lực lượng cách mạng trong nước và có tầm ảnh hưởng quốc tế, củng cố niềm tin khoa học và niềm tự hào chính đáng của chúng ta về truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng. Với Đảng, nhờ có niềm tin khoa học mà Đảng ta giữ vững được phương hướng chính trị, có đường lối đúng, đưa nước ta vượt qua khủng hoảng, tồn tại và phát triển như ngày nay. Dân tin Đảng, niềm tin đó của dân được Đảng ta coi là tài sản vô giá phải giữ gìn và phát huy, không được suy giảm, càng không thể mất. Đó cũng là niềm tin khoa học và sự thủy chung của Đảng đối với nhân dân và dân tộc ta.

Văn kiện Đại hội XIII nêu cao khát vọng phát triển đất nước, khơi gợi và phát huy tinh thần cống hiến của mỗi người dân, tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, coi trọng công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Đó là những quyết sách chiến lược vô cùng quan trọng và cần thiết. Đảng ta cũng nhấn mạnh phải đổi mới mạnh mẽ thể chế phát triển, để thực hiện thành công các đột phá chiến lược đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Niềm tin khoa học cho chúng ta sức mạnh để khát vọng đó trở thành hiện thực.

Thói xu nịnh và giá trị ảo

 

Thói xu nịnh tưởng chừng vô hại, nghe vui tai, nhưng thực chất lại nguy hại khôn lường vì nó dẫn tới sự mất tỉnh táo, bị nhầm lẫn bởi giá trị ảo, từ đó đưa ra những lựa chọn sai, những quyết định sai.

Một cơ quan, tổ chức bị lũng đoạn bởi thói xu nịnh sẽ suy thoái, đánh mất niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, không thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.  

Kể từ khi xuất hiện trên trái đất, để tồn tại và phát triển, con người luôn phải nhận thức đúng về thế giới xung quanh với khát khao tìm ra chân lý. Bởi chỉ khi nhận thức đúng, con người mới có thể ứng xử, tác động đúng đắn, hiệu quả nhất vào thế giới xung quanh. Thế nhưng, con đường tìm ra chân lý, sự thật không dễ. Với bản tính ưa nghe nói ngọt, thích nghe những lời đường mật, không thích lời nói trái tai, con người dễ bị dẫn dụ, huyễn hoặc bởi các giá trị ảo, ảo tưởng về bản thân, từ đó có những cách ứng xử sai lầm. Tại cơ quan công quyền, cái nhìn của nhà lãnh đạo nhiều khi bị che phủ bởi ngôn từ và hành vi xảo quyệt của những kẻ xu nịnh, dối trá.

Lịch sử thế giới ghi nhận tên nịnh thần Hòa Thân thời nhà Thanh ở Trung Quốc đã tham nhũng, lũng đoạn cả quốc gia. Trong lịch sử dân tộc ta, nhiều bậc danh nhân lớn như: Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn... đều khuyên can vua, chúa nghiêm trị bọn xu nịnh. Bởi thực tế chỉ ra, nịnh thần chính là gian thần. Trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án gay gắt bệnh “xu nịnh, a dua”, “bốc thơm” cấp trên. Người cảnh báo: Mắc căn bệnh đó sẽ làm hư hỏng cán bộ, ảnh hưởng đến sự nghiệp chung. Từ đó, Người dạy cán bộ, đảng viên rằng: "Phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn nịnh bợ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt".

Sự nguy hại và hậu quả của thói xu nịnh là đáng sợ, nhưng chúng ta chưa nhận diện đầy đủ, đấu tranh chống lại một cách thực sự quyết liệt. Vấn đề đặt ra là biểu hiện này không vi phạm pháp luật, chưa có chế tài xử lý mang tính định lượng, nhưng để tồn tại dai dẳng trong tổ chức là rất nguy hiểm. 

Ngày 13-3, tại Hà Nội, chủ trì phiên họp của Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng tiểu ban đã nhấn mạnh: Không để lọt vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV những người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, quan liêu, cục bộ, vận động cho cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm; thiếu chính kiến, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh. “Phải bằng mọi biện pháp dứt khoát không đưa vào cơ quan lãnh đạo những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người đã phạm sai lầm hoặc sa sút về phẩm chất, đạo đức, vướng vào tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, hống hách, gia trưởng, nịnh trên, nạt dưới, bao che cho tội phạm, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng. Để những người đó lọt được vào cương vị lãnh đạo là tai họa cho Đảng, là tạo điều kiện cho họ càng hại nước, hại dân nhiều hơn”, Tổng Bí thư nêu rõ.

Thực tế chỉ ra rằng, lãnh đạo cơ quan mà ưa xu nịnh thì dần dần sẽ không biết được thực chất công việc, thực chất cơ quan, thực chất năng lực cũng như đạo đức của cán bộ dưới quyền và ngay cả thực chất chính bản thân mình. Một cơ quan, tổ chức để thói xu nịnh lộng hành, lấn lướt thì sẽ không còn những ý kiến ngay thẳng, không còn những tham mưu đúng đắn, mà tất cả chỉ nhất nhất lắng nghe lãnh đạo, làm theo ý lãnh đạo, bất chấp điều đó là hợp lý hay không hợp lý, đúng hay sai. Đó cũng chính là biểu hiện “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”.

Nịnh bợ là một tính cách và thủ đoạn xấu, là một trong những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, cơ hội. Tuy nịnh bợ không được định danh như một hành vi phạm pháp, không có chế tài xử lý theo pháp luật nhưng nịnh bợ thường đi kèm với các hành vi vi phạm pháp luật khác như hối lộ, tham nhũng.

Vì có kẻ ưa nịnh nên mới có kẻ xu nịnh. Kẻ xu nịnh dễ được ưu ái, trọng dụng, cất nhắc, thăng quan tiến chức, lên lương, khen thưởng. Kẻ xu nịnh và kẻ ưa nịnh dễ liên kết với nhau thành lợi ích nhóm, tham nhũng, tiêu cực. Kẻ xu nịnh bất chấp thủ đoạn, miễn là đạt được mục đích, thường là chi nhiều tiền để hối lộ, không tiếc lời khen ngợi, "bốc thơm" kẻ ưa nịnh.

Có thể dễ dàng nhận ra những biểu hiện của kẻ xu nịnh. Trước tiên là thái độ xun xoe, chiều lòng cấp trên bằng mọi giá, coi mọi lời lãnh đạo nói ra đều là chân lý, ngợi ca lãnh đạo trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh, cả trước mặt và sau lưng để cấp trên nghĩ rằng: Cậu ấy hay cô ấy là người tốt, là người tâm phúc, thẳng thắn, trước sau như một.

Thậm chí mọi thói quen, sở thích của lãnh đạo cũng được kẻ xu nịnh nghiên cứu rất kỹ, chăm sóc chu đáo, ngợi ca: Nào là đánh tennis “dũng mãnh”, đánh golf “thần sầu”, nào là câu cá “sát thủ”, nào là chơi đồ cổ “tinh tế”... rồi cung phụng nào là rượu ngon, xì gà xịn, tiệc tùng liên miên... Mọi việc của gia đình lãnh đạo sẽ được săn sóc chu đáo, tận tình từ giỗ, tết đến việc hiếu hỷ, ốm đau, những ngày kỷ niệm... Đặc biệt, những người thân của lãnh đạo sẽ được chiều chuộng hết mức để qua đó, kẻ xu nịnh lấy lòng sếp và người thân.

Kẻ xu nịnh và kẻ ưa nịnh đều tự hủy hoại nhân cách của mình, làm băng hoại đạo đức xã hội, làm hại người tốt, gây mất đoàn kết trong nội bộ cơ quan, tổ chức, gây ra tệ tham nhũng, tiêu cực, chạy chọt... Thủ trưởng ưa xu nịnh, lại chuyên quyền, công tác phê bình và tự phê bình kém hiệu quả là một trong những lý do dẫn tới sự tê liệt của các tổ chức đảng. Đến một ngày nào đó, chính lãnh đạo ưa nịnh sẽ "há miệng mắc quai" khi ngập sâu vào quan hệ tiền bạc và đặc biệt là một số quan hệ thầm kín, bất chính với kẻ xu nịnh, đành "đâm lao phải theo lao", chịu sự điều khiển của kẻ đã nịnh mình và thế lực xấu.

Khi kẻ xu nịnh được cất nhắc sẽ gây ra nhiều tác hại. Thứ nhất, vì thiếu tài, thiếu đức, kẻ xu nịnh tiến thân được chủ yếu bằng luồn lách, hối lộ nên khi đã lên chức thường sẽ tranh thủ kiếm chác, vơ vét, tham nhũng để bù lại chi phí đã “đầu tư” mà ít nghĩ đến lợi ích chung. Thứ hai, bản chất của xu nịnh là dối trá nên những kẻ xu nịnh không bao giờ trung thực, luôn "dối trên, gạt dưới", "nịnh trên, nạt dưới". Và như vậy sẽ làm hư hỏng bộ máy công quyền. Thứ ba, những kẻ xu nịnh khi nắm quyền lực sẽ chỉ lựa chọn những kẻ xu nịnh, hư hỏng khác, theo kiểu "ngưu tầm ngưu, mã tầm mã", hình thành nên nhóm lợi ích, làm cho môi trường công vụ tại cơ quan, tổ chức trở nên thiếu lành mạnh.

Do đó, nhận diện và có các biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn thói xu nịnh trong cơ quan, tổ chức là vấn đề cấp thiết hiện nay. Để làm được điều đó cần phải quan tâm các nội dung: Thứ nhất, cán bộ, đảng viên cần tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, trong đó có tệ xu nịnh. Thứ hai, các cấp ủy đảng, các cấp chính quyền và cơ quan, đơn vị làm công tác cán bộ phải kiên quyết đấu tranh chống tệ xu nịnh; không bố trí, đề bạt cán bộ xu nịnh và ưa nịnh. Tuy khó có thể xử lý hành vi nịnh bợ bằng quy định pháp luật nhưng có thể điều chỉnh bằng đạo đức công vụ và quy định của Đảng. 

Thứ ba, đấu tranh chống tệ xu nịnh bằng việc thực hiện tốt công tác phê bình và tự phê bình, lấy dư luận xã hội rộng rãi lên án mạnh mẽ tệ nạn này. Tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể, tổ chức quần chúng, báo chí, văn học-nghệ thuật... cần có tiếng nói mạnh mẽ, trực diện trước những biểu hiện của tệ xu nịnh. Thứ tư, giải pháp quan trọng bậc nhất chính là cách hành xử đúng đắn của người lãnh đạo, quản lý. Đức độ và tài năng của người lãnh đạo không chỉ biểu hiện ở sự điều hành đơn vị, tổ chức cơ quan mà đặc biệt trong công tác cán bộ còn phải có con mắt tinh đời, nhìn rõ ngay-gian, phải nhanh chóng phát hiện ra những con sâu xu nịnh để phòng ngừa và loại bỏ chúng. Tuyệt đối tránh sa bẫy của kẻ xu nịnh. Và càng không bao giờ cất nhắc kẻ xu nịnh. Nhà lãnh đạo giỏi là người biết phát huy sức mạnh tập thể, coi trọng thực hiện quy chế dân chủ ở cơ quan, dùng tai mắt của quần chúng trong đơn vị, dư luận của nhân dân mà tham vấn, xem xét, đánh giá con người chứ không thể nhìn một chiều bằng cảm xúc cá nhân của mình trong công tác nhân sự.

Tóm lại, phải có giải pháp ngăn chặn để xu nịnh không thể trở thành một phong cách, một phương thức hữu hiệu đưa cán bộ có năng lực yếu, đạo đức kém tiến thân và là chất xúc tác cho tham nhũng, tiêu cực./.