Thứ Sáu, 12 tháng 9, 2025
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: I.V. STALIN - HUYỀN THOẠI VÀ SỰ THẬT.
Thứ Năm, 11 tháng 9, 2025
Đặc điểm tư tưởng xã hội chủ nghĩa từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII
Một là, phản ánh bước tiến xã hội giai đoạn chủ
nghĩa tư bản đang hình thành, biến đổi và sự suy đồi của của chế độ phong kiến. Tư tưởng xã hội chủ
nghĩa thời kỳ từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII nảy sinh trong quá trình châu Âu
và Mỹ có sự chuyển biến từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa, sự
xác lập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trên phạm vi thế giới. Nội dung
tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời kỳ này phản ánh sinh động diễn biến, tư tưởng trong
cuộc cách mạng tư sản ở Tây Âu và Bắc Mỹ chống lại chế độ phong kiến, từng bước
thiết lập hệ thống chính trị tư sản.
Hai là, có tính hệ thống và khá toàn diện trong đó
thể hiện nổi bật tư tưởng công hữu về ruộng đất và bình đẳng xã hội mặc dù còn
sơ khai và còn nhiều hạn chế. Với các cấp độ khác nhau, tư tưởng xã hội chủ nghĩa
của các đại biểu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII dần dần được đúc kết có tính hệ
thống, hình thức thể hiện tư tưởng có sự phân tích, lập luận logic.
Ba là, con đường và phương pháp mang tính bạo lực
là chủ yếu. Nếu như tư tưởng xã
hội chủ nghĩa thời kỳ cổ đại, trung đại mới dừng lại ở khát vọng, mơ ước về một
xã hội tương lai tốt đẹp bằng con đường, phương pháp để hiện thực hóa những
mong ước đó là lý tưởng hóa trạng thái xã hội tốt đẹp của con người trong các
áng văn, thơ, tiểu thuyết, giáo lý tôn giáo; đến thời kỳ này, tư tưởng về con
đường và phương pháp xây dựng xã hội mới đa số mang tính bạo lực.
Bốn
là,
hình thức tư tưởng đa dạng, với nhiều dự án xã hội. Các đại biểu tư tưởng xã hội chủ nghĩa từ thế kỷ
XVI đến thế kỷ XVIII đã biểu đạt tư tưởng của mình dưới nhiều hình thức đa dạng
như thông qua một câu chuyện hư cấu, hoặc dưới dạng một luận văn, cương lĩnh cách
mạng để thể hiện hiện tính phong phú, muôn vẻ của xã hội
trong tương lai.
Năm là, vẫn thiếu tính lý luận, còn mang nặng tính
ảo tưởng, xa rời thực tế. Mặc dù tư tưởng xã hội chủ nghĩa của các đại biểu
thời kỳ này được thể hiện đa dạng, dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng nhìn
chung vẫn thiếu tính lý luận, còn mang nặng tính ảo tưởng, thiếu thực tế, nặng
về duy tình.
Giá trị và hạn chế trong tư tưởng xã hội chủ nghĩa của các đại biểu theo tư tưởng không tưởng
Về giá trị
Trước hết, tư tưởng xã hội chủ
nghĩa của các đại biểu thế kỷ XVIII chứa
đựng giá trị nhân đạo nhân văn sâu sắc. Các tư tưởng xã hội chủ nghĩa thế kỷ
XVIII đều phản ánh lý tưởng giải phóng con người, những người lao động bị áp
bức bóc lột, mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc rộng lớn nó bênh vực, thông
cảm và thương xót đại đa số nhân dân lao động nghèo khổ, bị áp bức bóc lột thậm
tệ với các tai họa và tệ nạn xã hội trong các chế độ tư hữu và giải
phóng họ khỏi các chế độ đó.
Hai là, tư tưởng xã hội chủ nghĩa của các đại biểu thế kỷ XVIII đã lên án,
phê phán chế độ tư hữu sâu sắc. Nhìn chung các tư tưởng xã hội chủ nghĩa thế kỷ
XVIII đều phê phán lên án chế độ tư hữu, sự áp bức bóc lột bất công. Đặc biệt
là phê phán sự phân chia giai cấp, đẳng cấp xã hội. Qua đó, vạch trần bản chất bóc lột và tội ác xấu xa của
giai cấp thống trị cũng như chế độ xã hội đương thời.
Ba là, tư tưởng xã hội chủ
nghĩa của các đại biểu thế kỷ XVIII có giá trị thức tỉnh đa số nhân dân lao
động. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa của các đại biểu thời kỳ này đã góp phần cổ vũ,
thúc đẩy tinh thần đấu tranh cách mạng của quần chúng lao khổ, kêu gọi nhân dân
lao động vùng dậy đấu tranh chống lại chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột, bất
công…dù là đấu tranh tự phát, vô vọng, hay thất bại.
Bốn là, tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời kỳ này đã phác thảo “mô hình” chung về
một xã hội mới mang tính xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Tư tưởng xã
hội chủ nghĩa thế kỷ thế kỷ XVIII đã phác thảo mô hình xã hội mới tốt đẹp trên
các lĩnh vực kinh tế, chính trị văn hóa, xã hội. Nhìn chung các tư tưởng xã hội
chủ nghĩa thế kỷ XVIII đều thể hiện tinh thần bình đẳng yêu thương nhau, mọi
người đều được học hành, vui chơi, hôn nhân và gia đình được tự do, hạnh phúc,
văn hóa, xã hội công bằng văn minh.
Về hạn chế
Một là, chưa phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân. Mặc dù, các nhà tư tưởng
chủ nghĩa xã hội thế kỷ XVIII đã bênh vực những người nghèo khổ, song chưa ai trong số họ nhìn thấy nhân tố cách mạng
trong những người nghèo khổ; chưa ai phát hiện ra lực lượng xã hội có tiên
phong có thể thực hiện cuộc chuyển biến cách mạng từ tư bản chủ nghĩa lên cộng
sản chủ nghĩa.
Hai là, chưa thấy được con đường để đi tới xã hội tương lai tốt đẹp. Các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời kỳ này mong muốn một xã hội tốt đẹp nhưng họ chủ trương đi đến xã hội công bằng bằng con đường cải cách dần dần, thuyết phục giáo hóa bằng tư tưởng chứ không phải bằng con đường đấu tranh cách mạng, cải biến cách mạng.
Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng của Grắccơ Babớp (1760-1797)
Grắccơ Babớp tên thường gọi là
Ph.răng xoa Nôen. G.Babớp sinh 1760, trong một gia đình công nhân
nghèo. Năm 20 tuổi ông làm nhân viên lưu trữ hồ sơ. Công việc
này đã giúp ông có điều kiện tiếp xúc nhiều
nguồn tư liệu, qua đó nâng cao hiểu biết về nhiều lĩnh vực xã hội.
G.Babớp hiểu rõ cơ chế thống trị của giới quý tộc. Từ đó, Ông có thái độ căm
ghét chế độ phong kiến sâu sắc.
Khi cuộc cách mạng 1789 nổ ra, G.Babớp đang sống
ở Pari và tích cực tham gia vào cuộc cách mạng như nhiều thanh niên lúc bấy
giờ. Sau cuộc chính biến ngày 9 tháng Nóng năm 1794, ông bị bắt và
bị cầm tù ở nhà tù Arát năm 1795. Thời gian này đánh dấu sự phát triển tư tưởng
xã hội chủ nghĩa của ông. Tháng 10.1795, ông được thả ra cùng với một số bạn
chiến đấu của mình. Cuối năm đó, ông tổ chức một Hội mang tên “Câu
lạc bộ Păngtêông”. Các thành viên chủ chốt của Hội có tư tưởng cách mạng, chống
giai cấp tư sản. Họ đã tiến hành các hoạt động tuyên truyền cổ động, tập hợp
lực lượng cách mạng.
Để tuyên truyền những tư tưởng
cộng sản, phái Babớp đã xuất bản hai tạp chí “Diễn đàn nhân dân” và “Người khai
sáng”. Tuy nhiên, kế hoạch khởi nghĩa của G.Babớp và các chiến hữu của
ông bị bại lộ, nhiều người tham gia bị bắt và bị kết án. Babớp bị xử chém vào ngày
27/5/1797.
Nội dung tư
tưởng xã hội chủ nghĩa của G.Babớp
Trong quan niệm của G.Babớp về chủ
nghĩa xã hội, ông chịu ảnh hưởng tư tưởng của chủ nghĩa duy vật Pháp thế kỷ
XVIII, tư tưởng về một cuộc cách mạng của nhân dân lật đổ chế độ bóc lột của G.Mêliê, chủ
nghĩa cộng sản không tưởng của Ph.Morenly với kinh nghiệm
hoạt động thực tiễn của khuynh hướng cực tả của cách mạng Pháp.
G.Babớp là người
đầu tiên trong lịch sử cận đại đã cố gắng biến chủ nghĩa xã hội từ quan niệm tư
tưởng thành vấn đề thực tiễn cách mạng. Trong bản “Tuyên ngôn của những người
bình đẳng” ông đã vạch ra
một cương lĩnh hành động cách mạng, với kế hoạch và các biện pháp cụ thể để có
thể thực hiện được các tư tưởng cộng sản, bảo đảm cải thiện tình cảnh của người
nghèo và trấn áp các hành động chống đối của các lực lượng phản cách mạng. Trong đó, biện pháp đầu tiên là
cách mạng sẽ nắm việc tổ chức sản xuất bánh mì cho nhân dân và trung ương
(cưỡng bức) các lò bánh mì tư nhân vào sản xuất bánh mì, nếu chủ lò nào chống
lại sẽ bị trừng trị nghiêm. Thứ hai là, chính phủ cách mạng sẽ nắm, quản lý tất
cả các nhà cửa của bọn giàu có để chia cho dân nghèo. Thứ ba là, đáp ứng các
nhu cầu thiết yếu của nhân dân, buộc các chủ hiệu cầm đồ trả lại các đồ vật của
dân đã mang đi cầm cố. Thứ tư là, chính phủ sẽ chiếm giữ kho bạc, bưu điện, các kho tàng của lực lượng phản cách mạng. Thứ năm
là, tịch thu các tài sản của bọn phản động chạy trốn để phân phối cho những
người cách mạng, những người có công. Ngoài ra, còn các biện pháp có tính lâu
dài để củng cố và giữ vững các thành quả cách mạng, xây dựng xã hội mới.
G.Babớp đã đề ra
tư tưởng về sự cần thiết phải thực hiện nền chuyên chính cách mạng của những
người lao động. Đó là tước đoạt tài sản của giai cấp bóc lột. Thực hiện các
hành động trấn áp sự phản kháng của kẻ thù. Ông tuyên bố “cần phải dùng bàn tay
sắt để trấn áp mọi kẻ thù”. Cuộc đấu tranh đó không phải chỉ được bắt đầu từ lúc nó được tuyên bố công
khai mà nó diễn ra mãi mãi. Nó được bắt đầu cùng với sự xuất hiện những thể chế
tìm cách tranh của cải vào tay một số người này và tước đoạt tất cả của những
người khác. Sự nổi dậy của những người bị áp bức chống những kẻ áp bức sẽ bùng
nổ khi nào đa số bị dồn đến tình trạng không thể chịu đựng được nữa. Theo G.Babớp, cuộc nổi dậy đó chỉ là bước đầu, nó phải đi đến cùng, đến cuộc cách
mạng vĩ đại hơn. Ông tin rằng, cuộc cách mạng ấy nhất định sẽ phải nổ ra vì gốc
rễ của chế độ cũ đã mục ruỗng, và các tệ nạn xã hội của chế độ đó đã phát triển
đến mức tột cùng.
Phác
họa mô hình xã hội tương lai
Về kinh tế, xã hội cộng sản là một công xã lớn gồm những người công dân muốn cùng làm
việc theo nguyên tắc cộng sản và cùng nhau hưởng thụ thành quả chung. Quá trình
hình thành công xã vừa là quá trình tước đoạt của
kẻ giàu vừa là quá trình tự nguyện hiến của cải của mọi người công dân. Đồng
thời nền kinh tế được tổ chức một cách tập trung, thống nhất, trên cơ sở bình
đẳng cùng với việc nhà nước tính toán nhu cầu xã hội để xác định xem sản xuất
và tiêu thụ như thế nào là hợp lý. Babớp cũng đề cập đến việc đưa máy móc và áp
dụng các phương pháp giảm nhẹ những công việc nặng nhọc cho người lao động.
Thực hiện nguyên tắc phân phối theo số lượng và chất lượng lao động. Công dân
được nhận từ xã hội những thứ cần thiết để thoả mãn nhu cầu cơ bản của mình. Xã
hội phân phối sản phẩm cho mọi người theo phương châm “phải chăng, chân thật”.
Về chính trị, chính phủ do
cách mạng lập ra phải là hình thức “chuyên chính cách mạng của những người lao
động” được coi là điều kiện chính trị cần thiết để tiến hành công cuộc cải tạo
xã hội. Phái Babớp quy định “những người lao động không có ích cho xã hội thì
không được hưởng bất kỳ quyền lợi chính trị nào. Lao động có ích là lao động
trong các lĩnh vực: chăn nuôi, trồng trọt, hằng hải, cơ khí, giao thông vận
tải, khoa học…Lao động chân tay là tiêu chuẩn số một để có quyền lợi chính trị.
Lao động trí óc phải được chứng minh thất sự là có ích cho tổ quốc”
Chế độ xã hội mới là xã hội mọi người được lao động
và hưởng thành quả lao động chung trong các công xã. Trong nước cộng hòa tổ
chức một công xã lớn toàn quốc bao gồm tất cả tài sản quốc gia. Nhà nước kêu
gọi công dân tự nguyện hiến tài sản của mình cho công xã; thủ tiêu quyền thừa
kế tài sản; những người chết thì tài sản của họ phải chuyển vào công xã. Việc
tước đoạt tài sản của những người chiếm hữu lớn tư liệu sản xuất sẽ tiến hành
dần dần, từng bước, chứ không thể và không nên tước đoạt ngay.
Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng của Gabrien Bonnô Đờ Mably (1709-1785)
G.Mably sinh năm 1709 trong
một gia đình quí tộc ở Gronôbo. Cha của ông là nghị sĩ. Hồi nhỏ ông được gia
đình gửi đến học ở trường dòng thuộc chủng viện Xanh Xuynpitxơ, thủ đô Pari
(Pháp). Học xong nhận được chức tu viện trưởng, không lâu sau đó, ông quyết
định từ bỏ tôn giáo và đi vào nghiên cứu khoa học. Ông cũng có một thời gian
làm việc ở Bộ ngoại giao (1742-1748).
G.Mably viết nhiều sách, nghiên cứu
về chính trị, xã hội đương thời. Ông là tác giả của trên 30 đầu sách. Những tác phẩm
nổi tiếng của ông bao quát nhiều vấn đề lịch sử, chính trị, pháp luật như:
“Nhận xét về người La Mã” (1751); “Nhận xét về người lịch sử nước Pháp- quyền
và nghĩa vụ công dân” (1758); “Về việc làm luật và các nguyên tắc của pháp
luật” (1776); “Những nghi vấn đặt ra cho các nhà triết học - kinh tế trên vấn đề trật tự tự nhiên và cần thiết
của các xã hội chính trị (1786); “Bút ký về sự quản lý và những luật lệ của
Mỹ”. Những quan điểm triết học của Lốc cơ (1632-1704, Anh), của Côngđiắc
(1715-1780, Pháp) là cơ sở lý luận của các tư tưởng xã hội - chính trị của
Mably.
Nội dung tư
tưởng xã hội chủ nghĩa của G.Mably
Tư tưởng phê phán chế độ
xã hội đương thời
Trước hết đó là tư tưởng phê phán
chế độ tư hữu. G.Mably phản đối luận điểm cho rằng chỉ có chế độ tư
hữu mới là yếu tố kích thích con người làm việc. Theo ông, chế độ tư hữu đã làm
nảy sinh những ham muốn xấu xa, bỉ ổi, từ đó làm cho những kẻ tư hữu có các
hành động ti tiện, tàn bạo để thoả mãn những ham muốn đó. Khi chưa có chế độ tư
hữu thì con người chỉ toàn có những đam mê lành mạnh, trong sáng, vì vậy, trong
xã hội chỉ có các quan hệ gắn bó, hữu ái giữa người với người. Ông khẳng định rằng, chừng nào chế độ tư hữu còn tồn tại thì công bằng,
bình đẳng xã hội không bao giờ có được và xã hội không thể có dân chủ thực sự.
Bọn quí tộc, tư sản tài chính sẽ thâu tóm quyền lực và đẩy các dân tộc đi đến
các cuộc chiến tranh đẫm máu. Trong cuốn sách “Nhận xét về Hoa kỳ”, ông đã kết
luận: sự phát triển của một chế độ quí tộc tài chính, sự tăng trưởng của tình
trạng bất bình đẳng về của cải, mà Hoa kỳ đang phát triển theo hướng ấy sẽ dẫn
Hoa kỳ đến chỗ không tránh khỏi việc thiết lập một chế độ tàn bạo của bọn nhà
giàu và đến các cuộc chiến tranh xâm lược các quốc gia khác. Lịch sử 200 năm
sau này của Hoa kỳ đã chứng minh tính đúng đắn kết luận đó của G.Mably.
Ông vạch trần sự mục ruỗng và phản động của chế độ
chuyên chế. Chế độ chuyên chế làm cho xã hội có nguy cơ bị tiêu vong vì bệnh
hoại thư do sự thối nát của nó gây ra. Cho nên, cần phải lật đổ nền chuyên chế
này. Ông cổ vũ cho cuộc nội chiến cách mạng để thủ tiêu chế độ chuyên chế. Theo
ông, một dân tộc không muốn kháng cự kẻ
thù bên trong của mình, thì nhất định phải bị áp bức. Ông khẳng định rằng chế
độ chuyên chế và chế độ tư bản không thể tồn tại mãi. Ông dự đoán chẳng bao lâu
nữa nền quân chủ ở Pháp sẽ sụp đổ và cả nước Anh rồi cũng sẽ mất hết thuộc địa.
Về xã hội tương lai, trên cơ sở lý thuyết về trạng thái tự nhiên, G.Mably đặt vấn đề: nếu trong lịch sử nhân loại đã từng có cả một thời đại
lâu dài và hiện giờ ở một số nơi trên trái đất này vẫn tồn tại một xã hội dựa
trên chế độ cộng đồng về ruộng đất, tài sản thì tại sao lại không thể xây dựng
một chế độ sở hữu tập thể chí ít là đạt sự công bằng về tài sản trong hiện tại
và tương lai. Tiếp đó ông kết luận cần phải xóa bỏ chế độ tư hữu hiện nay, để
xác lập chế độ công hữu. Ông khẳng định trong chế độ công hữu có nhiều yếu tố
kích thích sự hang say lao động một cách mạnh mẽ hơn. Chế độ đó sẽ thể hiện
được đầy đủ tính ưu việt của nó và sẽ đem lại cho con người ấm no, tự do, hạnh
phúc và thoả mãn các nhu cầu khác.
Về tổ chức,
quản lý sản xuất, xã hội tổ chức lao động hợp lý,
thực hiện chế độ lao động bắt buộc với mọi người, mọi người đều phải lao động.
Xã hội không cho phép có kẻ ăn không ngồi rồi, ăn bám người khác. Theo G.Mably, trong
xã hội mới thì lao động không chỉ là nghĩa vụ mà còn là vinh dự. Ai cũng hang
say lao động cho chính mình và cho xã hội trong những tập đoàn sản xuất tùy
theo sức khỏe. Luật lệ xã hội làm tăng sự kính trọng đối với lao
động. Về phân phối, xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo nhu cầu.
Về chính trị, G.Mably không tán
thành quan điểm phân chi quyền lực của Môngtexkiơ. Ông khẳng định người chủ của nhà nước là nhân dân. Ông chủ trương, trong chế độ xã hội mới, nhà nước
được xây dựng trên cơ sở dân chủ, thông qua lựa chọn của các đại biểu nhân dân.
Nhà nước có chức năng tổ chức lao động và phân phối sản phẩm cho toàn dân, duy
trì trật tự xã hội và bảo vệ phong tục tập quán. Trong xã hội mới, mọi công dân
sẽ có ý thức đoàn kết trên cơ sở thống nhất lợi ích chung, sẵn sàng đứng lên
chiến đấu bảo vệ cuộc sống tốt đẹp của mình. Khi đất nước có nạn ngoại xâm, tất
cả mọi người, nam và nữ, sẽ đứng lên cầm vũ khí chiến đấu. Xã hội không có phân
chia đẳng cấp, không có quân đội thường trực.
Về văn hóa- xã hội, G.Mably đề cao công tác giáo dục, mong muốn xã hội
thực hiện chế độ giáo dục toàn dân không mất tiền. Đặc biệt, xã hội chăm lo bồi
dưỡng thế hệ trẻ về mọi mặt để họ kế tục xứng đáng thế hệ cha anh và đáp ứng
được những yêu cầu và lợi ích chung của xã hội trong tương lai, trở thành những
công dân toàn diện. Nền tảng của đạo đức xã hội đó là mọi người cần phải thực
hiện nguyên tắc luân lý: “Hãy đừng làm cho người khác điều gì mà mình không
muốn người khác làm cho mình”.
Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng của Phơrăngxoa Morenly
Tiểu sử của Ph.Morenly còn chưa rõ ràng, tác phẩm nổi tiếng của
Ph.Morenly là “Bộ luật tự nhiên”, xuất bản năm 1755 ở Amxtecđam (Hà Lan) và
đến 1841 được tái bản, ghi tên là Ph.Morenly. Có thể cái tên Ph.Morenly là một
bút danh của một người nào đó.
Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa của Ph.Morenly
Tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng của
Ph.Morenly dựa trên lý thuyết về quyền bình đẳng tự nhiên của con người. Theo Ph.Morenly, trong giai đoạn đầu xã hội loài người
không có chế độ tư hữu. Trong “Bộ luật tự nhiên”, Ông chứng minh rằng con
người vốn sinh ra đã là bình đẳng, đó là lẽ tự nhiên và phù hợp với tự nhiên.
Chế độ xã hội của loài người đã từng tồn tại ở trạng thái bình đẳng, đó là chế
độ cộng đồng công xã nguyên thuỷ, và hiện nay những dấu hiệu đó vẫn còn tồn tại
ở một số nơi trên thế giới.
Một trong những nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa
không tưởng của Ph.Môrenly thể hiện rõ nét là quan điểm xóa bỏ chế độ tư hữu.
Ông cũng nhận thức sâu sắc rằng chế độ tư hữu là nguồn gốc của mọi tệ nạn xã
hội. Do đó, muốn xóa bỏ những điều tệ hại, xấu xa cần phải thủ tiêu chế độ tư
hữu trong đời sống xã hội. Ông cho rằng, ở nơi nào không có quyền tư hữu thì ở
đó không thể có một hậu quả nguy hại nào của nó... Trong bất cứ xã hội nào, mọi
quyền tư hữu về những của cải được phân chia đều là nguồn gốc của những tai hại
tày trời.
Mô hình xã hội tương lai. Ph.Morenly đã
mơ ước về một xã hội tốt đẹp với đặc trưng: chế độ công hữu là nền tảng xã hội.
Đây là nét nổi bật trong tác phẩm Bộ luật
của tự nhiên. Theo ông, chế độ công hữu phù hợp với đức hạnh tự nhiên của
con người; mỗi nơi đều làm việc tùy theo sức lực, khả năng và đều được xã hội
chăm sóc; trong xã hội, lao động không chỉ là nghĩa vụ mà chủ yếu là do tự
giác, bởi lẽ lao động là nhu cầu của con người.
Về kinh tế, mô hình xã hội
tương lai của Ph.Môrenly về kinh tế được phác hoạ trên cơ sở quan niệm về “thời
đại hoàng kim” đã từng tồn tại trong lịch sử nhân loại. Đó là chế độ công xã
nguyên thuỷ. Do đó, ông chủ trương cần khôi phục lại chế độ công hữu về của
cải. Trong xã hội, mỗi người đều phải lao động, được phân công công việc sát
hợp với khả năng, sở trường và sức khoẻ của mình. Xã hội có trách nhiệm chăm lo
toàn diện đến cuộc sống của mọi thành viên.
Về chính trị, Ph.Morenly chủ trương thành lập chế độ
cộng hòa dân chủ. Trong đó, nhà nước phải quản lý, điều tiết mọi hoạt động sản
xuất, phân phối của cải và duy trì được các lĩnh vực đời sống xã hội ổn định,
hài hòa. Để quản lý tổ chức xã hội, ông đề ra sự cần thiết phải có luật pháp.
Muốn vậy, cần thay thế các luật lệ cũ bằng những bộ luật mới, trên cơ sở kế
thừa những tập quán cũ, “thời đại hoàng kim” và bổ sung những nội dung mới.
Trong “Bộ luật tự nhiên”, ông nêu lên xã hội cần phải có những bộ luật như:
luật phân phối, luật ruộng đất, luật qui hoạch đô thị, luật trật tự xã hội,
luật cấm xa xỉ, luật cai trị, luật hôn nhân, luật giáo dục, luật hoạt động khoa
học.
Con đường
biện pháp để thực hiện các dự án xã hội mới của
Ph.Morenly không phải là đấu tranh cách mạng lật đổ chế độ xã hội đương thời
bằng sức mạnh của quần chúng nhân dân mà bằng các biện pháp có tính chất không
tưởng. Đó là sự ảo tưởng có thể xóa bỏ chế độ tư hữu và chế độ xã hội đương
thời bằng cách làm cho nhà cầm quyền, những kẻ giàu có biết điều, có đạo đức,
lương tâm và mọi người trong xã hội phải có học thức, hoặc bằng cách thay đổi
luật lệ. Như vậy, rõ ràng là trên phương diện xã hội, Ph.Môrenly mặc dù có
những tư tưởng tiến bộ, có tính xã hội chủ nghĩa trong việc phê phán chế độ tư
hữu, để xóa bỏ nó, thiết lập chế độ công hữu, thức tỉnh con người sống hưởng
thiện và nhân ái, song về xã hội ông vẫn là một nhà duy tâm chủ quan và cũng
hết sức mơ hồ.
Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng của các đại biểu tiêu biểu của Giăng Mêliê (1664-1729)
Giăng Mêliê sinh năm 1664 tại
làng Madécvi miền SămPanhơ (Pháp) trong gia đình thợ dệt. Hồi nhỏ, ông học
trong trường dòng. Tại đây ông được nghiên cứu các nhà triết học, thần học và
chịu nhiều ảnh hưởng các quan điểm triết học duy vật, vô thần theo nhiều khuynh
hướng khác nhau. Năm 23 tuổi, ông được phong làm linh mục và đi hành đạo ở một
làng quê có tên là Eitơrơpênhi và ở đó đến tận cuối đời.
Là môn đồ tôn giáo, lại trực tiếp cai quản tín đồ ở
một làng quê, nên G.Mêliê rất gần gũi với nông dân. Ông hiểu biết sâu sắc tình
hình nông thôn và cuộc sống của nông dân ở đây. Ông cảm thông sâu sắc với những
suy tư thầm kín và những khát vọng của nhân dân. Ông thường đứng về phía nông
dân chống lại bọn địa chủ bóc lột họ bằng sưu cao, thuế nặng và áp bức, đánh
đập họ tàn nhẫn. Ông chống lại sự áp bức của tôn giáo. Trong những năm cuối
đời, tại chính làng quê này, ông đã viết cuốn sách nổi tiếng “Di chúc của tôi”,
trong đó chứa đựng nhiều tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng”.
Nội dung tư
tưởng xã hội chủ nghĩa của G.Mêliê
Phê phán xã hội
đương thời, Giăng Mêliê vạch rõ, xã hội đương thời có quá nhiều kẻ ăn bám, những kẻ
sống phè phỡn trên lưng người lao động và bằng mồ hôi, nước mắt của họ. Ông lên
án bọn vua quan từ nhà vua đến tên nhân viên thu thuế, từ bọn quý tộc đến tên
địa chủ ở nông thôn. Ông cho rằng mọi tội ác trên đời, những bất công, những vụ
cướp đoạt trên biển, trên đất liền, những cuộc tàn sát dã man đều là do bàn tay
vấy máu của bọn vua quan gây ra, xuất phát từ lòng tham, thói ích kỷ và sự độc
ác của chúng. Ông nguyền rủa tình trạng bất bình đẳng xã hội, sự phân chia đẳng
cấp. Đó là tình trạng tất cả của cải và mọi sự thoả mãn đều là đặc quyền, đặc
lợi của bọn vua quan, bọn giàu có, còn quần chúng lao động thì phải làm việc
cực nhọc và không được hưởng thụ những thứ do mình làm ra, phải sống nghèo đói.
Giăng Mêliê vạch rõ, nguồn gốc
của mọi bất công, tội ác của chiến tranh, bất hạnh... là do chế độ tư hữu gây
ra. Vì vậy cần phải xóa bỏ tư hữu cùng với xóa bỏ bọn vua quan, kẻ ăn bám. Nét
độc đáo ở Giăng Mêliê ở chỗ ông là một môn đồ của tôn giáo, song lại là người
chống lại tôn giáo mạnh mẽ, trên quan điểm duy vật. Hơn thế, ông còn làm tất cả
những gì để giáo dục phổ cập tư tưởng chống tôn giáo cho nhân dân.
Giăng Mêliê không dừng lại ở sự chỉ trích, tố cáo,
mà ông tiến xa hơn khi ông là người kêu gọi, động viên, phát động nhân dân đứng
lên đấu tranh xóa bỏ chế độ bóc lột, áp bức, xã hội bất công đó. Ông có thái độ
không thoả hiệp với các giai cấp thống trị. Ông đòi hỏi quần chúng phải lật đổ
và thủ tiêu ách thống trị của vua quan và tất cả bọn bóc lột, áp bức. Điều này
mấy chục năm sau đã được cuộc cách mạng dân chủ tư sản Pháp 1789 thực hiện.
Dự kiến mô hình
xã hội tương lai.
Về kinh tế, Giăng Mêliê từ
chỗ phủ nhận chế độ tư hữu, coi chế độ tư hữu là nguồn gốc của mọi bất công, do
đó ông chủ trương xã hội mới phải xóa bỏ chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công
hữu về ruộng đất và mọi của cải. Xã hội được tổ chức như một gia đình thống
nhất. Mọi của cải được quản lý chung, mọi người được cấp lương, được mặc, được
nhà ở và tư liệu sinh hoạt khác như nhau. Các thành viên xã hội được những
người tài giỏi quản lý, điều hành công việc để phát triển sản xuất và giữ gìn
của cải chung.
Về phân phối, Ông chủ
trương xã hội thực hiện phân phối theo nhu cầu, bảo đảm cho cuộc sống của mỗi
người một cách bình quân, nếu họ làm việc có ích và khéo san sẻ. Ông viết: Nói
chung nếu mọi người đều có và đều được hưởng một cách bình đẳng những của cải
và những phương tiện sống, nếu họ nhất trí lo toan đến những công việc lương
thiện và có ích nào đó... và nếu họ san sẻ khéo cho nhau những của cải trên
trái đất và thành quả lao động và kỹ thuật của họ, thì họ sẽ khá dồi dào để
sống một cách hài lòng và sung sướng.
Về chính trị, Giăng Mêliê chủ
trương xây dựng tình đoàn kết, sự liên minh của các cộng đồng xã hội và dân tộc
vì lợi ích chung của các dân tộc. Ông cho rằng các thành thị và các cộng đồng
khác nhau sống bên cạnh nhau đều phải chăm lo xây dựng mối liên minh với nhau,
không làm gì tổn hại đến cuộc sống hòa bình, hữu nghị; phải biết giúp đỡ nhau
khi cần thiết. Nếu không làm được như vậy thì sẽ không thể tồn tại và phát
triển và cuối cùng nhân dân sẽ bị đau khổ.
Trong “Di chúc của tôi” cũng như cuộc đời của Giăng
Mêliê còn nhiều mâu thuẫn. Do điều kiện lịch sử, những ước mong của G.Mêliê còn
mang tính không tưởng vì nó chưa thể thực hiện được. Nhưng “Di chúc của tôi”-
với sự lên án sâu sắc xã hội đương thời, với thái độ phủ định nó một cách triệt
để, với những lời hiệu triệu quần chúng đứng lên đấu tranh và với tất cả những
gì Ông mong ước về một xã hội không có áp bức, bóc lột, không có chế độ tư hữu,
xác lập chế độ công hữu về của cải, thực hiện bình đẳng xã hội. G.Mêliê xứng
đáng được coi là người dự báo cuộc cách mạng tư sản và là nhà tư tưởng xã hội
chủ nghĩa không tưởng đầu tiên của Pháp thế kỷ XVIII.
HOÀN CẢNH LỊCH SỬ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHÔNG TƯỞNG THẾ KỶ XVIII
Châu Âu nói chung và nước Pháp
nói riêng trong thế kỷ XVIII đã khẳng định sự thắng lợi căn bản có tính quyết
định của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa so với phương thức sản xuất
phong kiến. Giai cấp tư sản cũng đã bắt đầu vươn dài cái vòi bạch tuộc ra thế
giới.
Nước Pháp trước cách mạng tư sản là một nước quân
chủ chuyên chế. Đến giữa thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến chuyên chế đã báo hiệu
cho thấy giờ báo tử của nó sắp điểm. Nền chuyên chính của dòng họ Buốc bông -
sản phẩm của sự cố kết giữa tầng lớp quí tộc phong kiến và giáo hội Cơ đốc giáo
đã mục ruỗng và đang lung lay. Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và phong kiến đã lên
đến cực điểm. Giai cấp tư sản Pháp - đã trở thành lãnh tụ chính trị của đẳng
cấp thứ ba bao gồm các giai tầng có nhiều uất hận với phong kiến như nông dân,
thợ thủ công, tầng lớp lao động, tiểu tư sản, thị dân.
Thế kỷ XVIII là thế kỷ ghi nhận sự phát triển rực
rỡ của văn hóa, nghệ thuật và tư tưởng ở châu Âu, đỉnh cao là Phong trào Khai
sáng. Đây là trào lưu chính trị- xã hội- tư tưởng được hình thành và phát triển
mạnh mẽ trong thời kỳ chuẩn bị cho cuộc cách mạng dân chủ tư sản. Họ đề cao, ca
ngợi tư tưởng tự do, dân chủ, nhu cầu vật chất của con người; họ đã tuyên chiến
với lễ giáo cổ hủ phong kiến, tiến công vào giáo hội, giáo lý tôn giáo cũng như
những công cụ nô dịch tư tưởng con người. Hoàn
cảnh lịch sử đó đã xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng, nhiều quan niệm mới về xã
hội trong đó có những tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng thế kỷ XVIII, với
các đại biểu tiêu biểu như Giăng Miliê, Phrăngxoa Morenly, B.ĐờMably, Grắccơ
Babơp...

