Thứ Năm, 1 tháng 7, 2021
Giảm sâu, giá vàng hướng đến tháng sụt mạnh nhất trong hơn 7 năm
Bổ sung gần 7.651 tỷ đồng mua, sử dụng 61 triệu liều vắc xin phòng Covid-19
Bổ sung 04 trường hợp về thời gian không được tính xét nâng bậc lương thường xuyên
Chủ động, linh hoạt, sáng tạo, hài hòa giữa phòng, chống dịch bệnh và phát triển kinh tế – xã hội
Xây dựng và tổ chức tốt bộ máy quản lý nhà nước về công tác dân tộc
Trong
mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn khác nhau thì cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của cơ quan làm công tác dân tộc luôn có sự thay đổi, lúc tách ra,
lúc nhập vào giữa các cơ quan Đảng với cơ quan Nhà nước cho phù hợp với thực tiễn.
Từ
năm 1986 đến nay: Cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ của cơ
quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc được bổ sung hoàn thiện hơn. Đến nay
hệ thống tổ chức cơ quan làm công tác dân tộc đã và đang từng bước được kiện
toàn, củng cố và ổn định, bảo đảm tinh gọn, hiệu quả, đáp ứng với yêu cầu thực
tiễn.
- Hiện nay, cơ quan làm công tác dân tộc từ
Trung ương đến địa phương được kiện toàn hoàn chỉnh nhất từ trước cho đến nay:
+ Ở cấp Trung ương có Ủy ban Dân tộc, là cơ quan
ngang bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân
tộc trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản
lý của Ủy ban Dân tộc theo quy định của pháp
luật. Nhiệm vụ và quyền hạn của UBDT được
quy định chi tiết tại Điều 2, Nghị định số 13/2017/NĐ-CP ngày 10/2/2017 của
Chính phủ. Cơ cấu tổ chức của UBDT được quy định tại Điều 3, bao gồm có 18 đơn
vị: Vụ Kế hoạch - Tài chính;
Vụ Hợp tác quốc
tế; Vụ Chính sách dân tộc; 3 Vụ Địa phương (phụ
trách Tây Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long);
Học viện Dân
tộc; Trung tâm Thông tin; …
+ Ở cấp địa
phương, cả nước có 52 cơ quan làm công tác dân tộc
cấp tỉnh (49 tỉnh, 3 thành phố trực thuộc TƯ), các huyện đông dân tộc thiểu số
(trên 5000 người) có Phòng công tác dân tộc. Hệ thống cơ quan làm công tác dân
tộc hiện nay được xây dựng đồng bộ từ Trung ương đến địa phương.
- Đánh giá chung kết quả hoạt động của cơ
quan công tác dân tộc hiện nay được khẳng định:
+ Thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ tham mưu, đề xuất các chủ
trương, chính sách lớn về lĩnh vực dân tộc, xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống
chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi.
+ Quản
lý, chỉ đạo và triển khai tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách, chương
trình dự án phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi.
Xếp hàng từ nửa đêm xin cho con vào lớp 1
Bí thư Lạng Sơn làm Phó chánh Văn phòng Trung ương Đảng
Quá trình phát triển Công giáo qua các thời kỳ
+ Thời kỳ cổ đại (thời kỳ mới ra đời, từ thế kỷ I đến thế kỷ V):
đây là thời kỳ Công giáo xuất hiện núp dưới bóng đạo Do Thái (sống tầm gửi),
bị Nhà nước La Mã bức hại và Do Thái giáo phản đối, truy đuổi.
+ Thời kỳ Trung cổ (thế kỷ V đến đầu thế kỷ XVI): đây chính
là thời kỳ lịch sử đầy biến động của Công giáo. Đó là sự phân hóa Đông - Tây
(phía Đông Jerusalem và phía Tây La Mã).
+ Thời kỳ cận đại (thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX): là thời kỳ
châu Âu được lịch sử viết đậm nét bằng các cuộc cải cách tôn giáo hình thành
đạo Tin lành và các cuộc cách mạng tư sản.
+ Thời kỳ hiện đại và Công đồng Vatican II (thế kỷ XX) từ
giữa thể kỷ XIX, với sự ra đời của Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản tháng 2-1848, một hệ tư tưởng mới là chủ nghĩa xã hội
khoa học đã xuất hiện. Từ một học thuyết, đã trở thành hiện thực qua thành công
của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), lập nên Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên
trên thế giới và sau đó trở thành hệ thống vào giữa thế kỷ XX. Những sự kiện
lịch sử lớn lao đó tác động mạnh mẽ đến Giáo hội Công giáo. Năm 1891, Giáo hội
công bố Thông điệp Tân sự (Giáo hoàng Leo
XIII) phê phán chủ nghĩa cộng sản. Tiếp theo là ban hành các sắc lệnh chống
cộng, trong đó đáng chú ý nhất là sắc lệnh của Giáo hoàng Leo XIII, ngày
30-5-1949, tuyên bố phạt vạ tuyệt thông cộng sản.
Trong bối cảnh chủ nghĩa xã
hội và phong trào giải phóng dân tộc ngày càng lớn mạnh, đặc biệt là sự phát
triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật, Giáo hoàng Gioan XXIII đã triệu tập Công
đồng Vatican II (lần thứ 21). Công đồng đã thông qua 16 văn kiện quan trọng (4
Hiến chế, 9 sắc chỉ và 3 Tuyên ngôn). Với đường lối thích nghi thời đại, Công
đồng Vatican II đã đem lại cho Giáo hội một sắc thái và một luồng sinh khí mới trong xã hội hiện đại, đồng thời mở ra thời kỳ tái
truyền giáo trên phạm vi toàn thế giới.
Hiện nay, Công giáo là tôn giáo lớn trên thế
giới, đứng thứ hai về số lượng tín đồ (sau Islam giáo). Hiện số tín hữu Công
giáo có 1.253.926.000, chiếm 17,68% dân số thế giới.
NẾU BẠN KHÔNG TIN VÀO QĐND VIỆT NAM. VẬY BẠN SẼ TIN AI"..?
Quân đội ta là quân đội cách mạng, tức là từ nhân dân mà ra, vì
nhân dân mà chiến đấu, chiến đấu vì hạnh phúc ấm no của nhân dân, của cả dân tộc.
Đó là mục tiêu tối thượng và duy nhất, không bao giờ đổi thay; dân
đói, bộ đội đói trước; dân khổ, bộ đội khổ trước; dân sướng, bộ đội sướng
sau...Mỗi người chiến sĩ bước vào môi trường quân ngũ đều được thấy, được biết,
được học trong một "Trường Đại học lớn" về nhân cách, về đạo lý làm
người, làm con em của nhân dân, khiếm tốn, thật thà, dũng cảm, tất cả vì
dân, bộ đội đi đâu, ở đâu bình yên ở
đó...; lời thề danh dự ngày đầu nhập ngũ
là cán bộ chiến sĩ đồng đội như anh em ruột thịt, quân dân như cá với nước... Vậy
mà..."Mất niềm tin vào Quân đội" "Không tham gia quân đội, không
tham gia nghĩa vụ quân sự..." có lẽ đây là những câu xuất hiện nhiều nhất
mấy ngày hôm nay trên khắp các diễn đàn trên mạng xã hội...
Chỉ hỏi ngược lại các bạn 1 câu. Nếu như đất nước Việt Nam chúng
ta, không còn lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân thì lấy ai bảo vệ
Tổ quốc, lấy ai bảo vệ biên giới, hải đảo, giặc ngoại xâm. Thiên tai bão lũ, lũ
lụt sạt lở đất miền núi, bão lũ miền biển lấy ai cứu hộ nhân dân, cứu hộ thiên
tai, cứu hộ ngư dân gặp nạn, cứu hộ đê kè... Thiên tai qua đi vẫn là "màu
xanh" đó hỗ trợ khắc phục hậu quả bão lũ, sát vai cùng nhân dân từng phút.
Vai trò của lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân là
không thể thay thế được. Dịch bệnh hoành hành, lực lượng vũ trang Quân đội nhân
dân vẫn là lực lượng xung kích cùng với ngành Y tế tham gia trên tuyến đầu
phòng chống dịch Sars-covi-2.
Trong cuộc chiến thời bình hiện nay cũng đã có biết bao nhiêu cán
bộ, chiến sỹ hy sinh khi làm nhiệm vụ; có bao nhiêu con người phải từ biệt mẹ
già, con thơ, xa gia đình cả năm không về; có những đồng chí hoãn cưới hay gia
đình có người thân mất cũng không về mà phải lập bàn thờ "bái vọng" từ
xa không?
Nhưng ... không phải vì thế mà chúng ta mất đi niềm tin vào lực lượng
vũ trang, Quân đội nhân dân Việt Nam. Và xin được khẳng định lại rằng: Ở bất kỳ nơi đâu, bất kỳ lúc nào, ở bất kỳ thời
điểm nào, từ 2 cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước đến cuộc
chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở Biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc...Ở khắp
nơi, biên cương, hải đảo xa xôi, thời chiến cũng như thời bình lực lượng Quân đội
nhân dân vẫn đang ngày đêm vững tay súng, sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết không
để Tổ quốc bị bất ngờ, và cũng từ đó mà có rất nhiều sự hi sinh thầm lặng vẫn
diễn ra hằng ngày, để xã hội và Nhân dân có được cuộc sống bình yên, đất nước
được hòa bình...
Thượng tướng Phan văn Giang, Bộ trưởng Bộ quốc phòng đã từng nói:
"Quân đội sẽ cố gắng làm, làm hết mình, vì Nhân dân, vì Tổ quốc, vì sự trường
tồn của Đất nước này"..!
Phẫn nộ, bức xúc...là tâm trạng của mọi người khi theo dõi về vụ
việc, nhưng hãy là người tỉnh táo, sáng suốt, công tâm nhất, khách quan nhất đừng
vì 1 sự việc chưa có kết luận, một hiện tượng đơn lẻ mà phủ nhận, đánh đồng cho toàn bộ lực lượng Quân đội nhân
dân Việt Nam...
Thứ Tư, 30 tháng 6, 2021
Việt Nam tăng cường mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
Thực hiện nhất quán đường lối
đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa
dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin
cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, vì lợi ích quốc gia,
dân tộc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa binh, độc lập, dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Phát huy được nội lực, tranh thủ ngoại lực,
tiếp thu những thành tựu về khoa học- công nghệ, về kinh tế trí thức, kinh
nghiệm quốc tế, văn minh của nhân loại… để phát triển, hiện đại hóa lực lượng
sản xuất, xây dựng đất nước.
Trong những năm đổi
mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp để
tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế, tham gia các quan hệ song phương và tổ
chức đa phương như ASEAN, APEC, ASEM, WTO…, thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước
ngoài (FDI,ODA), xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, mở rộng thị trường xuất
nhập khẩu, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn,
khoa học-công nghệ, trình độ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến.
Tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở Việt Nam
Sử sách cho biết Thành hoàng đầu tiên
ở nước ta là thần Tô Lịch-Thần Thành hoàng của thành Đại La, trụ sở của phủ đô
hộ Đường tại nước ta (thế kỷ thứ IX). Thần Tô Lịch là do Lý Nguyên Gia và Cao
Biền tôn vinh là “Đô phủ Thành hoàng thần quân”, chữ Thành hoàng bắt đầu có từ
đó.
Tín
ngưỡng thờ Thành hoàng khi du nhập vào nước ta đã được cải biến cho phù hợp với
tâm thức của người Việt. Từ chỗ thần Thành hoàng bảo hộ cho thành trì của vua
quan, mang đậm nét Trung Hoa, khi đến Việt Nam, nó đã được điều chỉnh, cải biến trong đời sống tâm linh của người dân để
trở thành thần bào hộ xóm làng.
Trên cơ
sở các định nghĩa đã có trong lịch sử và hiện nay chúng ta có thể hiểu: Tín ngưỡng thờ Thành hoàng là niềm tin của một cộng đồng
người vào một (hay một số) vị thần linh thườngđược nhà nước phong kiến sắc phong, trở thành thần
thiêng của trìều đình trấn giữ, che
chở cho sự bình yên của một địa
phương, một làng quê và niềm tin đó được thực hiện thông qua các lễ thức nhất
định và lễ hội hàng năm.
Chính trị
Bài viết của Tổng Bí thư khẳng định con đường phát triển đúng đắn
Theo ông, đó là những sự lựa chọn đúng đắn, được quyết định từ rất sớm và được duy trì liên tục trong suốt thế kỷ 20 cho đến nay.
Đánh giá về sự nghiệp Đổi mới cũng như việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, ông Jean-Pierre Archambault cho rằng Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể.
Sau 35 năm Đổi mới, Việt Nam đã có một nền kinh tế ổn định, thể hiện qua các số liệu thống kê: mức tăng trưởng luôn đạt 6-7%/năm trong 10 năm qua; lạm phát ở mức thấp, tỷ lệ nghèo đói giảm đáng kể từ 58% năm 1993 xuống còn dưới 5%; thu nhập bình quân đầu người tăng hằng năm. Năm 2010, Việt Nam đã ra khỏi nhóm những nước kém phát triển nhất để gia nhập nhóm các nước có thu nhập trung bình (2.100 USD/người/năm)...
Theo ông Jean-Pierre Archambault, đây là những kết quả vô cùng ấn tượng, đặc biệt trong bối cảnh những hậu quả của quá khứ vẫn còn đè nặng đối với một đất nước từng là thuộc địa và sau đó trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh.
Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, công cuộc tái thiết đất nước đã diễn ra trong bối cảnh khắc nghiệt do lệnh bao vây cấm vận kinh tế của Mỹ và các nước phương Tây. Cho đến nay, sau gần 50 năm kể từ khi chiến tranh kết thúc, chất độc da cam/dioxin vẫn tiếp tục ảnh hưởng tới người dân Việt Nam, với 4 triệu người phải gánh chịu hậu quả.
Cuộc đấu tranh đòi công lý vẫn đang tiếp diễn đối với bà Trần Tố Nga - người đã đệ đơn kiện các công ty hóa chất Mỹ cung cấp chất độc cho quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh - cũng như tất cả các nạn nhân khác của chất độc da cam/dioxin.
Ông Jean-Pierre Archambault cho rằng cần phải nhắc lại lịch sử để biết được xuất phát điểm của Việt Nam, từ đó ghi nhận những nỗ lực của Việt Nam.
Tổng thư ký Hội hữu nghị Pháp-Việt cũng cho rằng dù đạt được những tiến bộ vượt bậc trong những điều kiện khó khăn, song Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức như nâng cao sản lượng sản xuất và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp; giải quyết tình trạng phát triển không đồng đều giữa thành thị và nông thôn; giữ vững lập trường, quan điểm về phát triển bền vững; xóa bỏ tệ nạn nạn tham nhũng, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo và giảm thiểu những tác động của biến đổi khí hậu.
Trong thời gian tới, theo ông, Việt Nam cần chú trọng phát triển đào tạo nghề, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, phát huy thế mạnh về y tế.
Về hội nhập khu vực và quốc tế, ông Jean-Pierre Archambault nhấn mạnh Việt Nam đã rất thành công nhờ quyết tâm chính trị mạnh mẽ của đội ngũ lãnh đạo cấp cao. Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia, hợp tác giao thương với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ, ký hiệp định đối tác chiến lược với nhiều nước trên thế giới, trong đó có Pháp. Việt Nam đồng thời đóng vai trò tích cực trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác kinh tế khu vực châu Á-Thái Bình Dương (APEC)... Việt Nam được đánh giá là một trong những nền kinh tế năng động nhất trong khu vực, góp phần tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế thế giới.
Ông Jean-Pierre Archambault cho rằng việc Việt Nam được bầu làm ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021 với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193) đã khẳng định vị thế và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế. Kết quả này thể hiện sự tín nhiệm của cộng đồng quốc tế đối với chính sách đối ngoại của Việt Nam.
Với tư cách là Tổng thư ký Hội hữu nghị Pháp-Việt, ông Jean-Pierre Archambault khẳng định tuy quan hệ hai nước có những vấn đề trong lịch sử, nhưng tình đoàn kết, sự ủng hộ lẫn nhau cũng như tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước luôn được duy trì.
Hiện phong trào Pháp ngữ ở Việt Nam đang được khôi phục nhờ nhiều sáng kiến; trao đổi trong lĩnh vực giáo dục đại học đang được thúc đẩy; hợp tác y tế luôn là điểm mạnh trong quan hệ hai nước. Ông bày tỏ tin tưởng rằng mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước sẽ đạt được những kết quả tốt hơn nữa trong thời gian tới, nhất là trong lĩnh vực kinh tế./.
Sưu tầm
Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và phổ biến hệ thống giá trị của văn hóa gia đình Việt Nam
Nghiên cứu khoa học về các
giá trị của gia đình truyền thống là hoạt động rất quan trọng đối với việc củng
cố, điều chỉnh và xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay. Nghiên cửu đầy đủ về văn hoá gia đình truyền thống Việi Nam là
cơ sở cho việc xây dựng chuẩn mực định hướng cho gia đình Việt Nam các giai
đoạn; cơ sở cho quá trình nghiên cứu các
nội dung, biện pháp giáo dục gia đình phù hợp với các đối tượng, các nhóm dân cư
và vùng địa lý; nghiên cứu sự phối hợp giữa quản lý nhà nước; các tổ chức xã hội
với vai trò tự quản của gia đình trong việc củng cố các quan hệ gia đình, thực
hiện vai trò và chức năng của gia đình; nghiên cứu phương pháp làm cân bằng giữa
công việc và gia đình trong xã hội công nghiệp hoá- hiện đại hoá, giúp các thành
viên gia đình vừa có điều kiện cống hiến cho xã hội, vừa có điều kiện chăm sóc
gia đình.
Sự ra đời của đạo Ki-tô
Tên gọi đạo Ki-tô xuất phát từ việc đạo này thờ Đấng Cứu thế là Jésus
Christ, thường được dịch trực tiếp là Giê-su Ki-ri-xi-tô, gọi tắt là Giê-su
Ki-tô. Đạo Ki-tô gồm có bốn dòng chính là Công giáo, Chính thống, Tin lành và
Anh giáo. Công giáo là dòng gốc của đạo Ki-tô có trung tâm ở Rô-ma. Tên gọi
Công giáo có từ rất sớm (khoảng thế kỷ II- SCN) xuất phát từ tiếng Hy Lạp là
Katholikos có nghĩa là chung (General), phổ quát (Universal).
Sáng lập ra đạo Ki-tô là
Giê-su Ki-tô (Jesus Christ) là người Do Thái, được tôn vinh là Ngôi hai Thiên
Chúa trong quan niệm Ba ngôi Thiên Chúa
Công giáo ra đời trên cơ
sở của Do Thái giáo và Kinh Thánh Do Thái, cùng với đó là triết học Hy Lạp, La
Mã cổ đại và nhiều yếu tố của tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục tập quán của
các dân tộc vùng Trung Cận Đông. Công giáo nói riêng, Kitô giáo nói chung là
một học thuyết nhất thần đáp ứng được sự mong đợi của nhiều dân tộc và của đông
đảo quần chúng tin theo.