Nhiều trang đưa những tít bài giật gân như: Ai sẽ là tứ trụ
đại hội XIII; Ai ở, ai đi, ai kế nhiệm Tổng Bí thư; Rối ren trước thềm đại hội
XIII… Nội dung xoay quanh tình hình về nội bộ Đảng khi dự kiến nhân sự cấp
chiến lược, quy hoạch cán bộ cho Đại hội lần thứ XIII; đưa ra “dự kiến nhân sự”
Bộ Chính trị, người kế nhiệm Tổng Bí thư, thay thế Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng
Chính phủ. Nội dung không có gì mới mà chủ yếu xoay quanh bình luận về độ tuổi,
dự kiến người của 3 miền sẽ nắm chức này, chức nọ. Thâm hiểm hơn nữa là nêu
quan hệ của các chức tạo liên danh giành quyền lực chủ chốt trước và trong đại
hội. Rồi từ đó nhận định như đinh đóng cột Tổng Bí thư sẽ nhường ghế cho ai,
chức Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ thuộc về ê kíp nào... Chúng đưa ra
những danh sách mơ hồ và khẳng định những người sẽ được cơ cấu trong Bộ Chính
trị, Ban Bí thư, các chức danh quan trọng trong bộ máy cấp cao.
Thứ Ba, 19 tháng 11, 2019
Cần kiên quyết với kẻ khoác áo “minh triết” luận về triết lý giáo dục
Thời
gian qua, dư luận còn đang bàn luận bài Triết lý Giáo dục Việt Nam hiện nay của
người có bút danh là Phạm Văn trên Danlambao, những tưởng có thêm lời giải… Ai
dè, lại thấy kẻ khoác áo “minh triết” luận về triết lý giáo dục. Xin nói ngay khi đọc bài viết
trên, ai cũng thấy người có bút danh Phạm Văn hoặc là người “có học”, hoặc là
giả danh vị thế khoa học của người khác, bởi ông ta đã viết: “Tôi đã từng tham
dự nhiều cuộc bàn thảo nói trên” - các cuộc thảo luận về triết lý giáo dục ở
Việt Nam. Quả thực, khi đọc bài viết đó, lúc đầu ai cũng thấy ông ta có văn
hay, triết lý rõ ràng, am hiểu về giáo dục và triết lý giáo dục… Nhưng hớ hênh
thay, cái vẻ bề ngoài của “kẻ sĩ” lắm chữ đó, không thể che đậy được bản chất
của một “gian sĩ”, chuyên dùng “chữ nghĩa”, triết lý cao siêu để lòe bịt, dẫn
dụ người khác theo tư tưởng thấp hèn và hành động chống phá Nhà nước và chế độ
ta. Đó là dẫn dụ người đọc bằng cách đưa ra những phạm trù, khái niệm đúng và
rất cao siêu như: Triết lý, minh triết, vô minh triết… cùng những lý giải về
nội hàm của nó, để từ đó dẫn người đọc đến những luận điểm nửa đúng, nửa sai mà
đọc qua có thể dễ dàng chấp nhận là đúng cả. Đó là thủ đoạn tinh xảo, trở thành
“thủ pháp” và “nghệ thuật” của kẻ có chữ, “chơi chữ” để lừa đảo kẻ ít chữ, kẻ ít
hiểu biết hơn mình, nhưng hay ngộ nhận và “tôn sùng” kẻ sĩ. Cái nguy hiểm trong
sự dẫn dụ từ cái đúng trong lý luận triết lý chung chung trở thành cái nhận
định sai trong cả lý luận và đời sống xã hội của Văn mới là đáng kể và thực sự
đó là một sự đểu giả của kẻ tự coi mình là “minh triết”, khoa trương, múa mép
về văn vở, đi triết tự, giảng giải cho người khác.
Cần kiên định với chủ nghĩa Mác-Lê nin với tư tưởng Hồ Chí Minh
Luận điệu của các thế lực thù địch chính là muốn hướng lái
dư luận hoài nghi về bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, gây hoang mang, dao động, chia rẽ sự thống nhất về chính
trị, tư tưởng, tổ chức trong Đảng, làm giảm sút niềm tin trong cán bộ, đảng
viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Thực chất là chúng muốn
phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng, muốn
Việt Nam thay đổi chế độ chính trị, thực hiện đa nguyên, đa đảng, từ bỏ mục
tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Một số giải pháp đấu tranh với các quan điểm thù địch
Một là,
thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người
đứng đầu, ban chỉ đạo, cơ quan chức năng các cấp, nhất là vai trò, trách nhiệm
nêu gương của cán bộ, đảng viên; quan tâm lãnh đạo toàn diện lý luận chính trị,
tư tưởng, văn hóa, văn học nghệ thuật, báo chí; tích cực đấu tranh trên các
phương tiện truyền thông, mạng xã hội; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội
bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh. Tức là phải
phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong
xây dựng lực lượng đấu tranh nòng cốt chuyên sâu, nhất là cơ quan nghiên cứu,
cơ quan báo chí, các học viện, nhà trường, đội ngũ chuyên gia, cộng tác viên.
Duy trì, tổ chức thực hiện tốt việc đấu tranh trên các phương tiện thông tin
đại chúng, lấy các cơ quan báo chí làm nòng cốt để vạch trần bản chất, âm mưu,
thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, đồng thời định hướng dư
luận xã hội. Đồng thời, thiết lập các trang, nhóm, tài khoản mạng xã hội nhằm
tiếp cận, chia sẻ thông tin tham gia đấu tranh phản bác trên internet, mạng xã
hội với các hình thức, phương pháp linh hoạt; chú trọng chia sẻ thông tin tích
cực, bài viết chuyên sâu của các cơ quan báo chí, học viện, nhà trường tạo
“dòng chủ lưu” thực hiện phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, “lấy thông tin
tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”.
Bài học cho những người “trở cờ” phản dân, hại nước
Bài học cho những người “trở cờ” phản dân, hại nước
Ngày 15-11, TAND tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm
vụ án Nguyễn Năng Tĩnh về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông
tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống lại Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Đây là
phiên tòa hình sự xét xử công khai, hành vi và tội trạng thể hiện rõ tại cáo trạng
cũng như quá trình xét hỏi, thẩm vấn tại tòa.
Tuy nhiên, cũng như
những vụ án xét xử các bị cáo có hành vi chống Nhà nước Việt Nam, một số tổ
chức, cá nhân thù địch lại chụp mũ “tù nhân lương tâm”, “xét xử người bất đồng
chính kiến”..., lấy cớ lên án tòa án và Nhà nước. Thậm chí, họ còn đưa ra các
“thông cáo” với những đòi hỏi hết sức phi lý.
Ngay trước khi diễn ra phiên tòa, tổ chức theo dõi nhân quyền
Human Rights Watch (HRW) vào ngày 14-11 ra “thông cáo báo chí” kêu gọi Chính
phủ Việt Nam “cần hủy bỏ mọi cáo buộc đối với nhà hoạt động nhân quyền Nguyễn
Năng Tĩnh và phóng thích ông này ngay lập tức”. Giám đốc vận động Châu Á của
HRW, ông John Sifton, được dẫn lời qua thông cáo báo chí rằng trường hợp Nguyễn
Năng Tĩnh “là người mới nhất trong một chuỗi dài các nhà bất đồng chính kiến bị
nhắm vào vì đăng tải thông tin và lên tiếng phê phán trên Facebook”. Ông này vu
cáo “chính quyền đang lạm dụng Bộ luật Hình sự để bắt giam những người dân
không làm gì khác ngoài việc thực thi các quyền cơ bản về tự do ngôn luận”.
Ông Phil Robertson, Phó giám đốc đặc trách khu vực Châu Á của
HRW nói với đài RFA hôm 14-11 rằng: “Vụ của ông Nguyễn Năng Tĩnh là trường hợp
rõ ràng về một người bất đồng chính kiến bị chính quyền Việt Nam nhắm vào.
Những gì mà ông ấy làm chỉ là đưa thông tin về môi trường lên mạng xã hội. Ông
ấy chỉ làm những điều cơ bản mà một nhà hoạt động xã hội thường làm. Ông ấy
thực thi quyền của mình chứ không làm gì sai trái cả”.
Từ việc suy diễn vô lối như trên, ông này lộ rõ động cơ thực của
mình khi quy chụp “chính quyền Việt Nam cứ tiếp tục với cách này thì càng chứng
tỏ thành tích nhân quyền tồi tệ của họ”.
Luận điệu của HRW với các tuyên bố hay thông cáo nói trên không
có gì mới, vẫn là những trò chống phá xưa cũ. Ngay cả những nhân vật mà họ
trích lời, đưa ra các phát biểu như vậy cũng là những người vốn có định kiến,
tư tưởng thù địch với Nhà nước Việt Nam, chỉ khác là lắp lời nói vào vụ án này
hay vụ án khác, từ bị cáo này sang bị cáo khác. Còn về động cơ, ý đồ không có
gì thay đổi: chĩa mũi nhọn chống phá, hòng hướng lái dư luận bằng cách nhìn u
ám, đen tối về Đảng Cộng sản Việt Nam, chế độ XHCN.
Thực ra, vụ án Nguyễn Năng Tĩnh không hề có bất cứ sự mập mờ hay
đánh tráo nào như luận điệu họ rêu rao, tất cả đều được thể hiện bằng các tài
liệu, chứng cứ rõ ràng và công bố công khai. Kết quả điều tra cho thấy,
Facebook Nguyễn Năng Tĩnh được lập và hoạt động từ năm 2011, đến ngày
17-6-2018, tài khoản cá nhân này đã được sử dụng để đăng tải, chia sẻ nhiều bài
viết, hình ảnh, video có nội dung vi phạm pháp luật.
Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Nghệ An đã phát hiện, thu
thập được 22 bài viết, video, hình ảnh được đăng tải, chia sẻ trên trang
Facebook Nguyễn Năng Tĩnh để tiến hành điều tra, xác minh. Nguyễn Năng Tĩnh đã
thông qua trang Facebook cá nhân để móc nối với một số đối tượng cực đoan, phản
động trong và ngoài nước để viết, quay, tán phát, đăng tải, chia sẻ, bình luận
các nội dung xuyên tạc bản chất của Nhà nước Việt Nam, phủ nhận thành quả cách
mạng của dân tộc; phỉ báng chính quyền nhân dân, xuyên tạc lịch sử, phỉ báng
chế độ. Đưa ra các bài viết bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, kích động người
dân biểu tình, chống chính quyền, đăng tải các tài liệu có nội dung bịa đặt,
gây hoang mang trong nhân dân...
Các tài liệu, chứng cứ và vấn đề liên quan đến vụ án được
thể hiện rõ trong bản cáo trạng do đại diện VKS tỉnh Nghệ An trình bày tại
phiên tòa.
Tranh luận và nêu quan điểm tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm
sát cho rằng, căn cứ vào kết quả điều tra cũng như quá trình tiến hành tố tụng,
đủ cơ sở để truy tố Nguyễn Năng Tĩnh về tội danh: “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc
tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”.
Tội danh này phạm vào các điểm a, b, c, khoản 1, Điều 117, BLHS.
Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, quan điểm của kiểm sát
viên và các luật sư bào chữa, HĐXX xác định: Đây là vụ án rất nghiêm trọng,
hành vi của bị cáo rất nguy hiểm, diễn ra trong thời gian dài.
Bị cáo lợi dụng quyền tự do dân chủ trong việc sử dụng Facebook
cá nhân, lợi dụng các vấn đề chính trị, xã hội trong nước để xuyên tạc lịch sử,
kích động quần chúng nhân dân, xuyên tạc, vu cáo, chống lại chính quyền nhân
dân… HĐXX xử phạt bị cáo Nguyễn Năng Tĩnh 11 năm tù; phạt quản chế bị cáo 5 năm
kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Việc tòa án đưa ra xét xử bị cáo có hành vi vu cáo, xuyên tạc,
chống phá Nhà nước Việt Nam đúng với quy định của luật pháp hiện hành. Những
hành vi tương tự cũng được thể hiện sự nghiêm trị trong luật pháp các nước trên
thế giới. Ngay tại những nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, tòa án sở tại cũng
xét xử các bị cáo có hành vi chống chính quyền, Nhà nước với các hình phạt
tương ứng với hành vi vi phạm do họ gây ra.
Do đó, những luận điệu của HRW không thể lập lờ đánh lận sự thật
đã được thể hiện bằng chứng cứ pháp luật và sự xét xử khách quan, công minh của
tòa án. Theo số liệu thống kê của Liên Hợp Quốc, 138 quốc gia (trong đó có 95
nước đang phát triển) đã ban hành luật an ninh mạng.
Tuy khác nhau về tên gọi nhưng nội dung chính của pháp luật an
ninh mạng của các nước đều nhằm cải thiện tình hình an ninh thông tin của các
doanh nghiệp và cơ quan công quyền cũng như bảo vệ tốt hơn người dân trên môi
trường mạng Internet. Tùy theo hành vi, tính chất mà người vi phạm bị xử lý
hành chính hay bị truy cứu hình sự.
Vụ án này cũng là bài học cho những ai đang có ý nghĩ, hành vi
tương tự, cần phải biết nhìn nhận đúng đắn trước khi quá muộn. Nguyễn Năng
Tĩnh, SN 1976, là người Công giáo, sinh hoạt tại Giáo xứ Mỹ Khánh, Quỳnh Lưu,
Nghệ An. Tốt nghiệp Nhạc viện Âm nhạc Huế, Tĩnh trở thành thầy giáo dạy nhạc và
là giảng viên Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Nghệ An.
Trong môi trường giáo dục, có năng khiếu về âm nhạc, Tĩnh lại
thực hiện hành vi chống phá, tuyên truyền những sáng tác có nội dung sai lệch.
Cùng với đó, Tĩnh thường lợi dụng các cuộc tụ tập để hát những nhạc phẩm có nội
dung phá hoại tư tưởng, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.
Thậm chí, trên cương vị giảng viên âm nhạc, Tĩnh còn đưa những bài hát này phổ
biến cho sinh viên.
Tại sao một giảng viên âm nhạc, được đào tạo bài bản lại “trở
cờ”, có các hoạt động chống đối? Tìm hiểu về nhân thân cho thấy, Tĩnh đã không
giữ được bản thân mình, không thực hiện đúng nghĩa vụ với tư cách một công dân
cũng như với cương vị người thầy. Tĩnh đã trượt và ngày càng lấn sâu vào con
đường phạm pháp dưới sự dẫn dắt, mua chuộc của đối tượng xấu.
Với quan điểm là lấy giáo dục, thuyết phục làm trọng để uốn nắn,
cải sửa người nào đó vì nhận thức, động cơ sai lệch mà lầm đường lạc lối, mong
muốn họ tỉnh ngộ, từ bỏ sai lầm. Nhưng khi họ vẫn chứng nào tật nấy, không ăn
năn hối lỗi, cố ý thực hiện hành vi tội phạm, chống lại đất nước, nhân dân,
phạm vào quy định pháp luật hình sự thì phải áp dụng chế tài hình sự. Việc xử
lý nghiêm minh cũng là để răn đe, phòng ngừa chung.
Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch
Với mục tiêu xuyên suốt không thay đổi của chủ nghĩa đế quốc
và các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ
chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Thời gian gần đây, nhất là khi chúng ta đang
chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XIII của Đảng, chúng càng đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa
bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một cách toàn diện, trong đó
tập trung vào các lĩnh vực tư tưởng chính trị, kinh tế, pháp luật, quốc phòng,
an ninh, nguyên tắc tổ chức, cán bộ, công tác nhân sự đại hội...
Bác bỏ mọi sự xuyên tạc thực tế của Việt Nam
Xuyên tạc sự
thật là một thủ đoạn quen dùng của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt
Nam. Họ thường tập trung xuyên tạc vị thế lãnh đạo của Đảng, khi cho rằng “chế
độ một đảng lãnh đạo chỉ đưa dân tộc đến ngõ cụt”(!). Gần đây, trên một số
trang mạng xã hội, họ rêu rao rằng “Hơn 70 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam, đất nước ngày càng lún sâu vào xu thế lụn bại, tụt dốc không
phanh”(!). Xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, họ cho rằng “Đó là sự bế tắc của những người cộng sản, bởi đường lối
này là đầu Ngô mình Sở”(!). Xuyên tạc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa
dạng hóa, đa phương hóa, gắn với chủ trương “Việt Nam không tham gia liên minh
quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước
nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia”,
họ cho rằng “đường lối trung dung này tự cô lập Việt Nam, tước đi cơ hội hợp
tác với các nước lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(!). Xuyên tạc những thành
tựu của sự nghiệp đổi mới, họ cố bịa đặt: “đất nước đang lâm vào khủng hoảng
toàn diện”(!), v.v.
LÊ MÃ LƯƠNG - BÊNH CÔNG THẦN, TƯ TƯỞNG DÂN TÚY HAY BIỂU HIỆN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”
Trong
thời gian qua, trên các trang mạng xã hội xuất hiện nhiều bình luận khác nhau về
bài phát biểu của một cựu chiến binh, người- một thời là niềm tự hào của thanh
niên Việt Nam trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Bọn cơ hội, bọn phản phản động
thì tung hô, ca ngợi “người anh hùng”. Người là đồng bào, đồng đội của ông thì
xót xa, xấu hổ vì đã có thời ngưỡng mộ ông. Vậy, tại sao ông lại thế? Căn bệnh
đó bắt đầu từ đâu?
ANTON ĐẶNG HỮU NAM – KẺ VÔ ƠN, PHẢN BỘI CHÚA
Chúa Giêsu trong thân phận làm người, Ngài cũng nếm
cảnh trần trụi của tình người thay trắng đổi đen, của sự vô ơn và phản bội của
thế gian. Ngài cũng hiểu nỗi đau của sự bị bỏ rơi, của sự vô ơn của kẻ Ngài đã
từng thi ân. Ngài đã từng tiếc nuối cho kẻ vì danh lợi thú mau qua mà bán rẻ
nhân phẩm của mình, vì chút bổng lộc mà bán đứng anh em. Ngài đã từng ước mơ
“thà nó đừng sinh ra thì hơn”. Nhưng cuộc đời hôm qua và hôm nay vẫn còn đó
những con người lòng chai dạ đá, chúng đội lốt đệ tử của Ngài làm những điều
xấu xa, đó là hành động phản bội của Anton Đặng Hữu Nam
DI CƯ BẤT HỢP PHÁP
Nước
ta chuẩn bị tiếp nhận các nạn nhân di cư bất hợp pháp sang Vương quốc Anh không
may mắn bị tử vong. Trước hết, chúng ta chia buồn sâu sắc tới toàn thể gia quyến
của những người di cư bị tử vong này; đúng là vì cơm, áo, gạo, tiền mà để những
người rất đáng thương, tuổi còn rất trẻ mà phải ra đi theo con đường đầy may rủi,
mà vấn vả này. Nước ta đang phát triển, đời sống nhân dân đã và đang được cải
thiện, ngày càng tốt hơn; mỗi người đều có quyền được sống, làm việc, mưu cầu hạnh
phúc riêng; làm giầu cho cá nhân và xã hội là nguyện vọng chính đáng của mỗi
người, song phải tuân thủ theo chính sách, pháp luật của mỗi nước. Nhiều người
di cư rất hợp pháp, được Nhà nước ủng hộ; nhưng những người di cư bất hợp pháp
cần phải được xã hội phê phán, bất kể bằng con đường nào… Sau khi sự việc sảy
ra, Chính phủ đã cùng với các cơ quan chức năng đã vào cuộc đồng bộ, toàn diện,
kịp thời, đấy là điều rất đáng mừng. Nhưng việc bóc gỡ các đường dây buôn người
bất hợp pháp là việc làm rất quan trọng, họ đã tồn tại nhiều năm, có thể những
rủi ro bây giờ mới được phát giác… chờ cơ quan chức năng giải quyết; đồng thời
mọi người chúng ta cũng nên nhận thức đúng về vấn đề này, làm giầu cần phải hợp
pháp, hết sức tránh làm giầu bất hợp pháp, hên sui, coi thường tính mạng của
con người; người không còn, của để làm gì… Vĩnh biệt họ !
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ
Những
ngày vừa qua, dư luận xã hội nói nhiều về “Đường lưỡi bò” mà Trung Quốc đã tự vẽ
ra để khẳng định chủ quyền trên Biển Đông, nhưng đã bị Tòa án Quốc tế năm 2016
bác bỏ vì không có cơ sở pháp lý và lịch sử. Nhưng “Đường lưỡi bò” vẫn bằng
cách này hay cách khác vẫn nhởn nhơ có mặt tại Việt Nam, từ bản đồ, hộ chiếu, tờ
rơi quảng bá du lịch, sách học tập Hán ngữ… đến phần mềm trên xe ô tô nhập khẩu
từ năm 2014 đến nay, như vậy Trung Quốc đã đưa “Đường lưỡi bò” vào Việt Nam là
có tính hệ thống, chủ ý rõ ràng; buồn một lỗi là có một số người Việt Nam không
rõ do vô tình hay cố ý, vì lòng tham của mình đã trực tiếp hay gián tiếp đã tiếp
tay cho Trung Quốc quảng bá “Đường lưỡi bò” tại Việt Nam. Đây là những hành vi
không yêu nước, không đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên lợi ích cá nhân,
không biết giữ thể diện của cá nhân và danh dự của quốc thể; cá biệt có Ông hiệu
phó của một trường đại học, không những thờ ơ, vô cảm, mà còn cố gắng bao biện
trước công chúng, rất thiếu trách nhiệm, để nhiều người phẫn lộ, phê phán…
ĐẠI ĐOÀN KẾT - CỘI NGUỒN SỨC MẠNH!
Lạc Long Quân - một thần thoại cổ xưa nhất
ca ngợi nòi giống cao quý của tổ tiên dân tộc Việt: Lạc Long Quân giống rồng
kết duyên cùng Âu Cơ giống tiên. Âu Cơ đẻ ra một
bọc trăm trứng nở ra một trăm người con. Ý nghĩa câu chuyện nhắc nhở cháu con
dù nơi miền biển, dù triền núi cao cũng đều là con Hồng cháu Lạc chung một
nguồn cội tổ tiên.
Hai chữ “đồng bào” (đồng nghĩa
là cùng, bào nghĩa là bọc) có xuất xứ từ thần thoại này. Để rồi Việt Nam hôm
nay tự hào là nước duy nhất trên thế giới có tín ngưỡng thờ vua Tổ:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba”
Nhiều truyện cổ các dân tộc
Việt Nam có mô típ giải thích nguồn gốc các dân tộc chung từ “quả bầu mẹ”. “Quả
bầu” chính là “hình thức phái sinh” của “cái bọc trăm trứng”. Bầu là thứ cây
gần gũi, quen thuộc vùng cư dân nông nghiệp, miền núi cũng sẵn, đồng bằng cũng
nhiều, dễ trồng, dễ chăm và rất tiện dụng, có thể ăn lá, ăn quả… Bầu leo trên
giàn, ngọn nọ ngọn kia quấn quýt, nâng đỡ nhau gợi liên tưởng về sự giao hòa,
đoàn kết, tương thân tương ái… Một hình tượng thật hay để nói về sự yêu thương,
keo sơn, gắn bó!
Từ góc nhìn văn hóa thì cây
tre là biểu tượng cho tâm hồn, tính cách Việt. Tre không bao giờ đơn lẻ mà luôn
mọc, sinh sống, lớn lên thành bụi, thành cụm. Phương ngữ Việt có câu “măng ấm
bụi” để chỉ hiện tượng bụi tre càng nhiều cây lớn che chở nhau thì càng có
nhiều măng mọc. Con người cũng vậy, bao bọc, nâng đỡ, dìu dắt nhau. Thế nên
Thánh Gióng nhổ tre đuổi giặc không chỉ là sự chứng minh tinh thần quật khởi
không chịu làm nô lệ của người dân Việt mà còn biểu hiện ý chí đoàn kết, tiếp
nối thế hệ này với thế hệ khác. Gậy sắt gãy, Gióng nhổ tre, tức là lại có tiếp
hàng triệu, hàng triệu cây gậy khác nhận sứ mệnh giữ gìn nước non. Quả vậy,
tiếp sau Gióng là bao thế hệ dùng gậy tre, gậy tầm vông… cùng nhau bảo vệ độc
lập, tự do.
Trong từ vựng tiếng Việt, chữ
“đồng” (cùng) làm thành hệ thống từ ghép đồng nghĩa phong phú bậc nhất (so với
từ vựng các nước khác): Đồng bào, đồng tâm, đồng chí, đồng ý, đồng tình, đồng
lòng, đồng hương, đồng cảm, đồng điệu, đồng hành, đồng đội, đồng hao, đồng môn,
đồng nghiệp, đồng khởi, đồng diễn, đồng ca…
Có biết bao nhiêu thành ngữ, tục
ngữ, ca dao nói về sự đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau: “Chị ngã em nâng”,
“Tay đứt ruột xót”, “Lá lành đùm lá rách”
“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
Trong ngày lễ 2-9-1945, Bác Hồ
dùng chữ “đồng bào” thật tinh tế, hướng cả dân tộc về nguồn cội tổ tiên đồng
lòng nhất trí dựng xây và bảo vệ nước Việt Nam độc lập. Trước đó, năm 1942,
Người viết "Lịch sử nước ta" kêu gọi dân ta đoàn kết:
“Dân ta xin nhớ chữ đồng
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”
Trong tác phẩm này, Người
chứng minh và khẳng định chân lý lịch sử: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người
như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì
bị nước ngoài xâm lấn. Đó cũng là chân lý thời đại.
Hội nghị Diên Hồng nhà Trần
khích lệ tướng sĩ đoàn kết như tình cha con quyết đuổi giặc Nguyên Mông hung
hãn giành lại non nước cha ông!
Thời Lê Lợi-Nguyễn Trãi “tướng
sĩ một lòng phụ tử”, ngọt ngào “nước sông chén rượu” mang về độc lập giang sơn!
Thời đánh Pháp, đuổi Mỹ, cả
dân tộc hướng về Bác Hồ, đoàn kết thành một khối vững như dải Trường Sơn làm
nên chiến thắng thống nhất đất nước!
Hôm nay, cả dân tộc hướng theo
cờ Đảng quang vinh viết bản hùng ca đổi mới, đưa nước nhà tiến bước sánh vai
cùng các cường quốc năm châu!
Lời Bác là lời lịch sử, là lời
chân lý:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công!”
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị quyết, chỉ
thì và các chính sách, chiến lược phát triển nhằm mục tiêu tăng trưởng bền vững,
có hiệu quả, đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường;
giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Đây chính là định hướng quan trọng để toàn
dân tộc Việt Nam đoàn kết một lòng phát huy sức mạnh tổng hợp của tất cả các
thành phần, lực lượng trong xã hội; đạt được những thành quả ấn tượng trong
phát triển bền vững để không ai bị bỏ lại phía sau./.
HA
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG ĐẤU TRANH VỚI CÁC QUAN ĐIỂM, ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ "XÃ HỘI DÂN SỰ"
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG ĐẤU
TRANH VỚI CÁC QUAN ĐIỂM, ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG
VẤN ĐỀ "XÃ HỘI DÂN SỰ"
Một là, cần nhận thức đầy
đủ về XHDS và có cách “ứng xử” phù hợp với vấn đề “XHDS”. Phải thẳng thắn bác
bỏ và phê phán, đấu tranh kiên quyết với các quan điểm khuyến khích, cổ vũ XHDS
với ý đồ thúc đẩy hình thành các tổ chức chính trị đối lập. Hiện
nay, nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến XHDS chưa được nghiên cứu
thấu đáo, hiệu lực và công cụ quản lý của Nhà nước, ý thức pháp luật của người
dân còn có những hạn chế. Do đó, nếu chúng ta buông lỏng, thả nổi cho sự hình
thành, phát triển “XHDS” sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy phức tạp, khó kiểm soát, nhất
là dưới góc độ quản lý nhà nước, cũng như bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và bảo
vệ an ninh quốc gia.
Hai là, kịp thời tham mưu
cho Đảng, Nhà nước có chủ trương, chính sách, biện pháp hạn chế đến mức thấp
nhất những hệ lụy, ảnh hưởng tiêu cực của XHDS mà các thế lực thù địch, cơ hội
chính trị lợi dụng chống phá cách mạng Việt Nam. Cần tổ chức nghiên cứu bài
bản, có hệ thống về XHDS, các yếu tố của XHDS, nhất là làm rõ khái niệm, bản
chất của XHDS; XHDS và các yếu tố cấu thành, biểu hiện cụ thể của
XHDS; các hình thức của XHDS gắn với điều kiện lịch sử - cụ thể,
nhất là chế độ chính trị, truyền thống văn hóa, trình độ phát
triển kinh tế - xã hội; cấu trúc của XHDS và quan hệ của XHDS với
nhà nước, thị trường, tôn giáo, mạng xã hội, gia đình; vai trò, ưu
thế và giới hạn, mặt tiêu cực của XHDS; yếu tố ngoại sinh và nội
sinh của XHDS; các hình thức lợi dụng XHDS của các thế lực thù địch và cơ
hội chính trị. Từ những kết quả nghiên cứu này sẽ giúp cho Đảng, Nhà nước
chủ động có chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm quản lý các tổ chức xã hội,
các NGO, vừa phát huy mặt tích cực, vừa định hướng hoạt động lành mạnh phù hợp
với thể chế chính trị, đặc điểm về kinh tế, văn hóa và xã hội của đất nước,
triệt tiêu các yếu tố có thể bị lợi dụng để hình thành lực lượng chính trị đối
lập, gây bất ổn chính trị - xã hội. Đồng thời, làm tốt công tác tư tưởng,
tuyên truyền nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân không bị các thế
lực thù địch kích động, lôi kéo thông qua danh nghĩa tổ chức XHDS.
Ba là, trong điều kiện có sự
tồn tại khách quan của một số loại tổ chức có tính chất “XHDS”, cần tham mưu
cho Đảng, Nhà nước xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm
phát huy đầy đủ vai trò của các tổ chức này, hạn chế những tác động tiêu cực
của nó và có các biện pháp quản lý phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước,
phù hợp với cơ chế vận hành của thể chế chính trị, giữ vững bản chất của chế
độ. Sự quản lý và định hướng có hiệu quả, bằng pháp luật của Nhà nước sẽ tạo
ra một môi trường dân chủ, lành mạnh cho sự phát triển hài hòa của toàn xã hội.
Mặt khác, cần củng cố, đổi mới, phát huy tính tích cực và chủ động của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội để làm tốt
chức năng đoàn kết, tập hợp, vận động các tầng lớp nhân dân thực
hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà
nước, giám sát và phản biện xã hội, bảo vệ quyền lợi của nhân dân
trước tác động bởi mặt trái của cơ chế thị trường và toàn cầu hóa.
Đồng thời, quán triệt
tinh thần Đại hội XII của Đảng: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với
quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội trong
từng chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”(1), định hướng
đổi mới tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội, hiệp hội, đoàn thể ở Việt
Nam phải gắn liền với việc xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng XHCN; gắn với đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện nền dân chủ XHCN.
Bốn là, các lực lượng nòng cốt
các cấp căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ cụ thể được giao, vận dụng các biện pháp
đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi
dụng vấn đề “XHDS” xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Trong
đó, vấn đề cấp bách hiện nay là tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với
các tổ chức hội và NGO Việt Nam, không để các thế lực thù địch, cơ hội chính
trị lợi dụng tác động, chuyển hóa thành tổ chức XHDS theo tiêu chí phương
Tây.
Đồng thời phối hợp chặt
chẽ với các lực lượng chức năng khác đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng
- lý luận, ngăn chặn hoạt động truyền bá tư tưởng, thổi phồng, tuyệt đối hóa
vai trò của XHDS theo mô hình, tiêu chí của phương Tây, cổ vũ thành lập các tổ
chức chính trị đối lập, các tổ chức phản động dưới danh nghĩa, vỏ bọc của tổ
chức “XHDS”; phối hợp tuyên truyền, vận động các nhân sĩ, trí thức, học giả
đang sinh hoạt tại các hội, liên hiệp hội, tổng hội nâng cao cảnh giác trước
luận điệu của các thế lực thù địch về cái gọi là “hình mẫu lý tưởng” của “XHDS”
phương Tây, cũng như tích cực tham gia đấu tranh tư tưởng - lý luận. Đồng
thời, vạch rõ những điểm không phù hợp (cả về lý luận và thực tiễn) của “XHDS”
theo hình mẫu phương Tây đối với xã hội Việt Nam; vạch rõ mưu đồ chính trị của
các thế lực thù địch, cơ hội chính trị thông qua việc lợi dụng vấn đề “XHDS” để
tác động, chuyển hóa chế độ chính trị tại Việt Nam. Bên cạnh đó, sử dụng các
biện pháp, phương tiện ngăn chặn, vô hiệu hóa các con đường, cách thức truyền
bá vấn đề “XHDS” theo hình mẫu phương Tây vào Việt Nam, đặc biệt là thông qua
các phương tiện truyền thông xã hội, hợp tác, trao đổi về văn hóa, khoa
học, giáo dục - đào tạo... Đấu tranh, ngăn chặn, xử lý kịp thời hoạt động của
các thế lực thù địch bên ngoài câu kết, hậu thuẫn cho số đối tượng chống đối
trong nước thành lập các tổ chức phản động dưới danh nghĩa, vỏ bọc XHDS./.
BẢN CHẤT VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA "XÃ HỘI DÂN SỰ" MÀ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ THƯỜNG LỢI DỤNG ĐỂ CHỐNG PHÁ
BẢN CHẤT VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA
"XÃ HỘI DÂN SỰ" MÀ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ THƯỜNG LỢI
DỤNG ĐỂ CHỐNG PHÁ
Khái niệm “xã hội
dân sự” gây nên nhiều tranh cãi tại Việt Nam, có người đặt nó đối
nghĩa với “xã hội chính trị”, có người lại xem nó đối lập với “xã
hội quân sự”. Nhiều người không thừa nhận khái niệm này vì nội hàm
và ngoại diên không tường minh, bởi khó có thể định nghĩa một “xã
hội” (dân sự) trong “xã hội” (tổng thể) mà nhân loại lâu nay đã phân
định thành các phân hệ - lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội, môi trường. Có người xem các hiệp hội, tổ chức xã hội chính,
quỹ, diễn đàn... là những biểu hiện cụ thể của “XHDS”, nhưng người
khác lại cho rằng đó chính là các thiết chế xã hội gắn với các
thể chế tương ứng, đâu phải là một “xã hội”. Một định nghĩa về XHDS
được chia sẻ rộng rãi: “XHDS là không gian xã hội công cộng nằm ngoài nhà nước,
thị trường và lĩnh vực riêng tư của cá nhân, bao gồm tổng thể các định chế xã
hội độc lập tương đối với nhà nước và hoạt động tự nguyện trên các lĩnh vực văn
hóa, giáo dục, truyền thông đại chúng, tôn giáo, xã hội...”.
Điều đó cho thấy,
không có định nghĩa thống nhất về “XHDS” mà nó thường bị giải thích
một cách chủ quan bởi ý chí của người muốn sử dụng khái niệm này.
Các thế lực thù địch và cơ hội chính trị lợi dụng tính không rõ
ràng, thiếu tính lịch sử - cụ thể của khái niệm này để giải thích
nội hàm “XHDS” theo tiêu chí của các nước phương Tây. Trong các nền dân
chủ đa đảng, ranh giới giữa một tổ chức của XHDS và đảng chính trị
rất mong manh. Một tổ chức xã hội khi đủ điều kiện và đăng ký tham
gia tranh cử vào nghị viện, nếu giành được một tỷ lệ phiếu nhất
định trong các cuộc bầu cử (theo quy định của các nước rất khác
nhau), thì được xếp vào đảng chính trị và nhận được hỗ trợ tài
chính từ phía nhà nước để hoạt động. Thậm chí nếu giành được số
phiếu cao có thể trở thành đảng chính trị có vị thế trong đời sống
chính trị đất nước. Còn các tổ chức xã hội không hội đủ số phiếu
cần thiết, cùng với các hiệp hội, quỹ, diễn đàn, viện nghiên cứu
độc lập... được xem là thành tố cấu thành của “XHDS”. Ngay bản thân
tài chính của các tổ chức xã hội, viện nghiên cứu độc lập, quỹ,
diễn đàn này, một mặt, dựa vào khả năng tự huy động; mặt khác,
nhận đấu thầu các gói dịch vụ có nguồn gốc tài chính ngân sách để
thực hiện các mục tiêu của chính phủ. Những tổ chức của “XHDS” có
vị thế lớn đều có lực lượng chính trị này hay lực lượng chính trị
khác đứng sau chi phối, gây ảnh hưởng, thông qua cung cấp tài chính và
định hướng mục tiêu hoạt động.
Trong các nước
chuyển đổi chế độ chính trị ở Đông Âu, không gian hậu Xô-viết, Bắc Phi
- Trung Đông, cũng như ở nhiều nơi khác, đã từng diễn ra các trường
hợp một tổ chức của “XHDS” bằng các chiêu trò dân túy và sự hà hơi,
tiếp sức từ bên ngoài, chỉ trong một thời gian ngắn chuyển hóa thành
đảng chính trị thực hiện “cách mạng nhung”, “cách mạng màu” rồi trở
thành đảng cầm quyền. Các NGO nước ngoài nhân danh “XHDS” hoạt động
trên lãnh thổ nước khác hoạt động rất ráo riết để cổ vũ cho thúc
đẩy các hoạt động “cách mạng đường phố”, mà đứng sau đều chịu sự
chi phối bởi các chính phủ đã cung cấp tài chính. Vì vậy, Tổng
thống Nga V. Pu-tin rất mạnh tay với các tổ chức NGO nước ngoài hoạt
động trên lãnh thổ nước Nga; nhiều nước khác cũng rất cảnh giác,
thận trọng, tìm cách quản lý, kiểm soát các tổ chức này nếu không
muốn gây nên nguy cơ bất ổn xã hội.
Do các tổ chức xã
hội có vai trò tích cực nhất định, nên các đối tượng thù địch, phản động, cơ
hội chính trị đã ra sức lợi dụng, tuyệt đối hóa đặc điểm này để tranh thủ
quần chúng, tập hợp lực lượng một cách công khai nằm ngoài sự quản
lý của Nhà nước. Họ lợi dụng các kẽ hở về mặt pháp luật, các vấn đề tiêu cực
trong xã hội, vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... để tuyên truyền,
xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước, khi thời cơ chín muồi sẽ hình thành tổ chức chính trị đối lập
tại Việt Nam. Có thể nhận dạng mấy điểm sau đây của XHDS:
Thứ nhất, dù những người cổ
vũ cho XHDS tự cho rằng XHDS có tính “độc lập” với Nhà nước và không mang bản
chất giai cấp, nhưng thực tế cho thấy, XHDS (bao gồm các tổ chức hội, hiệp hội,
đoàn thể, tổ chức phi chính phủ, quỹ, diễn đàn...) đều mang tính chính trị,
luôn tiềm ẩn nguy cơ bị các thế lực thù địch lợi dụng để tiến hành các hoạt
động chống Đảng và Nhà nước. “Xã hội dân sự” chính là môi trường mà trong chính
bản thân các thành tố cấu thành cũng diễn ra cuộc đấu tranh giữa các nhóm
lợi ích trên mọi phương diện, từ chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa... Do
đó, các lực lượng, phe phái, đảng phái chính trị luôn tìm cách chi phối, vận
động, lôi kéo lực lượng XHDS hoặc chính các thành tố của XHDS (hội, hiệp hội,
đoàn thể, quỹ, diễn đàn...) để đạt được mục tiêu, lợi ích của mình đều bị
chi phối bởi các thế lực chính trị hoặc bị chính trị hóa ở các mức độ, hình
thức khác nhau. Thực tế cho thấy, thời gian qua, các thế lực thù địch đã và
đang triệt để lợi dụng, thúc đẩy hình thành XHDS đối lập với Đảng, hoạt động
ngoài sự quản lý của Nhà nước, tạo tiền đề cho can thiệp, lật đổ dưới danh
nghĩa “chuyển hóa dân chủ”, đưa các lực lượng chống đối lên nắm chính
quyền.
Thứ hai, vốn mang tính đa dạng
về lợi ích, thành phần, do đó XHDS cũng mang tính đa dạng, đa nguyên về tư
tưởng. Đặc trưng này phản ánh tính phức tạp về tư tưởng, văn hóa trong đời sống
XHDS. Đối với Việt Nam, sự hình thành của XHDS còn chứa đựng nguy cơ xuất hiện,
hình thành hoặc du nhập những khuynh hướng tư tưởng chính trị đối lập với Đảng
Cộng sản, tiền đề trực tiếp dẫn đến đa nguyên về chính trị.
Thứ ba, Việt Nam là một
quốc gia đang phát triển, ý thức công dân, ý thức pháp luật của một bộ phận
không nhỏ người dân còn hạn chế; hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, quản lý
của chính quyền còn nhiều lỗ hổng; lại có những đặc điểm phức tạp, đa dạng
về tôn giáo, dân tộc, di tồn lịch sử của chế độ thực dân... Do đó, sự hình
thành và phát triển các yếu tố của XHDS luôn tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng dẫn
đến chia rẽ, xung đột, hỗn loạn, vô chính phủ, mất ổn định chính trị, xã hội của
đất nước.
Thứ tư, XHDS bao hàm nhiều tổ
chức xã hội có tính đa dạng về thành phần, mục đích hoạt động, lợi ích, thiếu
tính tổ chức chặt chẽ, do đó nó dễ bị các cá nhân, tổ chức có điều kiện chi
phối, lợi dụng để thực hiện các mục đích riêng và tiềm ẩn nguy cơ gây ảnh
hưởng đến an ninh quốc gia và trật tự, ổn định xã hội. Tính chất đa dạng,
phức tạp của XHDS cho thấy đây là khu vực không thuần nhất, tính đồng thuận
không cao và thiếu tính nhất quán. Tổ chức XHDS hình thành chủ yếu dựa trên
những mối quan hệ và liên kết mềm, tự nguyện, tự quản, tính thống nhất không
cao nên dễ xảy ra nguy cơ các tổ chức này chỉ chạy theo lợi ích cục bộ mà không
quan tâm đến lợi ích chung, toàn xã hội, tạo ra các “lệ” riêng, có thể gây cản
trở đến việc thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, thậm chí có trường
hợp bị biến tướng phục vụ cho lợi ích của cá nhân, tổ chức có điều kiện chi
phối. Thực tế cho thấy, tuyệt đối hóa vai trò các tổ chức của XHDS, xem nhẹ
quản lý của Nhà nước, chỉ dẫn đến tình trạng vô chính phủ, tiền đề cho rối
loạn, bất ổn. Do tính chất đa dạng và phức tạp này mà XHDS luôn tiềm ẩn nguy
cơ bị các đối tượng, tổ chức thù địch cả trong và ngoài nước mua chuộc, chi
phối, lợi dụng nhằm thực hiện mưu đồ chính trị đen tối.
Thứ năm, một số tổ chức xã hội
có vai trò, ảnh hưởng xã hội nhất định, số lượng thành viên đông đảo luôn trở
thành mục tiêu tác động, chi phối, lợi dụng của các thế lực thù địch nhằm biến
các tổ chức này thành các tổ chức chính trị đối lập với Đảng, thoát ly khỏi
sự quản lý của Nhà nước Việt Nam. Một bộ phận các tổ chức xã hội, đặc biệt
là các hội, liên hiệp hội, tổng hội có tổ chức mang tính hệ thống cả theo chiều
dọc lẫn chiều ngang, với số lượng thành viên đông, có ảnh hưởng nhất định đối
với quần chúng. Các tổ chức này trở thành mục tiêu lợi dụng của các thế lực
thù địch để tìm cách tác động đến các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước thông qua các hoạt động “vận động hành lang”, hội
thảo, kiến nghị, nhất là những vấn đề hệ trọng, nhạy cảm, như chế
độ sở hữu đất đai, an ninh mạng, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc... Do
đó, nếu không có những quy định pháp lý đủ mạnh, thiếu hiệu lực quản lý
của các cơ quan chức năng để các hoạt động “vượt rào” thì các tổ chức này rất
dễ bị lợi dụng, biến thái và biến tướng thành các lực lượng hỗ trợ tích
cực cho thúc đẩy “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch,
thậm chí chuyển hóa thành tổ chức đối lập về chính trị.
VÌ SAO CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ GIA TĂNG HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG VẤN ĐỀ "XÃ HỘI DÂN SỰ" ĐỂ CHỐNG PHÁ?
VÌ SAO CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, CƠ
HỘI CHÍNH TRỊ GIA TĂNG HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG VẤN ĐỀ "XÃ HỘI DÂN SỰ" ĐỂ
CHỐNG PHÁ?
Một số học giả trên thế
giới có quan điểm chống cộng rất đề cao vai trò của “XHDS” trong các cuộc “cách
mạng sắc màu” lật đổ chế độ XHCN. Giữa những năm 80 của thế kỷ XX, ngay sau khi
khởi xướng cải tổ với việc M. Goóc-ba-chốp chủ trương “công khai hóa” và
“dân chủ hóa”, các tổ chức đoàn thể phi chính thức và các ấn phẩm tuyên
truyền cho tự do hóa tư sản dưới nhiều hình thức đã mọc lên “như nấm sau mưa”
ở Liên Xô. Ngày 28-12-1987, xã luận đăng trên báo Sự thật cho biết, Liên Xô khi
đó đã có hơn 30.000 tổ chức, đoàn thể phi chính thức. Do thái độ ủng hộ của M.
Goóc-ba-chốp, ngày càng có nhiều tổ chức đoàn thể xã hội chống đối Đảng,
chính quyền Xô-viết được công khai hóa, hợp pháp hóa. M. Goóc-ba-chốp không
những cho phép các đoàn thể phi chính thức tồn tại mà còn cổ vũ thành
lập các đảng phái, từng bước thực hiện chế độ đa đảng. Các đảng đối lập ra
đời và sau đó đã giành được chính quyền tại một loạt địa phương dưới cái
gọi là “bầu cử tự do” là hệ quả trực tiếp của chính sách nêu trên.
Những tổ chức này trắng trợn xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ, hạ bệ các
nhà lãnh đạo Liên Xô trước đây, phủ nhận thành tựu của chủ nghĩa xã
hội, ngang nhiên hô hào chống chế độ và Nhà nước Xô-viết. Đây là một trong những
nhân tố trực tiếp dẫn đến sự tan rã của Liên Xô.
Tại Ðông Âu ngay từ
những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, ở một số nước đã hình
thành các công đoàn, hội có xu hướng tách khỏi quản lý của nhà
nước, đối lập với chính quyền, hoạt động với danh nghĩa là “tổ chức XHDS”
nhân danh bảo vệ công nhân, bảo vệ các quyền dân sự. Thông qua việc lôi
kéo quần chúng, với sự hỗ trợ từ nước ngoài, một số tổ chức Công giáo, được
kích hoạt thêm bởi các chính sách “công khai hóa”, “dân chủ hóa” và
chính sách đối ngoại với đồng minh của M. Goóc-ba-chốp, những tổ
chức này nhanh chóng chuyển hóa thành tổ chức chính trị đối lập,
đóng vai trò trọng yếu trong việc hạ bệ uy tín của nhà nước, thúc đẩy hình
thành chế độ đa đảng và giành chính quyền thông qua cái gọi là “bầu cử dân
chủ”. Các cuộc “cách mạng đường phố” tại các nước khu vực Trung Ðông - Bắc Phi
hay “cách mạng nhung”, “cách mạng màu” ở một số nước thuộc không gian
hậu Xô-viết thời gian qua cũng cho thấy vai trò của các cơ quan đặc biệt nước
ngoài, các NGO trong việc hỗ trợ các tổ chức XHDS trong nước lôi kéo, kích động
quần chúng lật đổ các chính thể hợp pháp, gây nên tình trạng khủng hoảng
chính trị, thậm chí có nước còn lâm vào cảnh chia rẽ, xung đột
triền miên, lãnh thổ bị chia cắt lâu dài.
Chúng ta không phủ nhận
vai trò nhất định của các tổ chức xã hội, hiệp hội, quỹ, diễn đàn,...
nhất là khả năng tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội tại cộng
đồng hay nhóm xã hội cụ thể; tập hợp nguyện vọng đa dạng của các
tầng lớp trong xã hội phản ánh đến Đảng và Nhà nước; trực tiếp
đứng ra cung ứng một số dịch vụ xã hội do Nhà nước ủy quyền, hoạt
động trong khuôn khổ quy định pháp luật. Trên thực tế, trong quá trình
xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà
nước ta rất coi trọng thiết lập các tổ chức xã hội đa dạng theo
ngành nghề, lợi ích, nhu cầu, nhân đạo, hữu nghị, sở thích... và
không ngừng hoàn thiện quy định pháp luật để phát huy vai trò của
các tổ chức này thật sự có ích cho xã hội, cho người dân. Các tổ
chức NGO nước ngoài hoạt động tại nước ta thật sự có đóng góp cho
cộng đồng, phát triển xã hội, tôn trọng pháp luật Việt Nam đều được
tôn trọng, khuyến khích.
Nhưng cần thấy rõ rằng,
ở nhiều quốc gia, nhất là những nước đang phát triển, sự hình thành các tổ
chức của “XHDS” thường chịu sự tác động của nhiều nhân tố, trong đó có các
lực lượng chính trị từ bên ngoài thông qua nhiều hình thức và con đường khác
nhau. Vậy chúng ta cần nhận thức về “XHDS” như thế nào?
Cùng với thực tế tồn
tại và phát triển ngày càng phong phú của các tổ chức hội quần chúng, thuật ngữ
“XHDS”, “tổ chức XHDS” được thảo luận, bàn luận khá sôi nổi ở nước ta. Tuy
nhiên, đây là vấn đề chính trị, xã hội rất phức tạp, còn nhiều nhận thức
khác biệt, thậm chí đối lập nhau, tùy thuộc vào góc độ tiếp cận. Hiện nay,
đang tồn tại hai khuynh hướng nhận thức phổ biến về vấn đề XHDS: Một là, tuyệt
đối hóa, đề cao quá mức vai trò của “XHDS”, cho rằng cần đẩy nhanh sự phát
triển của “XHDS” ở Việt Nam, đồng nhất quá trình này với thực hiện dân chủ hóa,
xem đây là “liều thuốc vạn năng” cho khắc phục những giới hạn của quản
lý nhà nước và giải quyết tiêu cực trong đời sống xã hội phát sinh từ
cơ chế thị trường; hai là, coi “XHDS” mang tính tiêu cực, “đối lập” với Nhà
nước XHCN, là vấn đề nhạy cảm, nên né tránh, ngại đề cập và không khuyến khích
nghiên cứu, tìm hiểu, thậm chí dựa vào các tổ chức xã hội hoạt động
theo kiểu “bất tuân dân sự”, gây nên tình trạng vô chính phủ, bất ổn
chính trị - xã hội ở nhiều nước trên thế giới rồi bài xích, phủ nhận
sạch trơn vai trò các hội, quỹ, diễn đàn trong tham gia quản lý phát
triển xã hội. Việc chưa thống nhất nhận thức khiến cho cách tiếp cận, ứng
xử đối với vấn đề XHDS hiện nay của các cơ quan chức năng đang khá lúng
túng.
ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ LỢI DỤNG VẤN ĐỀ "XÃ HỘI DÂN SỰ" ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA
Hiện nay, vấn đề “xã
hội dân sự” (XHDS) đã và đang được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm
thực hiện mưu đồ chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Sau thất bại trong
hoạt động chống phá Việt Nam ở các giai đoạn trước, hiện nay, các thế lực thù
địch xem việc củng cố, thúc đẩy “XHDS” theo mô hình phương Tây là một hướng đi
mới, là một trong những phương thức tác động cơ bản của chiến lược “diễn biến
hòa bình” với mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính
trị tại Việt Nam. Mục tiêu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “XHDS” là
tìm cách thúc đẩy sự xuất hiện các lực lượng, tổ chức chính trị đối lập, làm
suy yếu sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch cho rằng, hình thành “XHDS độc lập
về chính trị” là một “lối thoát” cho sự ra đời công khai, hợp pháp của các tổ
chức, lực lượng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, buộc Việt Nam
phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Chúng ra sức cổ vũ cho
hình thành ở Việt Nam một mô hình “XHDS độc lập về chính trị” kiểu phương Tây,
nằm ngoài sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thoát ly khỏi sự quản lý
của Nhà nước.
Hòng thực hiện âm
mưu đó, các thế lực thù địch đã và đang triệt để lợi dụng tính chất chính trị,
xã hội phức tạp của “XHDS” để tác động vào hệ thống chính trị và các tầng lớp
nhân dân bằng nhiều phương thức khác nhau, từ tuyên truyền lừa bịp, thổi phồng,
cường điệu hóa vai trò của XHDS, cung cấp tài chính, phương tiện hoạt động
đến gây sức ép với Đảng, Nhà nước ta trong quan hệ đối ngoại. Các đối tượng
chống đối nhân danh chiêu bài “XHDS”, “dân chủ”, “nhân quyền”... để tập hợp
lực lượng, lập hội, nhóm với tên gọi, khẩu hiệu, tôn chỉ, mục đích dễ gây “ấn
tượng” với thị hiếu của từng nhóm xã hội nhất định, như “Diễn đàn xã hội dân
sự”, “Hội tù nhân lương tâm”, “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Hội bầu bí tương thân”,
“Hội nhà báo độc lập”, “Hội anh em dân chủ”,...
Thủ đoạn mà các đối
tượng chống đối sử dụng phổ biến hiện nay là thông qua các trang web, diễn đàn
trực tuyến, nhất là mạng xã hội để công khai tổ chức, tuyên truyền, lừa bịp,
lôi kéo quần chúng tham gia; sử dụng các phần mềm bảo mật để liên lạc, tổ chức
huấn luyện, đào tạo trực tuyến cho thành viên; công khai viết “đơn kiến nghị”
đòi thành lập đảng chính trị đối lập, tự do thành lập hội mà không tuân theo
quy định pháp luật, đòi khởi kiện, vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm các
điều ước quốc tế về quyền dân sự... Ngoài ra, các đối tượng này còn tìm
cách chia rẽ nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, lợi dụng các
khuyết điểm trong quản lý đất đai, môi trường... để kích động khiếu
kiện, tụ tập đông người, biểu tình, xuyên tạc tình hình, hạ uy tín
cán bộ; thông qua các hoạt động này để tập hợp lực lượng, gây thanh
thế, từng bước nhen nhóm và thành lập tổ chức chính trị đối lập... Tại các
địa bàn chiến lược, các đối tượng chống đối đẩy mạnh xuyên tạc chính sách dân
tộc, tôn giáo; kích động tư tưởng ly khai, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, khơi
gợi, khoét sâu mâu thuẫn dân tộc, tuyên truyền phát triển các tổ chức tôn giáo
phi pháp, tụ tập “xưng vua”...
Bên cạnh đó, dưới danh
nghĩa đại diện các tổ chức “XHDS”, một số đối tượng chống đối đã tham gia các
buổi điều trần ở nước ngoài, vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”,
đề nghị can thiệp trả tự do cho các đối tượng chống đối trong nước bị bắt do vi
phạm pháp luật... Đặc biệt, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị triệt để lợi
dụng tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đang diễn ra
trong một bộ phận đảng viên, tình trạng yếu kém, sai phạm của một số cán bộ để
thổi phồng, cường điệu hóa khuyết điểm, “hạ bệ” uy tín chính trị của
Đảng, lôi kéo người dân tham gia các tổ chức mang danh nghĩa “XHDS” để tiến
hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Thực tế những năm qua cho thấy,
một số tổ chức phi chính phủ (NGO) nước ngoài rất quan tâm đến các tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội ở
nước ta và tìm cách xâm nhập, tác động, hướng lái hoạt động, chuyển hóa
dần các tổ chức này khi chưa đủ điều kiện, thời cơ thành lập tổ chức đối lập.
Thông qua các hoạt động, như triển khai dự án, tài trợ tài chính, tổ chức hội
thảo với các NGO Việt Nam, một số tổ chức nước ngoài đã đi sâu xâm nhập, tìm
hiểu nội bộ, xu hướng quan điểm của các NGO Việt Nam, kích động các tổ chức
này thoát ly vai trò lãnh đạo của Ðảng và sự quản lý của Nhà nước, cổ vũ quyền
“tự do lập hội” theo tiêu chí phương Tây. Ngoài ra, một số tổ chức nước ngoài
còn hỗ trợ tài chính cho một số NGO Việt Nam để xuất bản, phát hành tài liệu
nghiên cứu, văn bản luật nước ngoài nhằm tuyên truyền quan điểm, pháp luật
phương Tây đến với công chúng Việt Nam một cách công khai.
Các tổ chức phản động
nước ngoài cũng tìm cách thúc đẩy hình thành “XHDS” tại Việt Nam với mục
đích chống phá từ bên trong. Tổ chức “Bảo vệ người lao động” (tại Ba Lan) gia
tăng hoạt động với ý đồ chuyển hướng xâm nhập vào trong nước, thúc đẩy
hình thành các tổ chức “công đoàn tự do”. Tổ chức “Mạng lưới tuổi trẻ Việt
Nam lên đường” đã tiến hành “Đại hội thanh niên sinh viên Việt Nam trên thế
giới lần thứ V” vào tháng 1-2008 tại Ma-lai-xi-a. Tại “đại hội” này, các đối
tượng tham gia cho rằng để tiến hành “cuộc cách mạng hòa bình” tại Việt Nam
thì phải xây dựng được một “XHDS bền vững” và muốn thay đổi xã hội thì không
chỉ trên phương diện chính trị, mà còn trên các phương diện kinh tế, luật pháp,
trong mỗi cộng đồng dân cư. Qua đây cho thấy, các thế lực thù địch bên ngoài
đặc biệt quan tâm đến việc lợi dụng “XHDS” để thực hiện âm mưu lật đổ Nhà
nước xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Ðáng chú ý là, một số đối tượng cơ hội
chính trị có quan điểm cực đoan đã lợi dụng một số tổ chức quần chúng hợp pháp
để tổ chức các hội thảo, tọa đàm, diễn đàn có nội dung đòi “trưng cầu ý dân” về
Ðiều 4 của Hiến pháp cũng như sửa đổi toàn bộ Hiến pháp, thúc đẩy hình
thành “XHDS” và thực hiện các quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận, báo chí,
lập hội theo tiêu chí phương Tây, tư hữu hóa đất đai... Ðây là phương thức
chống đối công khai rất nguy hiểm, nếu thiếu cảnh giác có thể tạo môi trường
để các thế lực thù địch lợi dụng các tổ chức “XHDS” đưa ra những kiến nghị thay
đổi thể chế, chuyển đổi hệ thống luật pháp XHCN bằng luật pháp tư sản.
Thứ Hai, 18 tháng 11, 2019
Ngăn chặn chiêu trò lợi dụng góp ý xây dựng dự thảo các văn kiện đại hội đảng để chống phá
Trong lãnh đạo, chỉ đạo chuẩn bị đại hội đảng các cấp, nhất là Đại hội
XIII của Đảng, một trong những nội dung quan trọng được Bộ Chính trị,
Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương nhấn mạnh đó là, phải chủ động
phòng ngừa, cảnh giác, ngăn chặn, đấu tranh, không để tác động, chi phối
bởi những thông tin không chính thức, thông tin giả, xấu độc, bịa đặt,
xuyên tạc trên internet, mạng xã hội… Đặc biệt trong việc tổ chức cho
cán bộ, đảng viên và nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo các văn
kiện đại hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhiều lần yêu
cầu cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể cần nêu cao tinh thần cảnh giác, ý
thức tự “đề kháng”, năng lực phản bác của nhân dân trong cuộc đấu tranh
làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn, luận điệu sai trái nhằm phá hoại
đại hội đảng của các thế lực thù địch...
Sở dĩ người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta nhấn mạnh vấn đề này
bởi trên thực tế có một số phần tử cơ hội chính trị, được các thế lực
thù địch, phản động hà hơi, tiếp sức, lợi dụng công việc hệ trọng này để
chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chúng cho rằng thời điểm diễn
ra đại hội đảng các cấp, nhất là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII là
thời cơ cần lợi dụng tối đa để chống phá. Thông qua mạng xã hội, các
trang web của bọn phản động lưu vong, một số báo mạng xưa nay vốn thiếu
thiện chí với Việt Nam ở hải ngoại, chúng ra sức tuyên truyền xuyên tạc,
tác động nhằm "nắn dòng dư luận" tiến tới mục tiêu làm chệch hướng
đường lối, chủ trương của Đảng ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.
Những quan điểm sai trái, những luận điệu xuyên tạc, phản động ấy không
chỉ là “lời nói gió bay” mà còn được họ soạn thảo thành những tài liệu
mạo danh, nặc danh dài hàng trăm trang chứa đựng thông tin xấu độc...
rồi tán phát trên một số trang mạng. Bằng những thủ đoạn rất tinh vi,
các thế lực thù địch, phản động còn móc nối, lôi kéo và dùng chính những
phần tử thoái hóa, biến chất ngay trong nội bộ ta lợi dụng việc đóng
góp vào dự thảo các văn kiện đại hội đảng để xuyên tạc sự thật, công
kích, chống phá ta, dưới nhiều hình thức như: “Thư ngỏ”, “thư trao đổi”;
“thư góp ý”… Nội dung mà chúng tập trung là xuyên tạc tình hình đất
nước; làm lu mờ những thành quả cách mạng, thổi phồng những tồn tại, hạn
chế trong phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh... của
đất nước, rồi quy kết đổ lỗi nguyên nhân của những hạn chế ấy là do thể
chế chính trị, sự yếu kém trong thực hiện vai trò lãnh đạo, từ đó làm
giảm sút niềm tin của nhân dân vào Đảng ta; xuyên tạc, bịa đặt những
thông tin liên quan đến công tác nhân sự đại hội;... Chúng cho rằng đại
hội lần này là thời cơ để Việt Nam đổi mới thực hiện đa nguyên chính
trị, đa đảng đối lập. Chúng lập luận rằng nếu Việt Nam vẫn chỉ có độc
nhất một đảng lãnh đạo thì không thể nói tới một nền dân chủ chân
chính... Nhìn vào những bản góp ý được chuẩn bị công phu, lập luận không
kém phần logic với những câu từ được trau chuốt bóng bẩy ấy, nếu ai đó
non kém về nhận thức chính trị, sẽ rất dễ lầm tưởng và cho đấy là sự góp
ý trách nhiệm, tâm huyết. Nhưng thực chất đó là những luận điệu hết sức
sai trái và cực kỳ nguy hiểm.
Mục tiêu của những giọng điệu ấy vẫn không gì khác là hòng đánh lừa dư
luận, lôi kéo những người thiếu bản lĩnh, nhẹ dạ, cả tin theo ý đồ chính
trị của chúng, sâu xa hơn là phủ nhận tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ XHCN mà nhân dân ta đang dày
công xây dựng. Cách thức thể hiện những nội dung ấy cũng không có gì
mới, có chăng chỉ là sự thay đổi cách diễn đạt bằng những “xảo ngữ”,
ngôn từ hoa mỹ, bóng bẩy nhằm tăng thêm độ tinh vi, thâm hiểm trong mưu
đồ chống phá để dễ bề đánh lừa dư luận... Nhưng mọi âm mưu, thủ đoạn
thâm độc ấy đã và đang bị vô hiệu hóa, bởi cùng với phát huy dân chủ,
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn kiên định những vấn đề có tính nguyên
tắc, luôn tỉnh táo, đề cao cảnh giác, không mơ hồ, ảo tưởng trước mọi
chiêu trò chống phá.
Cần khẳng định rằng mở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ, tâm huyết, sự
sáng tạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, các tầng lớp nhân dân
góp ý xây dựng dự thảo các văn kiện của Đảng, là chủ trương đúng đắn và
là việc làm cụ thể khẳng định bản chất của chế độ ta. Phát huy dân chủ,
huy động sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân cũng là bài học kinh
nghiệm quý báu rút ra từ thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng
ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Có dân chủ mới làm cho cán
bộ và quần chúng đề ra sáng kiến"; "thực hành dân chủ là cái chìa khóa
vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn". Phát huy dân chủ vừa là mục
tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Với tinh thần ấy, Đảng ta xác định tổ chức lấy ý kiến xây dựng dự
thảo văn kiện đại hội đảng các cấp, đặc biệt là Đại hội XIII của Đảng là
đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân
ta; là công việc rất hệ trọng, mang tính quyết định đến tương lai phát
triển của đất nước.
Bởi vậy, trong Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị về
đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII,
yêu cầu rõ: “Công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến
tới Đại hội XIII của Đảng phải thực hiện phương châm kế thừa, ổn định,
đổi mới, sáng tạo và phát triển; phát huy dân chủ đi đối với giữ vững
nguyên tắc, siết chặt kỷ luật, kỷ cương...”. Tại các kỳ họp của Bộ Chính
trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương và nhiều cuộc làm việc với
lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn
Phú Trọng luôn nhấn mạnh: "Việc lấy ý kiến đóng góp tại đại hội đảng bộ
các cấp và của các tầng lớp nhân dân là hết sức quan trọng, thể hiện ý
Đảng, lòng dân, có giá trị thực tiễn phong phú, sinh động để Trung ương
nghiên cứu, tiếp thu, hoàn thiện dự thảo các văn kiện...". Vì vậy, việc
lấy ý kiến của các cấp ủy, tổ chức đảng và nhân dân phải vừa sâu, vừa
rộng; các ý kiến phải đóng góp thiết thực, nâng cao chất lượng các dự
thảo văn kiện, thể hiện rõ sự tâm huyết, trách nhiệm với Đảng, với đất
nước. Tổ chức tốt việc xin ý kiến nhân dân vào các dự thảo văn kiện của
Đảng cũng là biện pháp thiết thực nhằm ngăn chặn những âm mưu, thủ đoạn
lợi dụng công việc ý nghĩa này để chống phá.
Thực tế đòi hỏi các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan chức năng cần
phải quan tâm tạo điều kiện thuận lợi nhất để cán bộ, đảng viên và các
tầng lớp nhân dân nghiên cứu; thể hiện quan điểm, thái độ, chính kiến
của mình đối với từng nội dung trong dự thảo các văn kiện. Mặt khác, tổ
chức đảng, từng cơ quan, đơn vị, địa phương cần đẩy mạnh công tác tuyên
truyền cung cấp cho người dân đầy đủ thông tin cần thiết, định hướng để
người dân hiểu đúng mục đích, ý nghĩa của công việc hệ trọng này. Cần
coi việc giúp cán bộ, đảng viên và người dân hiểu đúng, nhận thức đầy đủ
về dự thảo các văn kiện là phương cách tốt nhất để nâng cao tinh thần
cảnh giác, chủ động phát hiện, đấu tranh kịp thời với mọi tư tưởng, quan
điểm sai trái.
Đối với mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân, khi tiếp cận với những
thông tin, tài liệu tán phát trên mạng cần phải tỉnh táo nhận diện đâu
là thông tin tốt, đâu là thông tin xấu, đâu là thông tin có cơ sở, đâu
là thông tin xuyên tạc, bịa đặt; tránh bị cuốn theo những giọng điệu mỹ
miều, xảo trá của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội mà dẫn
tới tư tưởng hoài nghi, hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin với Đảng
và chế độ.
Cùng với tổ chức chặt chẽ việc đóng góp ý kiến, cần tổ chức tốt việc
tổng hợp, tiếp thu ý kiến của đại hội đảng bộ các cấp để hoàn thiện,
nâng cao chất lượng các dự thảo văn kiện, trình Trung ương xem xét thông
qua, sau đó xin ý kiến nhân dân trước khi trình Đại hội XIII của Đảng.
Trong tổng hợp và ghi nhận những ý kiến đóng góp của các cấp ủy, tổ chức
đảng, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, các cơ quan chức năng cần có
sự nhìn nhận, đánh giá, phân tích kỹ lưỡng, thận trọng, tuyệt đối không
để kẻ xấu lợi dụng công việc ý nghĩa này để thực hiện những mục đích cá
nhân, kích động chia rẽ nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân;
chống phá Đảng, nhà nước và nhân dân ta.
Bằng các biện pháp nghiệp vụ, nhất là những biện pháp kỹ thuật công
nghệ, các lực lượng chức năng cần chủ động phát hiện những nội dung xấu
độc trên mạng xã hội, những trang mạng tán phát thông tin, tài liệu xấu
độc, mạo danh, nặc danh, lợi dụng việc góp ý xây dựng dự thảo các văn
kiện đại hội đảng để xuyên tạc, công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và
nhân dân ta, từ đó tổ chức đấu tranh ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm
minh đối với những tổ chức, cá nhân liên quan theo pháp luật.
Kiên quyết đấu
tranh phản bác và phê phán luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch để bảo
vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Luận điệu đòi tách rời chủ nghĩa Mác –
Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh chính là một thủ đoạn rất tinh vi, thâm độc của
các thế lực thù địch nhằm xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch tung ra luận điệu: Chủ nghĩa Mác – Lê-nin là
chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, thiên về đấu tranh giai cấp, đối lập với tư
tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng đề cao đoàn kết và thống nhất; Hồ Chí Minh là
người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh
đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh.
Luận điệu trên của các thế lực
thù địch chính là muốn hướng lái dư luận hoài nghi về bản chất khoa học và cách
mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gây hoang mang, dao
động, chia rẽ sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức trong Đảng, làm
giảm sút niềm tin trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh
đạo của Đảng. Thực chất là chúng muốn phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của
Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng, muốn Việt Nam thay đổi chế độ chính trị,
thực hiện đa nguyên, đa đảng, từ bỏ mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội.
Cần khẳng định rõ, luận điệu
đòi tách rời chủ nghĩa Mác – Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh của chúng thể hiện
rõ quan điểm thù địch, đi ngược lại lập trường, quan điểm, lợi ích của giai cấp
công nhân và của cách mạng, dân tộc Việt Nam. Mưu đồ thâm hiểm mà chúng nhằm
tới là xuyên tạc, phủ nhận và hạ bệ cả chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ
Chí Minh.
Về bản chất, lịch sử và lôgic,
tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, chứ không hề có sự
khác biệt, đối trọng nhau như các thế lực thù địch vẫn rêu rao. Bởi vậy, chủ
nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
cho hành động của Đảng và của cách mạng Việt Nam. Nền tảng tư tưởng vững chắc,
khoa học và cách mạng đó chỉ đạo nhận thức, tư duy và phương hướng hành động
đúng cho Đảng ta, trang bị cho Đảng vũ khí tư tưởng để làm tròn vai trò tiên
phong lãnh đạo cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện sứ mệnh lãnh đạo cách
mạng, lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, đường lối chính trị. Đó là hệ thống
những chủ trương, chính sách mang tầm chiến lược, sách lược, được khái quát từ
thực tiễn, trên cơ sở quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể qua các thời kỳ cách mạng, đáp ứng
yêu cầu và soi sáng cho thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.
Thực tiễn lịch sử cách mạng
Việt Nam đã chứng minh, từ khi được soi sáng, dẫn đường bởi chủ nghĩa Mác –
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có Đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh
đạo, cách mạng Việt Nam mới khắc phục được cuộc khủng hoảng về đường lối và lực
lượng lãnh đạo cách mạng, đưa đất nước phát triển phù hợp xu hướng thời đại;
giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Nếu
không kiên định lập trường, quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ không thể thống nhất ý chí và hành động trong
Đảng. Nếu không nắm được bản chất khoa học và cách mạng, không nắm chắc nội
dung cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì khó
lý giải đúng, trúng, thuyết phục những vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra. Chỉ
trên cơ sở nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên mới có phương pháp luận sắc
bén để vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra
đối với đất nước và ở từng cấp, ngành, địa phương. Do vậy, cần tăng cường tuyên
truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho hệ tư
tưởng của Đảng luôn giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Tuyên
truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cho cán bộ,
đảng viên nắm chắc lập trường, quan điểm, phương pháp để xử trí đúng với mọi
việc, với mọi người và với bản thân mỗi người; biết vận dụng sáng tạo vào công
tác; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Cần tạo ra sự chuyển biến
mới về chất lượng, hiệu quả việc học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh theo Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị (khóa XII); khắc phục các biểu hiện hình
thức, giản đơn và thái độ thờ ơ, xem nhẹ việc học tập lý luận chính trị trong cán
bộ, đảng viên, đoàn viên.
Các thế lực thù địch tung ra
luận điệu đòi tách rời chủ nghĩa Mác – Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh là nhằm
tiếp tục thực hiện “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong nội bộ. Vì vậy, việc kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh là quan điểm có tính nguyên tắc để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, nâng cao phẩm chất, trình độ, năng
lực của mỗi cán bộ, đảng viên, góp phần làm thất bại mọi mưu đồ chống phá cách
mạng Việt Nam.
TÍCH CỰC ĐẤU TRANH, NGĂN NGỪA NHỮNG THÔNG
TIN LỆCH CHUẨN VĂN HÓA
Có thể nói trong thời gian qua, câu chuyện về
một bộ phận thanh thiếu niên "tung hô" và bày tỏ “ngưỡng mộ” đối với
một đối tượng từng có tiền án, tiền sự, đánh bạc, ghi đề, sử dụng ma túy và có
những lời nói, hành vi phản giáo dục trên mạng xã hội (MXH), khiến nhiều người không
khỏi giật mình về sự lệch chuẩn văn hóa của một bộ phận giới trẻ hiện nay rất
đáng báo động. Nếu không ngăn chặn những biểu hiện lệch lạc này sẽ khiến nhiều
chủ nhân tương lai của đất nước mất phương hướng, động cơ phấn đấu tích cực, xa
rời những chuẩn mực văn hóa, từ đó “phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động, giảm
sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”-một biểu hiện “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” không thể xem thường. Việc cơ quan chức năng bắt giữ
đối tượng Ngô Bá Khá (còn gọi là Khá “Bảnh”) để điều tra về hành vi tổ chức
đánh bạc là một động thái kịp thời, cần thiết, được dư luận
đồng tình, ủng hộ. Bởi đối tượng này không chỉ có nhiều “thành tích bất hảo”
trên MXH, mà còn có những hành vi gây mất trật tự an toàn xã hội. Không ai phủ
nhận những ưu thế, tiện ích nhiều mặt mà MXH đã mang lại cho con người. Điều
đáng quan tâm hiện nay là làm thế nào để khai thác tối ưu những mặt tích cực từ
MXH, đồng thời có thể phòng ngừa, giảm thiểu đến mức thấp nhất những ảnh hưởng
tiêu cực từ không gian ảo xuyên biên giới này? Để giải đáp thấu đáo vấn đề đó,
trước hết đòi hỏi mỗi người trẻ phải hết sức tỉnh táo, không bị lôi cuốn,
a dua bởi những trào lưu thiếu văn hóa xuất hiện trên mạng, kiên quyết không tiếp
tay, cổ vũ cho những động thái câu “like” giật gân, những lời chia sẻ, bình luận
thiếu văn hóa. Nhưng giới trẻ có đặc điểm chung là tâm lý chưa ổn định, thiếu
kiềm chế, dễ bị “dẫn dắt, chi phối” bởi “tâm lý đám đông” trên MXH. Do vậy, các
bậc phụ huynh, các thầy cô giáo, các cán bộ đội thiếu niên, đoàn thanh niên, hội
sinh viên... cần thường xuyên gần gũi, động viên, hướng dẫn và tạo điều kiện
thuận lợi cho các em được tham gia những hoạt động văn hóa tinh thần hấp dẫn,
các sân chơi lành mạnh. Trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
hiện nay, nhất là trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, trong
đó có việc lợi dụng MXH để thực hiện âm mưu làm “đứt gãy” và xung đột giữa các
thế hệ, tiêm nhiễm vào thế hệ trẻ văn hóa độc hại, cổ xúy lối sống lai căng, tư
tưởng lệch lạc nhằm “lái” giới trẻ “quay lưng” với truyền thống, lãng quên lịch
sử, xa rời mục tiêu lý tưởng tốt đẹp, chúng ta càng phải quan tâm chăm lo giáo
dục, rèn luyện thế hệ thanh niên có đủ đức, tài, niềm tin, khát vọng để xứng
đáng với vị thế, trọng trách cao cả của mình đối với dân tộc và Tổ quốc. Trách
nhiệm này không riêng của tổ chức đoàn thanh niên, đội thiếu niên, hội sinh
viên mà là trách nhiệm chung của cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận, các ngành,
các cấp và toàn xã hội.
Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2019
Phát huy tinh thần đoàn kết
hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được
giao.
Tư
tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là tài sản tinh thần vô giá của toàn
Đảng, toàn dân; là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng
Việt Nam. Khi đề cập đến vị trí, vai trò của đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh
khẳng định, đại đoàn kết dân tộc là một chiến lược cơ bản, nhất quán, lâu dài,
là vấn đề sống còn, quyết định thành công của cách mạng. Đó là chiến lược tập
hợp mọi lực lượng nhằm hình thành và phát triển sức mạnh to lớn của toàn dân
trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù của dân tộc, của nhân dân. Để đánh bại các
thế lực đế quốc, thực dân giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng
con người, nếu chỉ có tinh thần yêu nước thôi là chưa đủ, cách mạng muốn thành
công và “thành công đến nơi”, phải tập hợp tất cả các lực lượng, xây dựng được
khối đại đoàn kết dân tộc bền vững. Muốn cách mạng thành công phải có lực lượng
cách mạng, muốn có lực lượng cách mạng phải thực hiện đoàn kết.
Quán triệt sâu sắc quan điểm, tư
tưởng của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc được Đảng ta xác định là mục
tiêu, nhiệm vụ hàng đầu, phải được quán triệt trong tất cả các lĩnh vực, từ
đường lối, chủ trương, chính sách đến hoạt động thực tiễn. Đại hội XII chỉ rõ:
Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn
trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng
phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên,
Tây Nam Bộ, Tây duyên hải miền Trung. Nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo,
chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc
thiểu số, người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc.
Học tập và làm theo lời Bác dạy,
quán triệt và thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội
nhân dân Việt Nam luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, gắn bó với nhau như ruột
thịt, trên tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí, nghĩa đồng đội và trở thành
lời thề danh dự của mỗi quân nhân, trở thành sức mạnh để Quân đội ta chiến đấu,
chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Đồng thời, cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn đoàn
kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh để bảo vệ dân,
giúp đỡ dân, được dân tin, dân yêu và trìu mến trao tặng danh hiệu cao quý Bộ
đội Cụ Hồ - một biểu tượng cao đẹp của quân nhân cách mạng, một nét độc đáo,
đặc sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)