Thứ Tư, 6 tháng 7, 2022

THỰC HÀNH DÂN CHỦ CẦN PHÁT HUY HIỆU QUẢ TRONG THỰC TIỄN

 Mới đây, tại kỳ họp thứ 3 khóa XV, Quốc hội đã bàn thảo, góp ý cho Dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở nhằm kịp thời thể chế hóa chủ trương “thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân”. Ðây được coi như một bước tiến mới, góp phần đẩy mạnh hiệu quả và chi tiết hóa Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 8/2/1998 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.

Có thể nói, sau 24 năm thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã đem lại nhiều kết quả không thể phủ nhận, quyền làm chủ của nhân dân trong cả nước được phát huy mạnh mẽ. Tuy nhiên, những năm qua, việc thực hiện dân chủ ở cơ sở ở nước ta vẫn còn có những hạn chế, bất cập. Trước hết, có thể nhận thấy, nhận thức về dân chủ và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa của một bộ phận cán bộ và nhân dân còn chưa đầy đủ, đôi khi có sự sai lệch. Một bộ phận người dân còn nhận thức mơ hồ, phiến diện về dân chủ, thậm chí có ý kiến còn hết sức nhầm lẫn, lệch lạc khi cho rằng dân chủ của chế độ tư bản là đỉnh cao, là khuôn mẫu phải noi theo.

Một bộ phận khác do chưa hiểu được mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ luật, kỷ cương, dẫn tới coi thường pháp luật, có tư tưởng “dân chủ quá trớn”, coi dân chủ là có quyền tự do nói và làm bất cứ điều gì, từ đó đưa ra những yêu sách, đòi hỏi phi lý. Một số quan điểm coi dân chủ như là phương tiện để đạt tới sự tập trung, đồng nhất khoa học với chính trị, không coi trọng quan điểm cá nhân; nhưng lại có bộ phận tách rời dân chủ với tập trung, tách rời quan điểm cá nhân với việc giữ gìn kỷ luật và sự đoàn kết, thống nhất trong Ðảng, trong cộng đồng... Ðiều này gây ảnh hưởng đến việc thực thi dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong nhiều lĩnh vực.

Sự hiểu biết, nắm bắt nội dung các văn bản, chính sách pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở (Quy chế dân chủ ở cơ sở và các văn bản pháp luật liên quan khác...) của một bộ phận người dân ở không ít địa phương còn yếu. Theo một nghiên cứu, có tới 27,5% người dân được hỏi cho biết họ chỉ nắm bắt được một số nội dung mà nhân dân được bàn, quyết định, tham gia ý kiến hoặc được giám sát; 13,54% chỉ nắm được một số ít nội dung mà nhân dân được bàn, quyết định trực tiếp; 3,38% hầu như không nắm được nội dung của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở(1).

Ngay cả một số cán bộ, công chức cũng có sự thiếu hiểu biết pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở, hoặc chưa gương mẫu chấp hành những quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở. Theo một điều tra, có tới 23,1% số cán bộ, công chức được hỏi cho biết họ chỉ biết sơ qua về quy chế dân chủ của cơ quan, đơn vị mình(2).

Một số văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý để phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân, để nhân dân trực tiếp thể hiện ý chí của mình trong những vấn đề quan trọng của đất nước... thì vẫn còn thiếu, hoặc chưa lan tỏa rộng rãi đến mọi người dân. Chẳng hạn, Luật Giám sát và phản biện xã hội chưa được ban hành kịp thời, mà mới chỉ là Quy chế;

Luật Trưng cầu ý dân có hiệu lực từ ngày 1/7/2016, nhưng đến nay vẫn chưa được triển khai rộng rãi... Các nghị định, pháp lệnh về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở tại một số địa phương được thực hiện chưa tốt.

Bên cạnh đó, việc thực thi dân chủ ở cơ sở trong thực tế cũng còn nhiều bất cập. Tại các cơ quan công quyền, một số cán bộ, đảng viên do không nhận thức đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ và còn tình trạng thiếu dân chủ trong Ðảng đã hình thành phong cách lãnh đạo, quản lý chuyên quyền, độc đoán, lạm quyền, bao biện, gia trưởng... làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Ðảng. Tình trạng tham ô, tham nhũng - sự vi phạm dân chủ khi của cải của nhân dân, của tập thể đã bị một số cá nhân có chức quyền chiếm đoạt-đến nay vẫn có nguy cơ gia tăng với nhiều mức độ khác nhau.

Việc phát huy vai trò của nhân dân khi tham gia giám sát, góp ý xây dựng Ðảng, chính quyền, hoặc bàn và quyết định các vấn đề của địa phương ở một số nơi còn hạn chế... Việc thực hiện dân chủ trong nhiều cơ quan, đơn vị còn mang tính hình thức. Vẫn còn tình trạng dân chủ không gắn liền với kỷ luật, kỷ cương. Việc thực hiện trách nhiệm của người đứng đầu còn chưa nghiêm, chưa có sự quy định rõ ràng, đôi khi còn chồng chéo dẫn đến tình trạng “được thì tranh công, thua thì đổ lỗi”...

Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân, nhất là ý kiến của đội ngũ chuyên gia, các nhà khoa học khi xây dựng một số văn bản pháp luật, đề án, dự án quan trọng còn chưa thực sự hiệu quả, làm cho chất lượng văn bản pháp luật chưa cao, thậm chí có những dự án, quy định gây bức xúc dư luận, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và những người ra quyết định.

Tình trạng phát huy dân chủ ở một số địa phương chưa tốt cũng góp phần khiến một bộ phận nhân dân bức xúc, khiếu kiện kéo dài lên các cơ quan chức năng, thậm chí khiếu kiện vượt cấp vì không đủ tin tưởng vào cơ quan công quyền ở địa phương. Thời gian xử lý đơn, thư còn chậm; một số người đứng đầu chưa quan tâm đúng mức đến đối thoại, lắng nghe ý kiến, giải quyết khiếu nại, phản ánh của người dân. Số lượng đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân còn cao, nhưng tỷ lệ đơn, thư được giải quyết, hoặc giải quyết một cách thỏa đáng còn khiêm tốn.

Từ những hạn chế nêu trên, cần thấy rằng, để việc thực hiện dân chủ ở cơ sở đi vào thực chất, phải tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trình độ hiểu biết của cán bộ, đảng viên và nhân dân về dân chủ và pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở, nắm vững Quy chế dân chủ ở cơ sở và các quy chế dân chủ gắn với từng cơ quan, đơn vị, xã, phường cụ thể. Có hiểu biết đúng đắn, đầy đủ về các quyền tự do dân chủ, về pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở, thì người dân mới có thể thực hiện quyền làm chủ thực sự cũng như thực thi, sử dụng các quyền dân chủ và đấu tranh bảo vệ quyền dân chủ của mình; mới biết và đủ trình độ để kiểm tra, giám sát và tham gia đóng góp ý kiến vào các công việc hệ trọng của địa phương, của đất nước.

Ðồng thời, cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện những cơ chế, thiết chế bảo đảm dân chủ trong đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Ðảng, Nhà nước. Tăng cường việc xây dựng hành lang pháp lý cho việc thực thi dân chủ trong Ðảng và trong toàn xã hội. Thực hiện dân chủ ở cơ sở cần phải được cụ thể hóa bằng luật thì mới có thể kiểm soát quyền lực và mở đường cho dân chủ phát triển. Nhanh chóng xây dựng, hoàn thiện, ban hành và triển khai rộng rãi các luật liên quan đến thực thi dân chủ, tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện và giải quyết các vấn đề liên quan đến dân chủ, dân chủ ở cơ sở.

Một giải pháp quan trọng khác có ý nghĩa quyết định việc thực hiện có hiệu quả dân chủ ở cơ sở hiện nay là phải xây dựng được đội ngũ cán bộ cơ sở thực sự có trình độ, năng lực, trong sạch về đạo đức, lối sống, đặt lợi ích của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, trách nhiệm của người đứng đầu, của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hành dân chủ và thực hiện Quy chế dân chủ ở mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương. Bởi, đây là những người trực tiếp xây dựng, triển khai, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tới quần chúng nhân dân.

Do đó, phải kiên quyết xử lý những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật Ðảng, vi phạm quy chế dân chủ ở cơ sở, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân, nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Ðảng, Nhà nước và chế độ.

Ðể công tác thực hiện dân chủ ở cơ sở đạt hiệu quả thiết thực thì việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện dân chủ ở cơ sở là vô cùng cần thiết. Công tác này nếu được tiến hành thường xuyên, khách quan, công tâm, không né tránh, bao che, đổ lỗi, tập trung vào những vấn đề trọng tâm, trọng điểm, những bức xúc trong dư luận... sẽ góp phần ngăn chặn những hạn chế, bất cập trong thực hiện quy chế dân chủ của cán bộ, đảng viên ở các cơ quan, đơn vị và địa phương.

Mặt khác, cần xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát của nhân dân để tăng cường và nâng cao quyền giám sát của người dân. Có cơ chế, nội dung, hình thức giám sát cũng như cơ chế phản hồi, phản ánh... một cách rõ ràng mới có thể nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục tăng cường công tác truyền thông để nâng cao nhận thức, cập nhật thông tin về chính sách, luật pháp, giúp người dân phát huy tốt quyền dân chủ và thực hiện hiệu quả dân chủ ở cơ sở. Chú trọng tuyên truyền, nhân rộng các điển hình tiên tiến, các mô hình hay, cách làm tốt về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, giúp cho việc thực hành dân chủ ngày càng thấm sâu vào mọi hoạt động của đời sống xã hội; kịp thời ngăn chặn các hiện tượng vi phạm dân chủ...

Thực tế đã cho thấy, sau hơn 35 năm đổi mới, việc thực hiện dân chủ cơ sở ở nước ta tuy còn tồn tại những hạn chế, bất cập nhưng đã đạt được nhiều thành quả quan trọng. Việc phát huy dân chủ trực tiếp và gián tiếp của nhân dân ngày càng thực thi có hiệu quả trong mọi hoạt động của đời sống xã hội. Chắc chắn với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và người dân cả nước, tập trung giải quyết một cách đồng bộ, triệt để các giải pháp trên, nhất định việc thực hiện dân chủ ở cơ sở sẽ ngày càng hiệu quả thiết thực và thực chất trong thực tiễn.

CHUYỆN VỀ MỘT HUYỀN THOẠI: "ĐÁY SÔNG CÒN ĐÓ BẠN TÔI NẰM"

 


Nhìn ảnh những người lính trên sông thả hoa, chợt nhớ một chuyện em tôi, Trịnh Hoà Bình kể. Cũng lâu rồi, hình như đó là năm 1987, khi trận đánh ấy chưa được mấy ai nhắc đến.

Rằng lần về Quảng Trị ấy, ngày thương binh liệt sĩ 27/7, em tôi vào chợ Đông Hà, đã vét hết tiền túi định mua hoa, để viếng đồng đội. Những người đã hi sinh trong 81 ngày máu lửa. Bao người chỉ có mộ, không tên. Bao người đến mộ cũng không được nằm. Để hồn, để cốt dưới lòng sông. Chợt ngỡ ngàng, khắp chợ hoa không còn một bông. Người ta bảo, có anh bộ đội qua trước, mua hết rồi.

Thứ Ba, 5 tháng 7, 2022

Ai đang mượn danh nhân quyền để chống phá Việt Nam

 


Với mục tiêu xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN ở Việt Nam, các thế lực thù địch sử dụng nhiều phương thức thủ đoạn chống phá, với mức độ ngày càng quyết liệt.

Bác bỏ luận điệu sai trái, khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế


Hoạt động lợi dụng vấn đề nhân quyền chống Việt Nam đang được các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước không ngừng đẩy mạnh với quy mô ngày càng mở rộng, tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt, theo kiểu “mềm, ngầm, sâu, hiểm”, vô cùng tinh vi, xảo quyệt. Chúng chống phá ta trên lĩnh vực pháp lý; văn hóa; dân tộc, tôn giáo; thực hiện chính sách với tù nhân.

Cảnh giác trước âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc tôn giáo để hình thành “Nhà nước Mông”

 


Để thực hiện âm mưu chia rẽ đoàn kết dân tộc, các thế lực thù địch, phản động không ngừng gieo rắc niềm tin tín ngưỡng đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhiều người Mông tại các tỉnh miền núi phía Bắc bị xúi giục, ép buộc, lừa mị tin theo cái gọi là đạo “Giê Sùa” với những luận điệu viển vông.

Cảnh giác trước thủ đoạn lợi dụng các vụ án để chống phá Đảng, Nhà nước và hình ảnh quốc gia

 


Gần đây, vụ việc tiêu cực từ Công ty Việt Á, vụ việc nhận hối lộ xảy ra tại Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao), việc kỷ luật những cán bộ, đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, có dấu hiệu vi phạm pháp luật xảy ra ở một số cơ quan, đơn vị... đã bị các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, bóp méo, bôi đen, nhằm ý đồ lèo lái dư luận, kích động chống phá Đảng, Nhà nước. Trên một số trang mạng xã hội như “Việt Tân”, “RFA Tiếng Việt”, “Tiếng dân”, “Hội tù nhân lương tâm”, “Diễn đàn dân chủ”... và tài khoản của một số đối tượng cực đoan, có tư tưởng thù địch, xuất hiện nhiều bài viết, clip có nội dung xuyên tạc.

Xử nghiêm hành vi tung tin đồn ác ý trên các trang mạng xã hội

Lợi dụng tâm lý tò mò, hiếu kỳ của cộng đồng, không ít đối tượng đã tung ra các thông tin giả để dẫn dắt dư luận. Đánh giá về các thông tin giả, có những thông tin được đưa ra là do sự bất cẩn của nguồn phát tin khi không tiến hành kiểm chứng sự chính xác của thông tin, không phải bắt nguồn từ mục đích

Nguyễn Lân Thắng, Kẻ hoang tưởng vĩ nhân


Thực ra, sẽ chẳng ai biết Nguyễn Lân Thắng là ai, nếu anh ta không may mắn sinh ra và lớn lên trong gia tộc Nguyễn Lân danh giá – gia tộc mà cả đất nước Việt Nam đều kính trọng về trí tuệ cũng như về những cống hiến, đóng góp đối với đất nước.

CHỦ NGHĨA DÂN TÚY VÀ ĐẤU TRANH NGĂN NGỪA VỚI NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA NÓ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.


Chủ nghĩa dân túy trên thế giới đã trở thành trào lưu điển hình chi phối đời sống chính trị - xã hội ở nhiều nước, nhưng ở Việt Nam mới chỉ biểu hiện ở những phát ngôn và hành động của một số người. Tuy nhiên, những biểu hiện đó, đã, đang có tác động xấu và nguy cơ tạo ra những hậu quả tiêu cực nếu chúng ta không nhận diện và đấu tranh ngăn ngừa kịp thời.

NHỮNG BIẾN TƯỚNG NGUY HẠI CỦA THA HÓA QUỀN LỰC

 


Tha hóa quyền lực là hành vi lợi dụng, lạm dụng quyền lực được tổ chức giao phó để làm những việc sai trái, khuất tất nhằm mưu lợi riêng cho mình gây tổn hại đến lợi ích chung của tập thể, lợi ích của quốc gia dân tộc.

SỰ NGUY HIỂM CỦA MỸ- NATO

 


Chiến sự Nga- Ukraina dường như chưa có hồi kết. Chiến tranh cách Việt Nam hàng vạn km, mà ngỡ như bom đạn đang nổ trước nhà mình. Mới biết người Việt mình rất nhạy chuyện thiên hạ. Bình luận gắt gao. Kẻ lên án Nga, người bênh vực UK, đầy lòng thương cảm dân thường. Nhiều người thổi ông

THÁNG 7 - THÁNG TRI ÂN, THÁNG CỦA NHỮNG TƯỞNG NHỚ VÀ HOÀI NIỆM

 

Cuộc sống dẫu còn nhiều khó khăn vất vả, nhưng tháng 7 về, xin hãy dành sự tri ân bằng những việc làm dù chỉ là rất nhỏ.

Có người ra đi và mãi không về. Có người trở về nhưng thân thể không còn nguyên vẹn. Cuộc sống dẫu còn nhiều khó khăn vất vả, nhưng tháng 7 về, xin hãy dành sự tri ân bằng những việc làm dù chỉ là rất nhỏ. Xin dành một phút mặc niệm cho những người đã ngã xuống ngày hôm qua. Và xin chung tay với những hoạt động đền ơn đáp nghĩa cho những người đang sống hôm nay.

Có thể nói rằng, lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử được viết bằng máu và nước mắt của những người yêu nước, yêu độc lập tự do, quyết không cam chịu thân phận làm nô lệ!

Viết tiếp những trang sử vẻ vang, hào hùng của dân tộc sáng ngời những chiến thắng Bạch Đằng, Chi Lăng, Xương Giang, Đống Đa… ; trong thời đại Hồ Chí Minh, nhân dân ta đoàn kết một lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã vượt qua muôn vàn thử thách, giành được những thắng lợi vĩ đại. Đó là thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên của độc lập, tự do. Đó là thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đó là thắng lợi của các cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, gìn giữ toàn vẹn non sông.

Và để có được những thắng lợi ấy, nhân dân ta với lòng yêu nước nồng nàn, với ý chí kiên cường bất khuất, đã vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, cống hiến to lớn về sức người, sức của, không tiếc máu xương và sinh mạng của mình.

Xin hãy một lần đến các nghĩa trang liệt sĩ ở khắp nơi trên khắp đất nước ta, trong đó có những nghĩa trang với hàng vạn ngôi mộ liệt sĩ như Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Đường 9… để cảm nhận được sự khốc liệt của chiến tranh, sự mất mát, đau thương vô hạn của nhân dân và những hy sinh lớn lao mà các thế hệ cha anh đã hiến dâng cho Tổ quốc. Vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và làm nghĩa vụ quốc tế cao cả, hàng triệu người trong đó phần lớn là thanh niên đã hiến dâng tuổi thanh xuân và cả cuộc sống của mình, anh dũng hy sinh trên khắp các chiến trường và trong khi làm nhiệm vụ, trong đó nhiều người đến nay vẫn chưa tìm được phần mộ hoặc chưa xác định được danh tính, trên bia mộ chỉ vẻn vẹn dòng chữ “Liệt sĩ không có tên”.

Trong hàng triệu gia đình liệt sĩ, có những tấm gương đã trở thành biểu tượng của đức hy sinh, tiêu biểu như Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ, mẹ đã 12 lần tiễn người thân lên đường và không một ai trở về bởi tất cả đều đã hy sinh. Nhiều người nước ngoài đã gọi mẹ Thứ là “người phụ nữ vĩ đại”, khi được biết rằng mẹ có tới 9 người con, 2 người cháu ngoại và 1 người con rể đã hy sinh cho đất nước.

Và có tuổi đôi mươi trẻ trung phơi phới, gửi lại nơi chiến trường bao ước mộng còn dở dang. Có dòng nhật ký với nét chữ mới vừa viết vội. Có những lá thư tình chưa kịp gửi trao. Có những dự định mãi không thể hoàn thành. Tất cả đã dệt nên một khúc tráng ca về ý chí, lòng quả cảm, về vẻ đẹp bất tử mang tên anh hùng thời đại Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử, được Tổ quốc đời đời khắc ghi.

Hiện cả nước có hàng triệu người có công và thân nhân đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng; qua rà soát, cơ bản người có công đã được hưởng đầy đủ các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Ðạo lý "Uống nước nhớ nguồn" đã trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh ban hành chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ, đồng thời quyết định chọn ngày 27-7 hằng năm là Ngày Thương binh toàn quốc, sau đổi là Ngày Thương binh-Liệt sĩ, để ghi nhớ, tôn vinh công ơn các Anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và người có công với nước. Kể từ đó ngày 27-7 hằng năm đã trở thành ngày có ý nghĩa lịch sử, chính trị, xã hội sâu sắc, mang đậm truyền thống và bản sắc văn hóa Việt Nam.

Trong nhiều thập kỷ qua, Ðảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ và gia đình người có công với nước. Hệ thống pháp luật về công tác thương binh, liệt sĩ và người có công ngày càng được hoàn thiện. Nhiều chủ trương, quan điểm ưu đãi đã được thể chế hóa trong Hiến pháp, luật pháp, Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, Pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng".

Và mặc dù đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng chính sách ưu đãi người có công không ngừng được hoàn thiện theo hướng diện ưu đãi ngày càng được mở rộng, mức chuẩn trợ cấp ưu đãi từng bước được nâng lên, cao hơn mức lương tối thiểu chung và luôn ở mức cao nhất trong các chính sách xã hội. Hằng năm, Ðảng và Nhà nước ta luôn quan tâm ưu tiên bố trí ngân sách để thực hiện chính sách trợ cấp ưu đãi; mở rộng hệ thống cơ sở dịch vụ và sự nghiệp để phục vụ thương binh, thân nhân liệt sĩ và người có công; đẩy mạnh công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; xây dựng, tu bổ tôn tạo nghĩa trang liệt sĩ, các công trình ghi công liệt sĩ; xác định hài cốt liệt sĩ, thông báo phần mộ liệt sĩ tại các nghĩa trang và giúp đỡ người thân của liệt sĩ đến thăm viếng và thực hiện các chính sách ưu đãi về giáo dục, đào tạo, miễn giảm thuế, cải thiện nhà ở, chăm sóc sức khỏe, chương trình dạy nghề, tạo việc làm cho con em gia đình người có công...

Chúng ta cũng hết sức trân trọng và khâm phục những cố gắng to lớn của những thương binh, bệnh binh, gia đình người có công đã chia sẻ với những khó khăn chung của đất nước, vượt qua những đau thương, mất mát to lớn, chiến thắng thương tật, bệnh tật, với tinh thần "tàn nhưng không phế" hòa mình vào cuộc sống và tiếp tục mang sức lực, trí tuệ của mình để xây dựng gia đình, quê hương, đất nước giàu đẹp. Nhiều người đã trở thành những nhà quản lý, nhà khoa học giỏi, những doanh nhân thành đạt, nhiều người đã được Nhà nước trao tặng các danh hiệu cao quý như Anh hùng lao động, Chiến sĩ thi đua, Thầy thuốc nhân dân, Nhà giáo nhân dân, Nghệ sĩ nhân dân.

Nhưng chúng ta cũng chưa thể yên lòng khi cuộc sống của một số gia đình người có công với nước còn nhiều khó khăn, việc chăm sóc sức khỏe khi đau yếu, việc chữa trị những vết thương do chiến tranh để lại, việc chăm lo học hành và giải quyết việc làm chưa được chu đáo và vẫn còn những người, những gia đình chưa được hưởng đầy đủ những chính sách ưu đãi của Ðảng và Nhà nước ta; nhiều trường hợp người có công chưa hoàn tất được hồ sơ để được hưởng chế độ và đến nay vẫn còn nhiều liệt sĩ chưa tìm được hài cốt, chưa xác định được danh tính... đang để lại nỗi thương đau khắc khoải trong lòng những người thân và trong mỗi chúng ta. Hãy cũng nhau biến nhận thức và tình cảm tốt đẹp thành hành động cách mạng thiết thực trong việc thực hiện chính sách ưu đãi, giúp đỡ người có công và trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Thực hiện tốt công tác “đền ơn, đáp nghĩa”, không chỉ phát huy truyền thống, đạo lý của dân tộc ta mà còn củng cố niềm tin vững chắc vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; góp phần quan trọng vào việc tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; bảo đảm ổn định tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội bền vững.

NGƯỜI PHÁP, NGƯỜI MỸ VIẾT VỀ BÁC HỒ CHÚNG TA NHƯ THẾ NÀO?

 

(Tuần báo "ĐÂY PARIS" số ra 18-6-1946):

"Chủ tịch nước Việt Nam là một người quá đỗi giản dị, Quanh năm chỉ bộ quần áo kaki giản dị! Khi những người cộng tác xung quanh nhắc Ông: 'với địa vị Ông, nên quan tâm mặc bộ trang trọng hơn!' Ông chỉ mỉm cười trả lời: "Chúng ta thì tưởng rằng chúng ta được quý trọng vì có áo đẹp mặc, trong khi bao nhiêu đồng bào thân trần, đang rét run ngay trong thành phố và các vùng quê...".

Sự giản dị đến cực độ như một nhà ẩn sĩ thế đó là một trong những đức tính rõ rệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Một tuần lễ Ông nhịn ăn một bữa, không phải hành tự xác mình... mà để nêu gương dè xẻn gạo cho đồng bào, mong mọi người cùng làm để góp phần giảm bớt nạn đói trong nước. Và hết thảy mọi người xung quanh đều bắt chước làm theo hành động đó của Ông...

Tính giản dị, gần gũi qua những bài diễn văn: Không bao giờ Ông tỏ ra thông thái, dù Ông thông thạo bảy thứ tiếng khác nhau và nói được rất nhiều tiếng thổ âm... Ông chỉ dùng những câu từ nôm na, thường dùng sao cho một người dù quê mùa chất phác nghe cũng hiểu ngay được...

Tất cả đức tính Hồ Chí Minh luôn thể hiện trong từng hành động tưởng chừng như bé nhỏ đó... Chủ tịch Hồ Chí Minh rất ghét lối nói khoa trương, văn vẻ. Mỗi bài diễn văn của Ông là một bài học nhỏ về đạo đức. chính những ý tưởng hết sức giản đơn ấy mà từng bài diễn văn của Ông là tiếng vang lớn trong giới trí thức và dân chúng."

Sau khi Bác đã mất, năm 1971 nhà báo, nhà văn Mỹ (Đâyvít Hanbơcstơn) trong ấn phẩm “HỒ”- NXB 'Răngđôm Haosơ - Niu Yoóc" đã viết:

"Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật kỳ lạ của thời đại này, hơi giống Găngđi, hơi giống Lênin, nhưng hoàn toàn Việt Nam. Hơn tất cả, đối với dân tộc của Ông, và cả thế giới Ông là hiện thân của một cuộc cách mạng.

Thế nhưng, với hầu hết người dân Việt Nam, Ông là biểu tượng của cuộc sống, hy vọng, đấu tranh, hy sinh và thắng lợi của họ.

Ông là một người Việt Nam lịch sự, khiêm tốn, nói năng hòa nhã, không màng địa vị, luôn luôn ăn mặc đơn giản nhất – cách ăn mặc không khác mấy so với người nông dân nghèo nhất – là phong cách mà phương Tây đã chế giễu Ông thiếu nghi thức quyền lực, không có đồng phục, không biết thời trang. Cho đến một ngày họ mới tỉnh ngộ và ngộ ra chính cái giản dị ấy, cái khả năng hòa mình vào nhân dân ấy là cơ sở tiên quyết cho sự thành công của Ông...

Tính giản dị của Ông Hồ là một sức mạnh. Địa vị càng cao sang, Ông càng giản dị và trong sạch. Hình như ông luôn luôn giữ được những giá trị vĩnh cửu của Việt Nam: kính già, yêu trẻ, ghét tiền của. Ông Hồ không tìm kiếm cho mình những cái trang sức quyền lực vì Ông tự tin ở mình và ở mối quan hệ của mình với nhân dân, với lịch sử... Việc Ông luôn từ chối sự sùng bái cá nhân, sùng bái lãnh tụ là đặc biệt đáng chú ý trong một xã hội kém phát triển…"

ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN CÁC ANH HÙNG LIỆT SĨ

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai (VNCH), chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, cuộc chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo, quân và dân ta đã hy sinh bằng xương máu để đổi lấy độc lập tự do, hòa bình, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Phải! Cái giá của độc lập tự do, hòa bình, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ rất đắt. Nhưng... có gì quý giá hơn độc lập tự do nhỉ? Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước và dưới đây sẽ là những con số thể hiện sự mất mát đau thương đó:

🇻🇳ANH HÙNG, LIỆT SỸ

- Có 1.146.250 Liệt sỹ trên cả nước.

+ Có 191.605 Liệt sỹ hi sinh trong kháng chiến chống Pháp

+ Có 849.018 Liệt sỹ hi sinh trong kháng chiến chống Mỹ

+ Có 105.627 Liệt sỹ hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên giới phía Bắc, cuộc chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo…)

- Hơn 200.000 hài cốt Liệt sỹ chưa được tìm thấy, thi thể các anh còn nằm lại trên các chiến trường Việt Nam, Lào, Cam pu chia, Biển Đông…

- Hơn 300.000 hài cốt Liệt sỹ đã được quy tập về các nghĩa trang nhưng chưa xác định được danh tính tên tuổi, quê quán, đơn vị…

- Tỉnh có nhiều Liệt sỹ hi sinh nhất: Tỉnh Quảng Nam có 65.000 Liệt sỹ hi sinh trong các cuộc chiến tranh (ngoài ra tỉnh Quảng Nam còn có hơn 30.000 thương binh, tính đến năm 2012).

- Huyện có nhiều liệt sỹ nhất cả nước là huyện Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam) với hơn 19.800 Liệt sỹ. (tính đến năm 2012).

🇻🇳NGƯỜI DÂN

- Ngoài ra, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, có khoảng hơn 4 triệu dân thường Việt Nam ở hai miền (miền Bắc và miền Nam) đã chết và bị thương tật suốt đời do bom đạn, do kẻ thù giết hại…

🇻🇳CÔNG TRÌNH TRI ÂN ANH HÙNG, LIỆT SỸ

- Có 9.637 công trình tri ân, ghi công Liệt sỹ như tượng đài, nhà bia, nghĩa trang Liệt sỹ trên địa bàn cả nước. (tính đến năm 2012)

+ Hơn 3.000 nghĩa trang Liệt sỹ trên địa bàn cả nước (hầu hết các tỉnh, thành phố, huyện, quận, xã, phường, thị trấn trên đất nước Việt Nam đều có nghĩa trang Liệt sỹ…)

- Các Nghĩa trang Liệt sỹ cấp Quốc gia nổi tiếng linh thiêng như:

+ Nghĩa trang Liệt sỹ Quốc gia Vị Xuyên (Hà Giang).

+ Nghĩa trang Liệt sỹ Điện Biên Phủ (Điện Biên).

+ Nghĩa trang Mai Dịch (Thủ đô Hà Nội).

+ Nghĩa trang Quốc tế Việt – Lào (Anh Sơn, Nghệ An).

+ Nghĩa trang Liệt sỹ Quốc gia Trường Sơn (Quảng Trị).

+ Nghĩa trang Liệt sỹ Quốc gia Đường 9 (Đông Hà, Quảng Trị).

+ Nghĩa trang Liệt sỹ Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM)…

+ Nghĩa trang Liệt sỹ Hàng Dương (Côn Đảo, Bà Rịa Vùng Tàu).

🇻🇳NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG

- Có 9.000.000 người có công trên cả nước

- Trên 127.000 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng có chồng, con hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Một số Bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu:

+ Mẹ Nguyễn Thị Thứ ở Quảng Nam có chồng, chín con đẻ, 1 con rể, 2 cháu ngoại là liệt sỹ;

+ Mẹ Trần Thị Mít ở Quảng Trị có chồng, 6 con đẻ, một con dâu và 1 cháu nội là liệt sỹ;

+ Mẹ Trần Thị Mít ở Quảng Trị có chồng, 6 con đẻ, 1 con dâu và 1 cháu nội là liệt sỹ;

+ Mẹ Lê Thị Tự ở Quảng Nam có 9 con là Liệt sỹ;

+ Mẹ Phạm Thị Ngư ở Bình Thuận, mẹ Nguyễn Thị Rành ở huyện Củ Chi (Sài Gòn) đều có 8 con là Liệt sỹ, bản thân 2 mẹ cũng là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

- Tỉnh Quảng Nam là tỉnh có nhiều Bà mẹ Việt Nam anh hùng nhất với 11.658 mẹ (số liệu tính đến 2001).

- Gần 13.000 Anh hùng LLVTND và Anh hùng Lao động.

- Gần 800.000 Thương binh và người được hưởng chính sách như Thương binh.

- Hơn 300.000 người hoạt động kháng chiến và con đẻ bị nhiễm chất độc da cam.

- Gần 111.000 người hoạt động cách mạng, người tham gia kháng chiến bị địch bắt giam, tù đày, tra tấn trong các nhà tù nổi tiếng như (Nhà tù Hỏa Lò, Sơn La, Lao Bảo, Côn Đảo, Phú Quốc…)

Những con số trên để chúng ta thấy được cái giá của hoà bình là vô cùng quý giá.

Tuổi trẻ hôm nay đời đời ghi nhớ, tri ân, biết ơn sự hy sinh của các anh hùng liệt sỹ, các mẹ Việt Nam anh hùng, các gia đình có người thân đã cống hiến sương máu, cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc!


RẤT XÚC ĐỘNG VỀ NHỮNG LỜI CỦA LIỆT SĨ


Liệt sĩ Lê Đức Hoàng, sinh năm 1959 tại Hải Yến, Tĩnh Gia, Thanh Hóa Năm 1980, anh thi đỗ Đại học Sư phạm Hà Nội nhưng không đi nhập trường mà vào bộ đội. Cha mẹ khuyên nên chọn nghề giáo cho đỡ vất vả, nhưng tôn trọng khát vọng theo đường binh nghiệp của con nên đồng ý để anh đi.
Sau ba tháng huấn luyện, anh được tuyển chọn học ngoại ngữ, rồi đi học lớp sĩ quan chỉ huy, chuyên ngành hải quân 7 năm ở Bulgaria. Hai lần về thăm nhà, anh đều bảo còn nhiệm vụ, chưa tính chuyện yêu đương.
Lá thư gửi ngày 9/3/1988 trước khi xuống tàu đi đảo, anh viết “Con phải đi Trường Sa cùng các anh em khác. Nơi ấy cần những người lính trẻ như con, Tổ quốc cần chúng con bảo vệ. Bố mẹ giữ gìn sức khỏe, hoàn thành nhiệm vụ con sẽ trở về và xây dựng gia đình. Con sẽ lấy vợ, sinh cháu cho bố mẹ bế bồng...”.
Lời hứa trở về ấy mãi không thành hiện thực khi ngày 14/3/1988 quân Trung Quốc cho quân xâm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam, anh cùng đồng đội đã anh dũng chiến đấu đánh đuổi quân xâm lược và hy sinh, gửi lại phần máu thịt của mình nơi chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam..




KIM ĐỒNG – TÊN ANH LỪNG LẪY CHIẾN KHU


Hờn căm bao lũ tham tàn phát xít
Dấn bước ra đi Kim Đồng lên chiến khu
Kim Đồng, quê hương Việt Bắc xa mù
Kim Đồng, thay cha rửa mối quốc thù
Anh Kim Đồng ơi! Anh Kim Đồng ơi!
Tuy anh xa rồi, tuy anh xa rồi
Gương anh sáng ngời, gương anh sáng ngời
Đội ta cố noi.
Bao phen giao thông trong rừng
Gian lao nguy nan muôn trùng
Xung phong theo gương anh hùng
Đùng đùng đùng đoàng đoàng đoàng
Anh vẫn đi.
Anh luôn luôn tiến quyết tiến
Đi theo dò quân xâm lăng
Anh xông pha chốn khắp chốn
Đi tuyên truyền trong nhân dân
Kim Đồng – Tên anh muôn thuở không mờ.
Kim Đồng – Tên anh lừng lẫy chiến khu.
Kim Đồng, anh tên thật là Nông Văn Dền, sinh năm 1928, là một người dân tộc Nùng tại tỉnh Cao Bằng. Tuy là người dân tộc thiểu số, nhưng được sinh ra trong cái nôi Cách mạng nên anh sớm đã giác ngộ lý tưởng Cách mạng và trở thành đội trưởng đội Nhi đồng cứu quốc. Tuy còn nhỏ nhưng Kim Đồng đã nhận thức rõ được nhiệm vụ của Cách mạng và khuyến khích, vận động các bạn khác đi theo hoạt động và làm liên lạc cho Việt Minh.
Năm 1943, khi đó, Kim Đồng mới mười lăm tuổi, trong một lần làm nhiệm vụ canh gác, anh đã anh dũng hi sinh khi bảo vệ các đồng chí lãnh đạo rút lui về chiến khu an toàn. Anh hi sinh khi tuổi đời còn rất nhỏ, và sự hi sinh của anh đã trở thành tấm gương sáng chói để lớp thiếu niên thế hệ sau noi theo.
Ở Kim Đồng, chúng ta học được sự thông minh, nhanh nhẹn, lòng dũng cảm và lòng yêu nước sâu sắc. Vâng lời Bác Hồ đã dặn, thiếu niên chúng ta phải luôn biết "yêu Tổ quốc, yêu đồng bào". Từ tấm gương anh hùng Kim Đồng, chúng ta được truyền thêm nguồn cảm hứng để thực hiện được điều đó. Mỗi người thiếu niên chúng ta cần phải rèn luyện đạo đức, tác phong của mình, học tập thật chăm chỉ, tham gia các lớp ngoại khóa về chủ quyền dân tộc cũng như tuyên truyền để bảo vệ đất nước của mình. Kim Đồng cũng đã truyền cho tôi động lực và ước mơ được trở thành một người lính cầm súng bảo vệ quê hương mình. Chính anh là người đã khơi lên tình yêu nước trong tôi và lòng quyết tâm thực hiện ước mơ của mình để góp phần giữ gìn Tổ quốc như anh đã từng làm.
Chắc hẳn, không chỉ tôi mà toàn bộ người dân Việt Nam đều khâm phục lòng yêu nước vô cùng của Kim Đồng. Anh sẽ mãi mãi là tượng đài bất hủ của thiếu niên chúng ta về lòng yêu nước và sự can đảm, lòng dũng cảm của mình.
Sưu tầm
Có thể là hình minh họa về 2 người và mọi người đang đứng
1
1 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Sự thật không thể xuyên tạc

 


 

Thời gian gần đây tiếp tục xuất hiện những thông tin sai lệch, tiêu cực, những đánh giá phiến diện về tình hình hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam. Thực tế đó càng cần thiết phải lên tiếng bảo vệ sự thật, bảo vệ lẽ phải, tái khẳng định chính sách đúng đắn cũng như những thành tựu mà đất nước ta đã đạt được trong việc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.