Thứ Sáu, 12 tháng 9, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: I.V. STALIN - HUYỀN THOẠI VÀ SỰ THẬT.

Sau khi I. V. Stalin mất, chủ nghĩa xét lại bắt đầu hoành hành. Và I. V. Stalin đã tiên đoán đúng, người ta đã đổ rác lên ngôi mộ của ông. Bộ máy truyền thông Mỹ và phương Tây còn kinh khủng hơn, muốn biến I. V. Stalin từ một anh hùng trở thành kẻ tội đồ. Và cái gọi là “chủ nghĩa sùng bái Stalin” được chính bộ máy này nặn ra… Nhưng sự thật rồi vẫn là sự thật…

Nếu lần giở lại lịch sử Liên Xô trong thời kỳ I. V. Stalin làm lãnh tụ Đảng và Nhà nước cũng như tiếp xúc với các nhân chứng đều thấy, thiên hạ đã hiểu về ông qua những đống rác mà những kẻ thù của ông, những người bị ông trừng phạt đã đổ lên mộ ông.
Đặc biệt, mọi yếu kém của bộ máy tình báo, phản gián dẫn đến hàng trăm nghìn vụ án oan sai thời kỳ 1936-1938 cũng đều được quy cho ông. Là lãnh đạo tối cao, đương nhiên I. V. Stalin phải chịu trách nhiệm liên đới về toàn bộ những vết đen đó; tuy nhiên, cả bộ máy truyền thông phương Tây thổi phồng những thông tin bịa đặt, xuyên tạc, biến trách nhiệm liên đới gián tiếp của ông thành trách nhiệm trực tiếp. Nhưng những gì có thật đã cho thấy, I. V. Stalin thật đáng kính trọng…

• Cấp bậc hàm và bộ quân phục Đại nguyên soái:
Ngày 27/6/1945, để ghi nhận I. V. Stalin là Thống soái cao nhất trong các nguyên soái và tướng lĩnh, Xô viết tối cao Liên Xô đã thông qua một Nghị quyết về việc thiết lập một cấp bậc mới được đặt ra là Đại Nguyên soái Liên bang Xôviết (Генералиссимус Советского Союза) để phong cho Stalin. 
Một bản thảo nghị quyết đã được chuyển đến cho I. V. Stalin để ông ký ban hành bằng một sắc lệnh. Cục Quân nhu thuộc Tổng cục Hậu cần quân đội Liên Xô cũng thiết kế một bộ quân phục giành riêng cho cấp bậc hàm Đại nguyên soái. Trong buổi làm việc tối 27/6, A. I. Antonov và S. M. Stemenko thấy trung tướng P. I. Drachev - Cục trưởng Cục quân nhu - đang chờ ở phòng thư ký “diện” một bộ đồ trông khá lạ mắt, sặc sỡ:
Áo khoác ngoài may theo kiểu thời M. I. Kutuzov, cổ đứng cao đính cành tùng kim tuyến, ngù vai đính kim tuyến, cầu vai có Quốc huy Liên Xô và ngôi sao vàng rất to. Quần thì may theo kiểu hiện đại, có những sọc tua vàng lấp lánh. Khi A. I. Antonov hỏi thì P. I. Drachev trả lời, đó là bộ quân phục may cho Đại nguyên soái, đang chờ phê chuẩn.
Khi trong phòng làm việc của Tổng tư lệnh tối cao đã có đủ mặt các nguyên soái, tướng lĩnh của Bộ Tổng tham mưu, I. V. Stalin sau khi nghe đại tướng A. V. Khruliov -Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần - báo cáo về một mẫu quân phục mới đã vui vẻ nói: “Nào, đem vào đây để cả Bộ Tổng tham mưu cùng xem”. P. I. Drachev bước vào, I. V. Stalin đưa mắt nhìn qua rồi sầm mặt lại. Ông đoán biết ai sẽ mặc bộ quân phục này.
Ông hỏi A. V. Khruliov: “- Đồng chí định may bộ quần áo này cho ai ?” A. V. Khruliov đáp: “- Thưa, Bộ quân phục này dự định may cho Đại nguyên soái.” I. V. Staln hỏi lại: “- Cho ai ?” A. I. Khruliov đáp lí nhí: “- Cho đồng chí, thưa đồng chí Stalin.”
I. V. Stalin cho P. I. Drachev ra về và nói một thôi một hồi. Ông phản đối sự đề cao đặc biệt đối với bản thân ông, cho rằng đó là một việc làm ngu ngốc, không ngờ Chủ nhiệm Hậu cần lại làm ăn như vậy. I. V. Stalin đến bàn làm việc, cầm bản dự thảo Nghị quyết của Xô Viết tối cao về việc thiết lập cấp bậc quân hàm Đại nguyên soái, đưa cho A. I. Antoniov và nói: “- Tôi không bao giờ ký văn bản này. Tổng tham mưu trưởng cùng với P. N. Poskriobyshev thảo công văn của tôi, trả lời Xô Viết tối cao là tôi không chấp nhận nghị quyết đó”.
Cuối cùng, Liên Xô không hề có cấp bậc quân hàm Đại nguyên soái và đến những ngày cuối đời, I. V. Stalin vẫn chỉ mặc quân phục Nguyên soái như tất cả các nguyên soái Liên Xô khác.

• Quà tặng của Thủ tướng Anh và những quả dưa hấu ở Kuntsevo:
Đầu tháng 10/1944, Thủ tướng Anh Winston Churchill và ngoại trưởng Anh Robert Anthony Eden đến Moskva thăm Liên Xô theo lời mời của I. V. Stalin. Winston Churchill muốn tìm hiểu khả năng tham chiến chống phát xít Nhật của Liên Xô ở Viễn Đông và mặt trận Thái Bình Dương, còn Liên Xô thì muốn tìm hiểu khả năng tấn công của quân đồng minh Anh – Mỹ ở mặt trận phía Tây. 
Trong hội đàm, Winston Churchill đề nghị Quân đội Liên Xô sớm mở cuộc tấn công để chia sẻ khó khăn với quân đồng minh Anh - Mỹ vừa thất bại trong chiến dịch Market Garden tại Arnhem. Sau khi đoàn Anh ra về, I.V. Stalin gọi P. N. Poskriobyshev đến và nói: “- Churchill vừa tặng tôi mấy thùng rượu Wishky và Cigare, anh đem chuyển hết cho quân đội”. Ông quay sang A. I. Antonov và S. M. Stemenko bảo: “- Các đồng chí thử nếm xem. Chắc cũng không đến nỗi tồi”.

• Đến cuối đời, I. V. Stalin có hút thuốc điếu trong các lần tiếp khách nhưng nói chung, ông trung thành với cái tẩu của mình. Mỗi lần dùng thuốc, ông lấy ra hai điếu thuốc quấn Herszegovina rất nặng, xé bỏ giấy, nhồi vào tẩu và lặng lẽ châm lửa hút.
I. V. Stalin rất thích làm vườn; tuy nhiên, trong thời chiến ông không có thì giờ. Trong một lần tiếp các nguyên soái, tướng lĩnh đến báo cáo, xin phê chuẩn các kế hoạch, quyết định, công văn tại Kuntsevo, ông dẫn họ ra khu vườn của mình, chỉ vào một nhỏ có bóng cây và bảo: “- Sau chiến tranh, sẽ có dưa hấu mọc lên ở chỗ này”. A. I. Antonov và S. M. Stemenko nhìn nhau tỏ vẻ không tin, bởi đây là Moskva chứ không phải Kuban hay Gruzia. 
Chiến tranh kết thúc, bẵng đi một thời gian, chẳng ai nhớ đến lời hứa của I. V. Stalin. Vào mùa hè năm 1947, Quân đội Liên Xô tổ chức biểu diễn hàng không lớn ở Tushino. Kết thúc buổi trình diễn, I. V. Stalin mời các Ủy viên Bộ Chính trị và các thành viên Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao về nhà mình ăn cơm thân mật.
Lần này, bữa tiệc được tổ chức ngoài trời trong khu vườn của I. V. Stalin. Ăn xong, I. V. Stalin dẫn quan khách đến một gò đất nhỏ, trên gò là mấy chục cây dưa hấu sum suê dây lá. I. V. Stalin chọn lấy một quả to nhất mang về đặt lên bàn, tự tay bổ ra và chia cho mọi người cùng ăn. Dưa đỏ thẫm và khá ngọt. Mọi người đều rất ngạc nhiên, không ai nghĩ rằng trên mảnh đất ngoại ô Moskva lại có thể trồng được giống dưa hấu to và ngọt chẳng khác gì ở Kuban và Grozhnyi.
Xung quanh ngôi nhà của I. V. Stalin tại Kuntsevo thường trồng rất nhiều hoa, cây cối và cỏ. Ông không cho phép cắt tỉa chúng. Ông thích tự nhiên phải được tự nhiên, không có bàn tay con người cắt xén. Cánh rừng xung quanh khoảnh đất của nhà ông đều sum suê cây cối và hoa cỏ, trên các thân cây không có một vết rìu, dao nào. Gần nhà ông còn có các tổ chim, tổ sóc trên các thân cây khô. Ông gọi đó là vương quốc của chúng. Ông cũng tự tay đóng một cái bàn nhỏ, đặt dưới một gốc cây và hàng ngày ra đó cho chim ăn.

• I. V. Stalin ít khi tìm đến các bác sĩ. Ông có thị lực rất tốt và cho đến cuối đời vẫn không cần dùng đến kính. Ông chỉ chịu cho các bác sĩ thăm khám theo quy định về kiểm tra sức khỏe định kỳ đối với các cán bộ lãnh đạo. Một lần, S. M. Stemanko đến nhà ông ở Kuntsevo để báo cáo công tác.
Khi đó, I. V. Stalin đang nằm trên một tấm ván, dưới tấm ván kê những viên gạch nướng rất nóng. Ông thường dùng cách này để chữa chứng đau lưng khi tuổi già. Ngày 5/3/1953, I. V. Stalin đột ngột qua đời ở tuổi 74. Cái chết của ông do chứng cao huyết áp dẫn đến vỡ mạch máu não chứ I. V. Stalin không có bệnh tật nào khác...

• Vợ đầu của I. V. Stalin là bà Ekaterina Svanidze, vì bị bệnh viêm ruột thừa, đã qua đời năm 1906, chỉ 1 năm sau khi kết hôn với I. V. Stalin; để lại cho ông người con trai có tên Yakov Dzhugashvili, sau này là đại úy bộ binh Hồng quân Liên Xô, bị quân đội phát xít Đức bắt năm 1941 và bị sát hại tại trại tù binh năm 1943. 
Vợ sau của I. V. Stalin là bà Nadezhda Sergeyevna Alliluyeva, có một con trai và một con gái với I. V. Stalin nhưng cũng qua đời sớm năm 1932 vì bệnh viêm phổi cấp. Từ đó, I. V. Stalin ở vậy, sống độc thân ở Kuntsevo cho tới khi qua đời./.
Yêu nước ST.

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2025

Đặc điểm tư tưởng xã hội chủ nghĩa từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII


Một là, phản ánh bước tiến xã hội giai đoạn chủ nghĩa tư bản đang hình thành, biến đổi và sự suy đồi của của chế độ phong kiến. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời kỳ từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII nảy sinh trong quá trình châu Âu và Mỹ có sự chuyển biến từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa, sự xác lập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trên phạm vi thế giới. Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời kỳ này phản ánh sinh động diễn biến, tư tưởng trong cuộc cách mạng tư sản ở Tây Âu và Bắc Mỹ chống lại chế độ phong kiến, từng bước thiết lập hệ thống chính trị tư sản.

Hai là, có tính hệ thống và khá toàn diện trong đó thể hiện nổi bật tư tưởng công hữu về ruộng đất và bình đẳng xã hội mặc dù còn sơ khai và còn nhiều hạn chế. Với các cấp độ khác nhau, tư tưởng xã hội chủ nghĩa của các đại biểu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII dần dần được đúc kết có tính hệ thống, hình thức thể hiện tư tưởng có sự phân tích, lập luận logic.

Ba là, con đường và phương pháp mang tính bạo lực là chủ yếu. Nếu như tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời kỳ cổ đại, trung đại mới dừng lại ở khát vọng, mơ ước về một xã hội tương lai tốt đẹp bằng con đường, phương pháp để hiện thực hóa những mong ước đó là lý tưởng hóa trạng thái xã hội tốt đẹp của con người trong các áng văn, thơ, tiểu thuyết, giáo lý tôn giáo; đến thời kỳ này, tư tưởng về con đường và phương pháp xây dựng xã hội mới đa số mang tính bạo lực.

Bốn là, hình thức tư tưởng đa dạng, với nhiều dự án xã hội. Các đại biểu tư tưởng xã hội chủ nghĩa từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII đã biểu đạt tư tưởng của mình dưới nhiều hình thức đa dạng như thông qua một câu chuyện hư cấu, hoặc dưới dạng một luận văn, cương lĩnh cách mạng để thể hiện hiện tính phong phú, muôn vẻ của xã hội trong tương lai.

Năm là, vẫn thiếu tính lý luận, còn mang nặng tính ảo tưởng, xa rời thực tế. Mặc dù tư tưởng xã hội chủ nghĩa của các đại biểu thời kỳ này được thể hiện đa dạng, dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng nhìn chung vẫn thiếu tính lý luận, còn mang nặng tính ảo tưởng, thiếu thực tế, nặng về duy tình.

 

 

 

 

 

 

 

  

Giá trị và hạn chế trong tư tưởng xã hội chủ nghĩa của các đại biểu theo tư tưởng không tưởng


Về giá trị

Trước hết, tư tưởng xã hội chủ nghĩa của các đại biểu thế kỷ XVIII chứa đựng giá trị nhân đạo nhân văn sâu sắc. Các tư tưởng xã hội chủ nghĩa thế kỷ XVIII đều phản ánh lý tưởng giải phóng con người, những người lao động bị áp bức bóc lột, mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc rộng lớn nó bênh vực, thông cảm và thương xót đại đa số nhân dân lao động nghèo khổ, bị áp bức bóc lột thậm tệ với các tai họa và tệ nạn xã hội trong các chế độ tư hữu và giải phóng họ khỏi các chế độ đó.

Hai là, tư tưởng xã hội chủ nghĩa của các đại biểu thế kỷ XVIII đã lên án, phê phán chế độ tư hữu sâu sắc. Nhìn chung các tư tưởng xã hội chủ nghĩa thế kỷ XVIII đều phê phán lên án chế độ tư hữu, sự áp bức bóc lột bất công. Đặc biệt là phê phán sự phân chia giai cấp, đẳng cấp xã hội. Qua đó, vạch trần bản chất bóc lột và tội ác xấu xa của giai cấp thống trị cũng như chế độ xã hội đương thời.

Ba là, tư tưởng xã hội chủ nghĩa của các đại biểu thế kỷ XVIII có giá trị thức tỉnh đa số nhân dân lao động. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa của các đại biểu thời kỳ này đã góp phần cổ vũ, thúc đẩy tinh thần đấu tranh cách mạng của quần chúng lao khổ, kêu gọi nhân dân lao động vùng dậy đấu tranh chống lại chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột, bất công…dù là đấu tranh tự phát, vô vọng, hay thất bại.

Bốn là, tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời kỳ này đã phác thảo “mô hình” chung về một xã hội mới mang tính xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa thế kỷ thế kỷ XVIII đã phác thảo mô hình xã hội mới tốt đẹp trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị văn hóa, xã hội. Nhìn chung các tư tưởng xã hội chủ nghĩa thế kỷ XVIII đều thể hiện tinh thần bình đẳng yêu thương nhau, mọi người đều được học hành, vui chơi, hôn nhân và gia đình được tự do, hạnh phúc, văn hóa, xã hội công bằng văn minh.

Về hạn chế

Một là, chưa phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Mặc dù, các nhà tư tưởng chủ nghĩa xã hội thế kỷ XVIII đã bênh vực những người nghèo khổ, song chưa ai trong số họ nhìn thấy nhân tố cách mạng trong những người nghèo khổ; chưa ai phát hiện ra lực lượng xã hội có tiên phong có thể thực hiện cuộc chuyển biến cách mạng từ tư bản chủ nghĩa lên cộng sản chủ nghĩa.

Hai là, chưa thấy được con đường để đi tới xã hội tương lai tốt đẹp. Các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời kỳ này mong muốn một xã hội tốt đẹp nhưng họ chủ trương đi đến xã hội công bằng bằng con đường cải cách dần dần, thuyết phục giáo hóa bằng tư tưởng chứ không phải bằng con đường đấu tranh cách mạng, cải biến cách mạng. 

Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng của Grắccơ Babớp (1760-1797)

 


Grắccơ Babớp tên thường gọi là Ph.răng xoa Nôen. G.Babớp sinh 1760, trong một gia đình công nhân nghèo. Năm 20 tuổi ông làm nhân viên lưu trữ hồ sơ. Công việc này đã giúp ông có điều kiện tiếp xúc nhiều nguồn tư liệu, qua đó nâng cao hiểu biết về nhiều lĩnh vực xã hội. G.Babớp hiểu rõ cơ chế thống trị của giới quý tộc. Từ đó, Ông có thái độ căm ghét chế độ phong kiến sâu sắc.

Khi cuộc cách mạng 1789 nổ ra, G.Babớp đang sống ở Pari và tích cực tham gia vào cuộc cách mạng như nhiều thanh niên lúc bấy giờ. Sau cuộc chính biến ngày 9 tháng Nóng năm 1794, ông bị bắt và bị cầm tù ở nhà tù Arát năm 1795. Thời gian này đánh dấu sự phát triển tư tưởng xã hội chủ nghĩa của ông. Tháng 10.1795, ông được thả ra cùng với một số bạn chiến đấu của mình. Cuối năm đó, ông tổ chức một Hội mang tên “Câu lạc bộ Păngtêông”. Các thành viên chủ chốt của Hội có tư tưởng cách mạng, chống giai cấp tư sản. Họ đã tiến hành các hoạt động tuyên truyền cổ động, tập hợp lực lượng cách mạng.

Để tuyên truyền những tư tưởng cộng sản, phái Babớp đã xuất bản hai tạp chí “Diễn đàn nhân dân” và “Người khai sáng”. Tuy nhiên, kế hoạch khởi nghĩa của G.Babớp và các chiến hữu của ông bị bại lộ, nhiều người tham gia bị bắt và bị kết án. Babớp bị xử chém vào ngày 27/5/1797.

Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa của G.Babớp

Trong quan niệm của G.Babớp về chủ nghĩa xã hội, ông chịu ảnh hưởng tư tưởng của chủ nghĩa duy vật Pháp thế kỷ XVIII, tư tưởng về một cuộc cách mạng của nhân dân lật đổ chế độ bóc lột của G.Mêliê, chủ nghĩa cộng sản không tưởng của Ph.Morenly với kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của khuynh hướng cực tả của cách mạng Pháp.

G.Babớp là người đầu tiên trong lịch sử cận đại đã cố gắng biến chủ nghĩa xã hội từ quan niệm tư tưởng thành vấn đề thực tiễn cách mạng. Trong bản “Tuyên ngôn của những người bình đẳng” ông đã vạch ra một cương lĩnh hành động cách mạng, với kế hoạch và các biện pháp cụ thể để có thể thực hiện được các tư tưởng cộng sản, bảo đảm cải thiện tình cảnh của người nghèo và trấn áp các hành động chống đối của các lực lượng phản cách mạng. Trong đó, biện pháp đầu tiên là cách mạng sẽ nắm việc tổ chức sản xuất bánh mì cho nhân dân và trung ương (cưỡng bức) các lò bánh mì tư nhân vào sản xuất bánh mì, nếu chủ lò nào chống lại sẽ bị trừng trị nghiêm. Thứ hai là, chính phủ cách mạng sẽ nắm, quản lý tất cả các nhà cửa của bọn giàu có để chia cho dân nghèo. Thứ ba là, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của nhân dân, buộc các chủ hiệu cầm đồ trả lại các đồ vật của dân đã mang đi cầm cố. Thứ tư là, chính phủ sẽ chiếm giữ kho bạc, bưu điện, các kho tàng của lực lượng phản cách mạng. Thứ năm là, tịch thu các tài sản của bọn phản động chạy trốn để phân phối cho những người cách mạng, những người có công. Ngoài ra, còn các biện pháp có tính lâu dài để củng cố và giữ vững các thành quả cách mạng, xây dựng xã hội mới.

G.Babớp đã đề ra tư tưởng về sự cần thiết phải thực hiện nền chuyên chính cách mạng của những người lao động. Đó là tước đoạt tài sản của giai cấp bóc lột. Thực hiện các hành động trấn áp sự phản kháng của kẻ thù. Ông tuyên bố “cần phải dùng bàn tay sắt để trấn áp mọi kẻ thù”. Cuộc đấu tranh đó không phải chỉ được bắt đầu từ lúc nó được tuyên bố công khai mà nó diễn ra mãi mãi. Nó được bắt đầu cùng với sự xuất hiện những thể chế tìm cách tranh của cải vào tay một số người này và tước đoạt tất cả của những người khác. Sự nổi dậy của những người bị áp bức chống những kẻ áp bức sẽ bùng nổ khi nào đa số bị dồn đến tình trạng không thể chịu đựng được nữa. Theo G.Babớp, cuộc nổi dậy đó chỉ là bước đầu, nó phải đi đến cùng, đến cuộc cách mạng vĩ đại hơn. Ông tin rằng, cuộc cách mạng ấy nhất định sẽ phải nổ ra vì gốc rễ của chế độ cũ đã mục ruỗng, và các tệ nạn xã hội của chế độ đó đã phát triển đến mức tột cùng.

Phác họa mô hình xã hội tương lai

Về kinh tế, xã hội cộng sản là một công xã lớn gồm những người công dân muốn cùng làm việc theo nguyên tắc cộng sản và cùng nhau hưởng thụ thành quả chung. Quá trình hình thành công xã vừa là quá trình tước đoạt của kẻ giàu vừa là quá trình tự nguyện hiến của cải của mọi người công dân. Đồng thời nền kinh tế được tổ chức một cách tập trung, thống nhất, trên cơ sở bình đẳng cùng với việc nhà nước tính toán nhu cầu xã hội để xác định xem sản xuất và tiêu thụ như thế nào là hợp lý. Babớp cũng đề cập đến việc đưa máy móc và áp dụng các phương pháp giảm nhẹ những công việc nặng nhọc cho người lao động. Thực hiện nguyên tắc phân phối theo số lượng và chất lượng lao động. Công dân được nhận từ xã hội những thứ cần thiết để thoả mãn nhu cầu cơ bản của mình. Xã hội phân phối sản phẩm cho mọi người theo phương châm “phải chăng, chân thật”.

Về chính trị, chính phủ do cách mạng lập ra phải là hình thức “chuyên chính cách mạng của những người lao động” được coi là điều kiện chính trị cần thiết để tiến hành công cuộc cải tạo xã hội. Phái Babớp quy định “những người lao động không có ích cho xã hội thì không được hưởng bất kỳ quyền lợi chính trị nào. Lao động có ích là lao động trong các lĩnh vực: chăn nuôi, trồng trọt, hằng hải, cơ khí, giao thông vận tải, khoa học…Lao động chân tay là tiêu chuẩn số một để có quyền lợi chính trị. Lao động trí óc phải được chứng minh thất sự là có ích cho tổ quốc”

Chế độ xã hội mới là xã hội mọi người được lao động và hưởng thành quả lao động chung trong các công xã. Trong nước cộng hòa tổ chức một công xã lớn toàn quốc bao gồm tất cả tài sản quốc gia. Nhà nước kêu gọi công dân tự nguyện hiến tài sản của mình cho công xã; thủ tiêu quyền thừa kế tài sản; những người chết thì tài sản của họ phải chuyển vào công xã. Việc tước đoạt tài sản của những người chiếm hữu lớn tư liệu sản xuất sẽ tiến hành dần dần, từng bước, chứ không thể và không nên tước đoạt ngay.

Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng của Gabrien Bonnô Đờ Mably (1709-1785)

 

 


G.Mably sinh năm 1709 trong một gia đình quí tộc ở Gronôbo. Cha của ông là nghị sĩ. Hồi nhỏ ông được gia đình gửi đến học ở trường dòng thuộc chủng viện Xanh Xuynpitxơ, thủ đô Pari (Pháp). Học xong nhận được chức tu viện trưởng, không lâu sau đó, ông quyết định từ bỏ tôn giáo và đi vào nghiên cứu khoa học. Ông cũng có một thời gian làm việc ở Bộ ngoại giao (1742-1748).

G.Mably viết nhiều sách, nghiên cứu về chính trị, xã hội đương thời. Ông là tác giả của trên 30 đầu sách. Những tác phẩm nổi tiếng của ông bao quát nhiều vấn đề lịch sử, chính trị, pháp luật như: “Nhận xét về người La Mã” (1751); “Nhận xét về người lịch sử nước Pháp- quyền và nghĩa vụ công dân” (1758); “Về việc làm luật và các nguyên tắc của pháp luật” (1776); “Những nghi vấn đặt ra cho các nhà triết học - kinh tế trên vấn đề trật tự tự nhiên và cần thiết của các xã hội chính trị (1786); “Bút ký về sự quản lý và những luật lệ của Mỹ”. Những quan điểm triết học của Lốc cơ (1632-1704, Anh), của Côngđiắc (1715-1780, Pháp) là cơ sở lý luận của các tư tưởng xã hội - chính trị của Mably.

Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa của G.Mably

Tư tưởng phê phán chế độ xã hội đương thời

Trước hết đó là tư tưởng phê phán chế độ tư hữu. G.Mably phản đối luận điểm cho rằng chỉ có chế độ tư hữu mới là yếu tố kích thích con người làm việc. Theo ông, chế độ tư hữu đã làm nảy sinh những ham muốn xấu xa, bỉ ổi, từ đó làm cho những kẻ tư hữu có các hành động ti tiện, tàn bạo để thoả mãn những ham muốn đó. Khi chưa có chế độ tư hữu thì con người chỉ toàn có những đam mê lành mạnh, trong sáng, vì vậy, trong xã hội chỉ có các quan hệ gắn bó, hữu ái giữa người với người. Ông khẳng định rằng, chừng nào chế độ tư hữu còn tồn tại thì công bằng, bình đẳng xã hội không bao giờ có được và xã hội không thể có dân chủ thực sự. Bọn quí tộc, tư sản tài chính sẽ thâu tóm quyền lực và đẩy các dân tộc đi đến các cuộc chiến tranh đẫm máu. Trong cuốn sách “Nhận xét về Hoa kỳ”, ông đã kết luận: sự phát triển của một chế độ quí tộc tài chính, sự tăng trưởng của tình trạng bất bình đẳng về của cải, mà Hoa kỳ đang phát triển theo hướng ấy sẽ dẫn Hoa kỳ đến chỗ không tránh khỏi việc thiết lập một chế độ tàn bạo của bọn nhà giàu và đến các cuộc chiến tranh xâm lược các quốc gia khác. Lịch sử 200 năm sau này của Hoa kỳ đã chứng minh tính đúng đắn kết luận đó của G.Mably.

Ông vạch trần sự mục ruỗng và phản động của chế độ chuyên chế. Chế độ chuyên chế làm cho xã hội có nguy cơ bị tiêu vong vì bệnh hoại thư do sự thối nát của nó gây ra. Cho nên, cần phải lật đổ nền chuyên chế này. Ông cổ vũ cho cuộc nội chiến cách mạng để thủ tiêu chế độ chuyên chế. Theo ông, một dân tộc không muốn kháng cự kẻ thù bên trong của mình, thì nhất định phải bị áp bức. Ông khẳng định rằng chế độ chuyên chế và chế độ tư bản không thể tồn tại mãi. Ông dự đoán chẳng bao lâu nữa nền quân chủ ở Pháp sẽ sụp đổ và cả nước Anh rồi cũng sẽ mất hết thuộc địa.

Về xã hội tương lai, trên cơ sở lý thuyết về trạng thái tự nhiên, G.Mably đặt vấn đề: nếu trong lịch sử nhân loại đã từng có cả một thời đại lâu dài và hiện giờ ở một số nơi trên trái đất này vẫn tồn tại một xã hội dựa trên chế độ cộng đồng về ruộng đất, tài sản thì tại sao lại không thể xây dựng một chế độ sở hữu tập thể chí ít là đạt sự công bằng về tài sản trong hiện tại và tương lai. Tiếp đó ông kết luận cần phải xóa bỏ chế độ tư hữu hiện nay, để xác lập chế độ công hữu. Ông khẳng định trong chế độ công hữu có nhiều yếu tố kích thích sự hang say lao động một cách mạnh mẽ hơn. Chế độ đó sẽ thể hiện được đầy đủ tính ưu việt của nó và sẽ đem lại cho con người ấm no, tự do, hạnh phúc và thoả mãn các nhu cầu khác.

Về tổ chức, quản lý sản xuất, xã hội tổ chức lao động hợp lý, thực hiện chế độ lao động bắt buộc với mọi người, mọi người đều phải lao động. Xã hội không cho phép có kẻ ăn không ngồi rồi, ăn bám người khác. Theo G.Mably, trong xã hội mới thì lao động không chỉ là nghĩa vụ mà còn là vinh dự. Ai cũng hang say lao động cho chính mình và cho xã hội trong những tập đoàn sản xuất tùy theo sức khỏe. Luật lệ xã hội làm tăng sự kính trọng đối với lao động. Về phân phối, xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo nhu cầu.

Về chính trị, G.Mably không tán thành quan điểm phân chi quyền lực của Môngtexkiơ. Ông khẳng định người chủ của nhà nước là nhân dân. Ông chủ trương, trong chế độ xã hội mới, nhà nước được xây dựng trên cơ sở dân chủ, thông qua lựa chọn của các đại biểu nhân dân. Nhà nước có chức năng tổ chức lao động và phân phối sản phẩm cho toàn dân, duy trì trật tự xã hội và bảo vệ phong tục tập quán. Trong xã hội mới, mọi công dân sẽ có ý thức đoàn kết trên cơ sở thống nhất lợi ích chung, sẵn sàng đứng lên chiến đấu bảo vệ cuộc sống tốt đẹp của mình. Khi đất nước có nạn ngoại xâm, tất cả mọi người, nam và nữ, sẽ đứng lên cầm vũ khí chiến đấu. Xã hội không có phân chia đẳng cấp, không có quân đội thường trực.

Về văn hóa- xã hội, G.Mably đề cao công tác giáo dục, mong muốn xã hội thực hiện chế độ giáo dục toàn dân không mất tiền. Đặc biệt, xã hội chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ về mọi mặt để họ kế tục xứng đáng thế hệ cha anh và đáp ứng được những yêu cầu và lợi ích chung của xã hội trong tương lai, trở thành những công dân toàn diện. Nền tảng của đạo đức xã hội đó là mọi người cần phải thực hiện nguyên tắc luân lý: “Hãy đừng làm cho người khác điều gì mà mình không muốn người khác làm cho mình”.

Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng của Phơrăngxoa Morenly

 


Tiểu sử của Ph.Morenly còn chưa rõ ràng, tác phẩm nổi tiếng của Ph.Morenly là “Bộ luật tự nhiên”, xuất bản năm 1755 ở Amxtecđam (Hà Lan) và đến 1841 được tái bản, ghi tên là Ph.Morenly. Có thể cái tên Ph.Morenly là một bút danh của một người nào đó.

Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa của Ph.Morenly

Tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng của Ph.Morenly dựa trên lý thuyết về quyền bình đẳng tự nhiên của con người. Theo Ph.Morenly, trong giai đoạn đầu xã hội loài người không có chế độ tư hữu. Trong “Bộ luật tự nhiên”, Ông chứng minh rằng con người vốn sinh ra đã là bình đẳng, đó là lẽ tự nhiên và phù hợp với tự nhiên. Chế độ xã hội của loài người đã từng tồn tại ở trạng thái bình đẳng, đó là chế độ cộng đồng công xã nguyên thuỷ, và hiện nay những dấu hiệu đó vẫn còn tồn tại ở một số nơi trên thế giới.

Một trong những nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng của Ph.Môrenly thể hiện rõ nét là quan điểm xóa bỏ chế độ tư hữu. Ông cũng nhận thức sâu sắc rằng chế độ tư hữu là nguồn gốc của mọi tệ nạn xã hội. Do đó, muốn xóa bỏ những điều tệ hại, xấu xa cần phải thủ tiêu chế độ tư hữu trong đời sống xã hội. Ông cho rằng, ở nơi nào không có quyền tư hữu thì ở đó không thể có một hậu quả nguy hại nào của nó... Trong bất cứ xã hội nào, mọi quyền tư hữu về những của cải được phân chia đều là nguồn gốc của những tai hại tày trời.

Mô hình xã hội tương lai. Ph.Morenly đã mơ ước về một xã hội tốt đẹp với đặc trưng: chế độ công hữu là nền tảng xã hội. Đây là nét nổi bật trong tác phẩm Bộ luật của tự nhiên. Theo ông, chế độ công hữu phù hợp với đức hạnh tự nhiên của con người; mỗi nơi đều làm việc tùy theo sức lực, khả năng và đều được xã hội chăm sóc; trong xã hội, lao động không chỉ là nghĩa vụ mà chủ yếu là do tự giác, bởi lẽ lao động là nhu cầu của con người.

Về kinh tế, mô hình xã hội tương lai của Ph.Môrenly về kinh tế được phác hoạ trên cơ sở quan niệm về “thời đại hoàng kim” đã từng tồn tại trong lịch sử nhân loại. Đó là chế độ công xã nguyên thuỷ. Do đó, ông chủ trương cần khôi phục lại chế độ công hữu về của cải. Trong xã hội, mỗi người đều phải lao động, được phân công công việc sát hợp với khả năng, sở trường và sức khoẻ của mình. Xã hội có trách nhiệm chăm lo toàn diện đến cuộc sống của mọi thành viên.

Về chính trị, Ph.Morenly chủ trương thành lập chế độ cộng hòa dân chủ. Trong đó, nhà nước phải quản lý, điều tiết mọi hoạt động sản xuất, phân phối của cải và duy trì được các lĩnh vực đời sống xã hội ổn định, hài hòa. Để quản lý tổ chức xã hội, ông đề ra sự cần thiết phải có luật pháp. Muốn vậy, cần thay thế các luật lệ cũ bằng những bộ luật mới, trên cơ sở kế thừa những tập quán cũ, “thời đại hoàng kim” và bổ sung những nội dung mới. Trong “Bộ luật tự nhiên”, ông nêu lên xã hội cần phải có những bộ luật như: luật phân phối, luật ruộng đất, luật qui hoạch đô thị, luật trật tự xã hội, luật cấm xa xỉ, luật cai trị, luật hôn nhân, luật giáo dục, luật hoạt động khoa học.

Con đường biện pháp để thực hiện các dự án xã hội mới của Ph.Morenly không phải là đấu tranh cách mạng lật đổ chế độ xã hội đương thời bằng sức mạnh của quần chúng nhân dân mà bằng các biện pháp có tính chất không tưởng. Đó là sự ảo tưởng có thể xóa bỏ chế độ tư hữu và chế độ xã hội đương thời bằng cách làm cho nhà cầm quyền, những kẻ giàu có biết điều, có đạo đức, lương tâm và mọi người trong xã hội phải có học thức, hoặc bằng cách thay đổi luật lệ. Như vậy, rõ ràng là trên phương diện xã hội, Ph.Môrenly mặc dù có những tư tưởng tiến bộ, có tính xã hội chủ nghĩa trong việc phê phán chế độ tư hữu, để xóa bỏ nó, thiết lập chế độ công hữu, thức tỉnh con người sống hưởng thiện và nhân ái, song về xã hội ông vẫn là một nhà duy tâm chủ quan và cũng hết sức mơ hồ.

Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng của các đại biểu tiêu biểu của Giăng Mêliê (1664-1729)

 


Giăng Mêliê sinh năm 1664 tại làng Madécvi miền SămPanhơ (Pháp) trong gia đình thợ dệt. Hồi nhỏ, ông học trong trường dòng. Tại đây ông được nghiên cứu các nhà triết học, thần học và chịu nhiều ảnh hưởng các quan điểm triết học duy vật, vô thần theo nhiều khuynh hướng khác nhau. Năm 23 tuổi, ông được phong làm linh mục và đi hành đạo ở một làng quê có tên là Eitơrơpênhi và ở đó đến tận cuối đời.

Là môn đồ tôn giáo, lại trực tiếp cai quản tín đồ ở một làng quê, nên G.Mêliê rất gần gũi với nông dân. Ông hiểu biết sâu sắc tình hình nông thôn và cuộc sống của nông dân ở đây. Ông cảm thông sâu sắc với những suy tư thầm kín và những khát vọng của nhân dân. Ông thường đứng về phía nông dân chống lại bọn địa chủ bóc lột họ bằng sưu cao, thuế nặng và áp bức, đánh đập họ tàn nhẫn. Ông chống lại sự áp bức của tôn giáo. Trong những năm cuối đời, tại chính làng quê này, ông đã viết cuốn sách nổi tiếng “Di chúc của tôi”, trong đó chứa đựng nhiều tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng”.

Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa của G.Mêliê

Phê phán xã hội đương thời, Giăng Mêliê vạch rõ, xã hội đương thời có quá nhiều kẻ ăn bám, những kẻ sống phè phỡn trên lưng người lao động và bằng mồ hôi, nước mắt của họ. Ông lên án bọn vua quan từ nhà vua đến tên nhân viên thu thuế, từ bọn quý tộc đến tên địa chủ ở nông thôn. Ông cho rằng mọi tội ác trên đời, những bất công, những vụ cướp đoạt trên biển, trên đất liền, những cuộc tàn sát dã man đều là do bàn tay vấy máu của bọn vua quan gây ra, xuất phát từ lòng tham, thói ích kỷ và sự độc ác của chúng. Ông nguyền rủa tình trạng bất bình đẳng xã hội, sự phân chia đẳng cấp. Đó là tình trạng tất cả của cải và mọi sự thoả mãn đều là đặc quyền, đặc lợi của bọn vua quan, bọn giàu có, còn quần chúng lao động thì phải làm việc cực nhọc và không được hưởng thụ những thứ do mình làm ra, phải sống nghèo đói.

Giăng Mêliê vạch rõ, nguồn gốc của mọi bất công, tội ác của chiến tranh, bất hạnh... là do chế độ tư hữu gây ra. Vì vậy cần phải xóa bỏ tư hữu cùng với xóa bỏ bọn vua quan, kẻ ăn bám. Nét độc đáo ở Giăng Mêliê ở chỗ ông là một môn đồ của tôn giáo, song lại là người chống lại tôn giáo mạnh mẽ, trên quan điểm duy vật. Hơn thế, ông còn làm tất cả những gì để giáo dục phổ cập tư tưởng chống tôn giáo cho nhân dân.

Giăng Mêliê không dừng lại ở sự chỉ trích, tố cáo, mà ông tiến xa hơn khi ông là người kêu gọi, động viên, phát động nhân dân đứng lên đấu tranh xóa bỏ chế độ bóc lột, áp bức, xã hội bất công đó. Ông có thái độ không thoả hiệp với các giai cấp thống trị. Ông đòi hỏi quần chúng phải lật đổ và thủ tiêu ách thống trị của vua quan và tất cả bọn bóc lột, áp bức. Điều này mấy chục năm sau đã được cuộc cách mạng dân chủ tư sản Pháp 1789 thực hiện.

Dự kiến mô hình xã hội tương lai.

Về kinh tế, Giăng Mêliê từ chỗ phủ nhận chế độ tư hữu, coi chế độ tư hữu là nguồn gốc của mọi bất công, do đó ông chủ trương xã hội mới phải xóa bỏ chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu về ruộng đất và mọi của cải. Xã hội được tổ chức như một gia đình thống nhất. Mọi của cải được quản lý chung, mọi người được cấp lương, được mặc, được nhà ở và tư liệu sinh hoạt khác như nhau. Các thành viên xã hội được những người tài giỏi quản lý, điều hành công việc để phát triển sản xuất và giữ gìn của cải chung.

Về phân phối, Ông chủ trương xã hội thực hiện phân phối theo nhu cầu, bảo đảm cho cuộc sống của mỗi người một cách bình quân, nếu họ làm việc có ích và khéo san sẻ. Ông viết: Nói chung nếu mọi người đều có và đều được hưởng một cách bình đẳng những của cải và những phương tiện sống, nếu họ nhất trí lo toan đến những công việc lương thiện và có ích nào đó... và nếu họ san sẻ khéo cho nhau những của cải trên trái đất và thành quả lao động và kỹ thuật của họ, thì họ sẽ khá dồi dào để sống một cách hài lòng và sung sướng.

Về chính trị, Giăng Mêliê chủ trương xây dựng tình đoàn kết, sự liên minh của các cộng đồng xã hội và dân tộc vì lợi ích chung của các dân tộc. Ông cho rằng các thành thị và các cộng đồng khác nhau sống bên cạnh nhau đều phải chăm lo xây dựng mối liên minh với nhau, không làm gì tổn hại đến cuộc sống hòa bình, hữu nghị; phải biết giúp đỡ nhau khi cần thiết. Nếu không làm được như vậy thì sẽ không thể tồn tại và phát triển và cuối cùng nhân dân sẽ bị đau khổ.

Trong “Di chúc của tôi” cũng như cuộc đời của Giăng Mêliê còn nhiều mâu thuẫn. Do điều kiện lịch sử, những ước mong của G.Mêliê còn mang tính không tưởng vì nó chưa thể thực hiện được. Nhưng “Di chúc của tôi”- với sự lên án sâu sắc xã hội đương thời, với thái độ phủ định nó một cách triệt để, với những lời hiệu triệu quần chúng đứng lên đấu tranh và với tất cả những gì Ông mong ước về một xã hội không có áp bức, bóc lột, không có chế độ tư hữu, xác lập chế độ công hữu về của cải, thực hiện bình đẳng xã hội. G.Mêliê xứng đáng được coi là người dự báo cuộc cách mạng tư sản và là nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng đầu tiên của Pháp thế kỷ XVIII.

HOÀN CẢNH LỊCH SỬ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHÔNG TƯỞNG THẾ KỶ XVIII

 


Châu Âu nói chung và nước Pháp nói riêng trong thế kỷ XVIII đã khẳng định sự thắng lợi căn bản có tính quyết định của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa so với phương thức sản xuất phong kiến. Giai cấp tư sản cũng đã bắt đầu vươn dài cái vòi bạch tuộc ra thế giới.

Nước Pháp trước cách mạng tư sản là một nước quân chủ chuyên chế. Đến giữa thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến chuyên chế đã báo hiệu cho thấy giờ báo tử của nó sắp điểm. Nền chuyên chính của dòng họ Buốc bông - sản phẩm của sự cố kết giữa tầng lớp quí tộc phong kiến và giáo hội Cơ đốc giáo đã mục ruỗng và đang lung lay. Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và phong kiến đã lên đến cực điểm. Giai cấp tư sản Pháp - đã trở thành lãnh tụ chính trị của đẳng cấp thứ ba bao gồm các giai tầng có nhiều uất hận với phong kiến như nông dân, thợ thủ công, tầng lớp lao động, tiểu tư sản, thị dân.

Thế kỷ XVIII là thế kỷ ghi nhận sự phát triển rực rỡ của văn hóa, nghệ thuật và tư tưởng ở châu Âu, đỉnh cao là Phong trào Khai sáng. Đây là trào lưu chính trị- xã hội- tư tưởng được hình thành và phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ chuẩn bị cho cuộc cách mạng dân chủ tư sản. Họ đề cao, ca ngợi tư tưởng tự do, dân chủ, nhu cầu vật chất của con người; họ đã tuyên chiến với lễ giáo cổ hủ phong kiến, tiến công vào giáo hội, giáo lý tôn giáo cũng như những công cụ nô dịch tư tưởng con người. Hoàn cảnh lịch sử đó đã xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng, nhiều quan niệm mới về xã hội trong đó có những tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng thế kỷ XVIII, với các đại biểu tiêu biểu như Giăng Miliê, Phrăngxoa Morenly, B.ĐờMably, Grắccơ Babơp...

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2025

NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945!

     Cách đây tròn 80 năm, cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã đưa đất nước ta từ thân phận nô lệ trở thành quốc gia độc lập, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH). Trong cuộc hành trình ấy, sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một sự kiện vĩ đại, trang sử chói lọi nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam trong thế kỷ 20. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, toàn thể dân tộc đã nhất tề đứng lên lật đổ chính quyền thực dân, phong kiến, xóa bỏ ách thống trị hơn 80 năm của thực dân Pháp và chấm dứt ách đô hộ quân phiệt Nhật Bản, giành lại chính quyền về tay nhân dân, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới của đất nước, kỷ nguyên độc lập dân tộc tiến lên xây dựng CNXH. Như Văn kiện Đại hội II của Đảng đã khẳng định: “Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của Chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa, là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn, là thắng lợi của sự lãnh đạo sáng suốt và kiên cường của Đảng”(1). Bài viết này tập trung phân tích, làm rõ vai trò lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, nhân tố quyết định của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thể hiện trên 3 yếu tố nổi bật: (1) Hoạch định đường lối cách mạng đúng đắn, sáng suốt; (2) Xây dựng và tổ chức lực lượng rộng khắp; (3) Nghệ thuật sáng tạo trong nắm bắt thời cơ và tổ chức khởi nghĩa thành công.

Vai trò của Đảng trong tầm nhìn và hoạch định đường lối cách mạng đúng đắn, sáng suốt

Ngay từ khi ra đời năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương đã thể hiện tư duy và tầm nhìn chiến lược vượt trội so với các phong trào đấu tranh yêu nước trước đó khi khẳng định con đường giải phóng dân tộc không thể tách rời CNXH. Đây không chỉ là lựa chọn lý luận, mà là kết quả rút ra từ thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam và phong trào cộng sản quốc tế. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Đảng thông qua đã xác định: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản"(2). Như vậy, ngay từ đầu, Đảng ta đã khẳng định đường lối độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Độc lập dân tộc vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân. Cái mới và sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhận thức về bản chất của CNXH chính là phát hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa từ sự kết tinh tất cả những lý tưởng về giải phóng con người, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội khỏi áp bức, bất công, mang lại tự do, dân chủ, công bằng và cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Nói cách khác, CNXH là ước mơ ngàn đời của mọi người dân lao động, mọi dân tộc cần lao, yêu chuộng hòa bình. Diễn giải một cách giản dị, CNXH nghĩa là nơi “đưa quần chúng đến một cuộc sống xứng đáng, vẻ vang và ngày càng phồn vinh, làm cho mọi người lao động có một Tổ quốc tự do, hạnh phúc và hùng cường, hướng tới những chân trời tươi sáng”(3); và “xây dựng cho nhân dân một đời sống ngày càng sung sướng. Đó là CNXH”(4). Vì thế, CNXH là điều kiện để bảo đảm sự bền vững của độc lập dân tộc và lợi ích, hạnh phúc của nhân dân. Tư tưởng này vừa mang tính cách mạng triệt để, tính nhân văn cao cả, vừa phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và lịch sử của nước ta, cũng là chưa từng có tiền lệ trong cách mạng Việt Nam; đã trở thành một tư tưởng nền tảng, chỉ đạo, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử gần 100 năm qua.

Sự sáng tạo trong đường lối cách mạng của Đảng thể hiện rõ trong việc xác định hình thái cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, là bước chuyển tiếp tất yếu hướng tới cách mạng xã hội chủ nghĩa. Một nhận thức lý luận nhất quán và xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng là giai cấp luôn gắn liền với dân tộc, là một bộ phận không tách rời của dân tộc, giải phóng dân tộc cũng chính là điều kiện để giải phóng giai cấp. Đảng chủ trương xây dựng khối liên minh công-nông là lực lượng nòng cốt của cách mạng, nhưng đồng thời phải mở rộng đến các tầng lớp yêu nước khác như trí thức, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và một bộ phận địa chủ có tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc. Nói cách khác, đường lối cách mạng của Đảng không tách rời tính chất của dân tộc, đặt dân tộc trong mối quan hệ chặt chẽ với mục tiêu của cách mạng vô sản, của mục tiêu xây dựng CNXH, giải quyết các vấn đề dân tộc hài hòa với các yêu cầu, mục tiêu của giai cấp, hướng tới của CNXH. Đây là nền tảng, cơ sở để hình thành và không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo thành sức mạnh to lớn, điều kiện không thể thiếu trong những thành công vĩ đại của cách mạng Việt Nam.

Trong các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và nhất là cao trào 1939-1945, Đảng không ngừng tôi luyện bản lĩnh, rút kinh nghiệm từ thất bại, mở rộng lực lượng, phát triển căn cứ địa. Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941), trước tình hình chính trị quốc tế và trong nước thay đổi nhanh chóng, Đảng đã thể hiện sự nhạy bén về tư duy, tầm nhìn xa trông rộng và năng lực đổi mới nhận thức chiến lược, tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong đường lối cách mạng. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị Trung ương 8 của Đảng đã quyết định chuyển trọng tâm từ cách mạng ruộng đất sang giải phóng dân tộc, xác định kẻ thù chính là đế quốc, phát xít xâm lược, từ đó đề ra nhiệm vụ tối cao là đánh đuổi phát xít Nhật, giành độc lập dân tộc. Hội nghị xác định: Nhiệm vụ trước hết và bức thiết nhất của cách mạng Việt Nam lúc này là phải giành cho được độc lập cho dân tộc và tự do, hạnh phúc cho nhân dân, do đó, tạm gác khẩu hiệu “Tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày”; đề ra chủ trương tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo; giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng công, tiến tới thực hiện người cày có ruộng; chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ mỗi nước ở Đông Dương; tăng cường lãnh đạo việc thành lập và phát triển các tổ chức vũ trang, nửa vũ trang; chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, đi từ khởi nghĩa từng phần đến Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Để tập hợp được mọi người dân Việt Nam yêu nước trong một khối đại đoàn kết thống nhất, tạo thành sức mạnh lật đổ chế độ thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, hội nghị quyết định thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất lấy tên là Việt Nam Độc lập Đồng minh hội (gọi tắt là Việt Minh). Chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh thể hiện sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam, đồng thời mở ra hình thức mặt trận dân tộc thống nhất rộng lớn, linh hoạt, tạo ra sự đồng thuận và ủng hộ rộng rãi trong xã hội.

Từ Cương lĩnh đầu tiên năm 1930 đến Hội nghị Trung ương 8 (năm 1941), tư tưởng “độc lập dân tộc gắn liền với CNXH” đã trở thành định hướng xuyên suốt. Trên cơ sở tư tưởng chỉ đạo đó, Đảng Cộng sản đã nắm bắt kịp thời những diễn biến thời cuộc và biến đổi tình hình trong nước và thế giới, đề ra những chủ trương, định hướng đúng đắn, sáng suốt và kịp thời, dẫn tới thắng lợi của Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước Tháng Tám năm 1945.

Sự tài tình và sáng suốt trong việc xây dựng và tập hợp lực lượng cách mạng

Thành công của Cách mạng Tháng Tám không thể tách rời vai trò, sự tài tình, sáng suốt của Đảng trong huy động và tổ chức lực lượng cách mạng. Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, trong khi khẳng định “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp”, “Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày” để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng, Đảng Cộng sản cũng đồng thời khẳng định yêu cầu phải tập hợp một lực lượng quần chúng rộng rãi ngoài hai giai cấp công nhân và nông dân: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt v.v.. để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng lập hiến, v.v..) thì phải đánh đổ...”(5).

Đây là một chủ trương vô cùng sáng suốt dựa trên sự nhìn nhận, đánh giá rất đúng đắn bối cảnh, tình hình kinh tế-xã hội và những đặc thù văn hóa của Việt Nam. Vào thời điểm năm 1930, nền kinh tế nước ta chủ yếu là sản xuất nông nghiệp manh mún, kỹ thuật canh tác lạc hậu. Chính sách cai trị, bóc lột khắc nghiệt của thực dân Pháp càng đẩy nền kinh tế của xứ Đông Dương vào lạc hậu, chậm phát triển. Sự ra đời của giai cấp công nhân nước ta gắn liền với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Một khi nền công nghiệp còn rất nhỏ bé, chủ yếu là khai khoáng và một số cơ sở dệt may, chế biến nông sản, tất yếu kéo theo lực lượng công nhân vừa nhỏ bé lại phân tán. Theo thống kê, đến cuối năm 1929, tổng số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp của tư bản Pháp là hơn 22 vạn người, trong đó có 5,3 vạn thợ mỏ, 8,6 vạn công nhân các ngành công thương nghiệp, 8,1 vạn công nhân các đồn điền trồng cây công nghiệp. Đó là chưa kể đến những người làm ở xí nghiệp thủ công lớn, nhỏ, thợ may, thợ cạo, thợ giặt, bồi bếp, khuân vác ở hải cảng.

Mặt khác, dân tộc Việt Nam trải qua lịch sử dựng nước và giữ nước lâu dài, đã hun đúc nên tinh thần đoàn kết, yêu thương, gắn bó cùng nhau với những quan hệ huyết thống cùng tình làng, nghĩa xóm, truyền thống yêu nước, ý chí quật cường đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(6).

Trong điều kiện ấy, Đảng đã sáng suốt nhận thức rằng, chỉ khi tập hợp được mọi tầng lớp yêu nước, bất kể giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo, dân tộc, xây dựng thành một khối đại đoàn kết toàn dân tộc thì cách mạng mới có thể thắng lợi. Việc mở rộng mặt trận nhân dân, thu hút các tầng lớp quần chúng rộng rãi, tập hợp họ lại dưới ngọn cờ cách mạng của Đảng là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của đất nước và yêu cầu của cách mạng. Đường lối tập hợp quần chúng rộng rãi không chỉ thể hiện chính sách đoàn kết dân tộc sáng suốt, mang lại sức mạnh to lớn của lực lượng cách mạng, hơn thế nữa, còn là điều kiện cho sự phát triển của chính đội ngũ đảng viên của Đảng. Thực tế cho thấy, nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng xuất thân từ những tầng lớp trí thức, trong các gia đình nhân sĩ, tư sản yêu nước, được rèn luyện và trưởng thành trong phong trào cách mạng, đã trở thành những cán bộ cốt cán, trung kiên của Đảng, có đồng chí đã hy sinh, cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng.

Khối đại đoàn kết toàn dân được hình thành và phát huy qua Mặt trận Việt Minh, một sáng kiến chiến lược đúng thời điểm, đúng đối tượng. Thông qua Việt Minh, Đảng mở rộng và phát triển lực lượng chính trị rộng khắp trên toàn quốc. Mạng lưới cán bộ cách mạng được xây dựng khắp các khu vực từ đồng bằng đến miền núi, từ nông thôn đến đô thị. Các tổ chức quần chúng như Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Tự vệ cứu quốc... được thành lập rộng rãi, đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa tinh thần yêu nước, giác ngộ chính trị và tập hợp lực lượng tham gia và ủng hộ cách mạng.

Cùng với chủ trương huy động rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân trong toàn dân tộc để xây dựng lực lượng cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời quan tâm đến các mối quan hệ quốc tế, nhất là phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân và cộng sản quốc tế, đặc biệt là cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và nhân dân lao động ở nước Pháp. “Trong khi tuyên truyền các khẩu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp”(7), đó là đường lối được xác định ngay trong sách lược đấu tranh được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng, tháng 2-1930. Đường lối ấy xuất phát từ nhận thức đúng đắn và sáng suốt của Đảng là, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, cách mạng giải phóng của một thuộc địa như Việt Nam trong quan hệ với cách mạng ở chính quốc như đôi cánh của một con chim. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi”(8). Đương nhiên, cách mạng giải phóng dân tộc muốn được biết đến và có được sự ủng hộ của cách mạng chính quốc và phong trào cách mạng thế giới thì phải có thực lực, phải dựa vào sức mạnh của dân tộc là chính, phải “lấy sức ta mà tự giải phóng cho ta” là chủ yếu.

Từ nền tảng nhận thức lý luận ban đầu này, Đảng đã không ngừng tổng kết thực tiễn, hoàn thiện đường lối hợp tác quốc tế để tận dụng và phát huy sức mạnh của sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng cách mạng, tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới, tạo thành một mặt trận thứ hai, góp phần vào những thành công của cách mạng Việt Nam. Đường lối ấy không chỉ là một trong những yếu tố quan trọng dẫn tới thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mà còn tiếp tục phát huy trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết: “Dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ tích cực của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ”.

Sự sáng tạo, tài tình trong việc tận dụng thời cơ và tổ chức Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không thể thành công nếu Đảng Cộng sản Việt Nam không sáng suốt nắm bắt lấy “thời cơ vàng”, lãnh đạo kiên quyết và hành động nhanh chóng, kịp thời việc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Sau khi vào Đông Dương, chính quyền phát xít Nhật đã bắt tay với thực dân Pháp tiến hành đàn áp phong trào cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phân tích tình hình, chỉ ra mâu thuẫn không thể tránh khỏi giữa các thế lực đế quốc xâm lược, nhận định không sớm thì muộn phát xít Nhật sẽ đảo chính, hất cẳng thực dân Pháp ở Đông Dương và chủ động chuẩn bị kế hoạch hành động khi có tình hình mới. Vì thế, ngay trong đêm 9-3-1945, khi quân phiệt Nhật Bản đảo chính Pháp, Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị Thường vụ mở rộng do Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì và ra Chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” vào ngày 12-3-1945. Chỉ thị xác định kẻ thù chính, cụ thể, trước mắt của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật, do đó, phải thay đổi khẩu hiệu “đánh đuổi Nhật, Pháp” bằng khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật” chống lại chính quyền Nhật và chính phủ bù nhìn của bọn Việt gian thân Nhật. Đây là văn kiện rất quan trọng, một thể hiện điển hình cho khả năng đánh giá tình hình chính trị sắc sảo, sự sáng suốt của Đảng trong chủ động đề ra các quyết sách chiến lược lãnh đạo cách mạng.

Sau khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh vào ngày 15-8-1945, tình hình chính trị ở Đông Dương chuyển biến nhanh chóng, chính quyền tay sai của quân phiệt Nhật rệu rã, mất phương hướng, không còn chỗ dựa. Đây chính là “thời cơ ngàn năm có một” mà Đảng ta đã kỳ công chuẩn bị từ lâu và sẵn sàng để tận dụng.

Dưới sự chủ tọa của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã được tổ chức tại Tân Trào từ ngày 13 đến 15-8-1945. Hội nghị đưa ra nhận định 7 điểm: 1) Từ ngày 9-3-1945, chính sách tàn ngược, vô nhân đạo của Nhật càng rõ rệt; 2) Nhân dân Đông Dương cực khổ, căm tức, cách mạng hóa; đến cả một phần quan lại cũng ngả về phe cách mạng; 3) Cao trào kháng Nhật, cứu nước do Đảng lãnh đạo ngày một mạnh mẽ, sâu rộng khắp Bắc-Trung-Nam... Khu giải phóng và Quân giải phóng Việt Nam thành lập. Chính quyền địa phương của nhân dân đã lập trên 6 tỉnh thượng du và trung du Bắc Kỳ. Hơn một triệu đồng bào đã được hưởng quyền tự do dân chủ và được miễn trừ sưu thuế; 4) Nhật đổ, hàng ngũ chỉ huy của chúng ở Đông Dương chia rẽ đến cực điểm; quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần, bọn Việt gian thân Nhật hoảng sợ; 5) Quân Đồng minh sắp vào nước ta và đế quốc Pháp lăm le khôi phục lại địa vị cũ ở Đông Dương; 6) Toàn dân tộc đang sôi nổi đợi chờ khởi nghĩa giành quyền độc lập; 7) Điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương như đã chín muồi.

Để bảo đảm lãnh đạo khởi nghĩa thắng lợi, hội nghị đề ra 3 nguyên tắc: 1) Tập trung: Tập trung lực lượng vào những việc chính; 2) Thống nhất: Thống nhất mọi phương diện, chính trị, hoạt động chỉ huy; 3) Kịp thời: Kịp thời hành động không bỏ lỡ thời cơ. Đồng thời, hội nghị cũng yêu cầu: “Phải tập trung lực lượng vào những chỗ cần thiết để đánh”; “đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng, không kể thành phố hay thôn quê”; phối hợp chặt chẽ quân sự và chính trị trong tác chiến; hết sức bảo toàn lực lượng; tiến hành công tác binh vận, “làm tan rã tinh thần quân địch và dụ chúng hàng trước khi đánh”.

Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào có ý nghĩa rất quan trọng đối với cách mạng nước ta. Những tư tưởng của hội nghị không chỉ có ý nghĩa chỉ đạo đối với Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 mà còn có ý nghĩa, tác dụng định hướng đối với các công tác của Đảng sau khi giành chính quyền, với việc bảo vệ và phát huy thành quả cách mạng, hơn thế nữa còn là bài học về lâu dài cho cách mạng Việt Nam.

Ngay sau Hội nghị toàn quốc của Đảng, ngày 16 và 17-8-1945, Quốc dân Đại hội được tổ chức tại Tân Trào (Tuyên Quang). Đại hội đã quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trên phạm vi toàn quốc; thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh; quy định về Quốc kỳ, Quốc ca; cử ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Trước khi Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam ra đời, ngày 13-8-1945, Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Ủy ban khởi nghĩa do Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp phụ trách. Ủy ban khởi nghĩa đã ra bản Quân lệnh số 1, phát lệnh Tổng khởi nghĩa: “Giờ Tổng khởi nghĩa đã đánh! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước nhà!”. Khởi nghĩa giành chính quyền nổ ra thành công ở Hà Nội ngày 19-8, Huế ngày 23-8, Sài Gòn ngày 25-8. Đến cuối tháng 8, tất cả địa phương trong cả nước đã giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử, trịnh trọng tuyên bố: “Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Toàn bộ cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn cõi Việt Nam diễn ra trong vòng nửa tháng, hầu như không đổ máu với tốc độ thần tốc.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một thành quả vĩ đại của lịch sử dân tộc, được hun đúc từ trí tuệ chiến lược, nghệ thuật tổ chức cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương và đặc biệt là sự đồng lòng, đồng sức của toàn dân tộc. Từ thắng lợi ấy, nhiều bài học lịch sử lớn vẫn còn nguyên giá trị và mang ý nghĩa sâu sắc trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước hiện nay./.
---------
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.12, tr.442 (2) Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.3, tr.1 (3) Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.1, tr.XII (4) Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.13, tr.432 (5) Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.3, tr.3 (6) Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.7, tr.38 (7) Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.3, tr.3 (8) Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.1, tr.320.
Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, ngày 2-9-1945.
Môi trường ST.