Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2024

Xây dựng về chính trị - điều tất yếu với mọi quân đội

 Chính trị, với nghĩa phổ thông nhất là toàn bộ những hoạt động liên quan đến mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các tầng lớp xã hội, mà cốt lõi của chính trị là vấn đề giành và giữ chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước. Chính trị của quân đội là chính trị của giai cấp, nhà nước tổ chức và nuôi dưỡng quân đội. Nói đến chính trị của quân đội là nói đến bản chất giai cấp của đội quân đó. Không có loại hình quân đội “phi giai cấp”, “phi chính trị”, hay “trung lập về chính trị”; bởi, quân đội là sản phẩm của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, là công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước để chiến đấu, bảo vệ thành quả mà lực lượng chính trị cầm quyền có được qua các cuộc đấu tranh giành quyền lực, nên quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức ra và nuôi dưỡng nó. Cả lý luận và thực tiễn lịch sử cũng như hiện tại đều khẳng định điều đó.

Tọa đàm khoa học “Xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam tinh nhuệ về chính trị trong tình hình mới” tại Quân khu 1Ảnh: qdnd.vn

Xây dựng quân đội về chính trị là xây dựng các mối quan hệ xã hội của quân đội, mà cốt lõi là xây dựng bản chất giai cấp của quân đội. Với tư cách là một bộ phận của nhà nước, quân đội của bất cứ thể chế chính trị nào cũng đều phụ thuộc vào đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền và chiến đấu, phục vụ cho mục tiêu chính trị của thế lực cầm quyền. Mặt khác, các lực lượng chính trị cầm quyền bao giờ cũng tìm mọi cách để nắm quân đội thông qua các biện pháp về chính trị, tư tưởng, tổ chức và chính sách; trong đó, xây dựng quân đội về chính trị luôn là điều tất yếu đối với mọi quân đội, nhằm bảo đảm cho quân đội luôn là lực lượng tuyệt đối trung thành với mình. Điểm khác biệt chỉ ở chỗ: vấn đề xây dựng quân đội về chính trị được đặt ở vị trí nào trong so sánh với vấn đề xây dựng quân đội về vũ khí, trang bị. Đối với quân đội của thể chế chính trị tư sản, dưới sự chi phối của tư duy “vũ khí luận”, vấn đề xây dựng quân đội về vũ khí, trang bị luôn được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, họ vẫn quan tâm đến xây dựng quân đội về chính trị thông qua các biện pháp về giáo dục tư tưởng, công tác tổ chức và chính sách, nhất là việc giáo dục mục tiêu chiến đấu cho binh sĩ và thực hiện đường lối giai cấp trong xây dựng đội ngũ sĩ quan.

Còn đối với quân đội của thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa, vấn đề xây dựng quân đội về chính trị lại được đặt lên hàng đầu, được xác định là cơ sở nền tảng để xây dựng quân đội; bởi lẽ, trong khi không bao giờ xem nhẹ vai trò của vũ khí, trang bị, những người cộng sản luôn coi con người là yếu tố quyết định. V.I. Lênin đã khẳng định: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường. Lòng tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa, sự giác ngộ rằng cần phải hy sinh đời mình cho hạnh phúc của người anh em, là yếu tố nâng cao tinh thần của binh sĩ và làm cho họ chịu đựng được những khó khăn chưa từng thấy”2. Với tinh thần đó, V.I. Lênin đã coi việc xây dựng vững mạnh về chính trị là một nguyên lý căn bản trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân. Người thẳng thừng phê phán sự che giấu bản chất chính trị, giai cấp của quân đội tư sản, rằng: “Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”3. Công khai bản chất giai cấp của quân đội kiểu mới, Người đã đề ra và tổ chức thực hiện nguyên tắc Hồng quân phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và coi đó là nguyên tắc quan trọng nhất, nhằm đảm bảo cho quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với giai cấp công nhân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.

Để xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, V.I. Lênin yêu cầu phải thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội; thực hiện chế độ công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội; thành lập cơ quan chính trị các cấp và thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong quân đội. Người nhấn mạnh: “Không có chính ủy thì chúng ta không có Hồng quân” và “… ở đâu kỷ luật giữ được vững nhất, ở đâu mà công tác chính trị trong quân đội, công tác của các chính ủy làm được chu đáo nhất… ở đấy không hề có tình trạng lỏng lẻo trong quân đội, quân đội giữ gìn được trật tự tốt hơn, và tinh thần của họ cũng cao hơn; ở đấy thu được nhiều thắng lợi hơn”4. Những tư tưởng đó của V.I. Lênin là kim chỉ nam cho hoạt động xây dựng quân đội của các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa trước đây cũng như hiện nay. Xa rời những nguyên tắc cơ bản đó, quân đội sẽ không còn là đội quân cách mạng của giai cấp công nhân, không còn là công cụ bạo lực vũ trang tin cậy của Đảng Cộng sản trong đấu tranh bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn đã cho thấy, sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991 đã để lại bài học vô cùng đắt giá về vấn đề xây dựng quân đội về chính trị. Do từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội, từ bỏ những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, quân đội Liên Xô trong thời gian này đã mất phương hướng chính trị, không bảo vệ được chế độ và nhà nước xã hội chủ nghĩa, mặc dù quân số còn rất đông và được trang bị hiện đại.

Về xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng trong tình hình mới

 Không gian mạng là môi trường chiến lược, “vùng lãnh thổ đặc biệt” của Tổ quốc. Bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp; trong đó, xây dựng “thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng” vững chắc là nội dung căn cốt, nền tảng.

Thế giới đang trong thời kỳ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển nhảy vọt của công nghệ, hình thành nên kỷ nguyên số; trong đó, mọi yếu tố đều có thể được số hóa, lưu trữ, trao đổi trên môi trường không gian mạng. Trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, không gian mạng đã trở thành môi trường tác chiến thứ sáu, bên cạnh môi trường tác chiến trên bộ, trên không, trên biển, trong vũ trụ và trường điện từ; các cuộc tấn công mạng có chiều hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng và quy mô ảnh hưởng, gây ra những hậu quả, thiệt hại nặng nề cho chủ thể bị tấn công.

Chiến tranh không gian mạng là hoạt động tấn công mạng do một hay một số quốc gia, vùng lãnh thổ tiến hành nhằm vào quốc gia, vùng lãnh thổ khác, gây tổn hại các hệ thống, quy trình và nguồn tài nguyên thông tin cũng như các kết cấu hạ tầng quan trọng khác; phá hoại hệ thống chính trị, kinh tế - xã hội, tác động đến tâm lý của người dân nhằm tạo lợi thế về quân sự, chính trị, kinh tế, xâm phạm độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia. Đặc điểm của chiến tranh mạng là không bị giới hạn bởi không gian, thời gian. Các cuộc tấn công mạng có thể được thực hiện từ bất kỳ vùng lãnh thổ nào trên thế giới có kết nối mạng toàn cầu, trong bất kỳ thời gian nào, bất kể ngày hay đêm, gây khó khăn trong việc xác định nguồn gốc của cuộc tấn công và truy cứu trách nhiệm của thủ phạm. Các cuộc tấn công mạng thường được chuẩn bị, thử nghiệm trong môi trường mạng đóng nên hết sức bí mật và khó phát hiện trước; khi phát động tấn công thì bất ngờ, đồng loạt, khiến các mục tiêu bị nhắm đến khó có thể ứng phó kịp thời; bên tấn công thường sử dụng các kỹ thuật tinh vi để ẩn danh và che giấu dấu vết của mình.

Thực tế những năm qua, các cuộc tấn công mạng đã diễn ra với nhiều cấp độ, quy mô, mục đích khác nhau, tần suất ngày một gia tăng và đang hiện hữu, trở thành một mối đe dọa lớn đối với mọi quốc gia. Mặt khác, môi trường tác chiến này cũng được nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển về công nghệ sử dụng để trinh sát, thu thập các thông tin quan trọng về chiến lược kinh tế, quân sự, quốc phòng; chiếm quyền kiểm soát, phá hủy, làm tê liệt hệ thống thông tin, hoạt động kinh tế, quân sự, quốc phòng, an ninh; tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, xã hội; tác động đến tâm lý, nhận thức của người dân,... nước bị tấn công; đồng thời, hỗ trợ, phối hợp, hiệp đồng với các hoạt động quân sự truyền thống đạt được mục tiêu nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Đối với nước ta, để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ tác chiến không gian mạng, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của Tổ quốc trên tất cả các môi trường, bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước thì xây dựng “thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng” là một nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, cần được nghiên cứu, triển khai đồng bộ, hiệu quả.

Có thể hiểu, thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng là thế bố trí lực lượng, vũ khí trang bị tác chiến trên không gian mạng quốc gia Việt Nam; kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng, hình thành thế trận quốc phòng - an ninh trên không gian mạng an toàn, vững chắc. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng phải dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ hiện đại; trong đó, huy động tối đa tiềm lực về khoa học và công nghệ của quốc gia phục vụ cho các hoạt động tác chiến không gian mạng nhằm đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài.

Trong thời bình, tác chiến trên không gian mạng có nhiệm vụ bảo vệ an toàn hệ thống thông tin chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước, hệ thống thông tin quân sự, quốc phòng và các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia; đấu tranh ngăn chặn các hoạt động sử dụng không gian mạng thực hiện “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ và sẵn sàng đối phó với các tình huống tấn công mạng. Vì vậy, ngay từ thời bình, cần xây dựng một thế trận, cơ sở hạ tầng vững chắc để tạo thế chủ động trước các cuộc chiến tranh mạng trong tương lai. Cần bố trí lực lượng, thế trận rộng khắp, bao gồm các yếu tố cơ sở hạ tầng, vũ khí mạng, lực lượng chuyên trách, lực lượng “dân quân mạng” rộng khắp, tạo thế chủ động có thể phòng thủ, tấn công mọi lúc, mọi nơi. Tạo những điểm giả (honeypot) thu hút nguồn lực của đối phương để hạn chế tổn hại khi bị tấn công mạng; đồng thời, tạo thế cho lực lượng tác chiến không gian mạng tấn công đối phương trên mọi phương diện. Có kế hoạch phối hợp tác chiến với các lực lượng trên lĩnh vực công nghệ thông tin, lực lượng 47, Ban Chỉ đạo 35 của các bộ, ban, ngành, các doanh nghiệp, công ty công nghệ thông tin, học sinh, sinh viên của các nhà trường, tiềm năng công nghệ,… nhằm tạo thế trận rộng khắp, thu hút, phân tán khả năng tấn công mạng của đối phương vào những mục tiêu cơ sở hạ tầng mạng trọng yếu.

Về trang thiết bị, hạ tầng, cần tập trung xây dựng hệ thống phòng thủ mạng, hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống cung cấp điện năng độc lập,… phục vụ cho nhiệm vụ tác chiến không gian mạng. Tăng cường các giải pháp bảo vệ cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia, trọng tâm là hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật về an ninh mạng.

Để thực hiện tốt những mục tiêu, yêu cầu trên, xây “thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng” vững chắc, cần đẩy mạnh nghiên cứu, đề xuất và triển khai đồng bộ những nội dung, giải pháp cơ bản sau:

1. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức và kỹ năng an toàn, an ninh mạng. Đây là nội dung, giải pháp cơ bản, nền tảng, nhằm trang bị cho toàn dân, mọi thành phần, lực lượng có kiến thức và kỹ năng về an toàn, an ninh mạng. Theo đó, tập trung tuyên truyền sâu rộng các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về bảo vệ Tổ quốc, trọng tâm là Nghị quyết số 44/NQ-TƯ của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Luật An ninh mạng; Luật An toàn thông tin mạng; Quyết định số 964/QĐ-TTg, ngày 10/8/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược an toàn, an ninh mạng quốc gia, chủ động ứng phó với các thách thức từ không gian mạng đến năm 2025, tầm nhìn 2030; trong đó, tầm nhìn đến năm 2030 trở thành quốc gia tự chủ về an toàn, an ninh mạng để bảo vệ sự thịnh vượng của Việt Nam trên không gian mạng, v.v. Qua đó, nâng cao ý thức, trách nhiệm, kỹ năng an toàn, an ninh mạng của các cấp, ngành, lực lượng và toàn dân trong bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; tạo sức mạnh tổng hợp, đủ khả năng chủ động ứng phó với các thách thức từ không gian mạng.

2. Tạo lập thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Để thực hiện giải pháp này, Bộ Quốc phòng tập trung xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật về lĩnh vực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Phối hợp với Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông và các bộ, cơ quan liên quan chủ động, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các nguy cơ mất an toàn, an ninh mạng nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, phòng, chống chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng. Tổ chức lực lượng bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng cho các hệ thống thông tin của cơ quan Đảng, Nhà nước, hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, hệ thống thông tin quân sự. Đồng thời, tham mưu, đề xuất xây dựng các hệ thống kỹ thuật nghiệp vụ, triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động của các thế lực thù địch sử dụng không gian mạng xâm phạm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Có chế tài, chính sách huy động các đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân thực thi trách nhiệm và sứ mệnh bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, phòng, chống chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng.

Bộ Công an xây dựng cơ chế, thiết lập đường dây nóng, hệ thống tiếp nhận, xử lý thông tin về tội phạm mạng để quần chúng nhân dân phản ánh kịp thời tới cơ quan chức năng về các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng. Đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp xây dựng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” phù hợp với thời đại số; chủ động nghiên cứu, hình thành mô hình toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trên không gian mạng; xây dựng hệ thống cảnh báo sớm quốc gia để kịp thời phát hiện, điều phối, ứng cứu sự cố an ninh mạng; thu thập, chia sẻ thông tin về an ninh mạng giữa Nhà nước và doanh nghiệp, trong nước và ngoài nước; xây dựng, hình thành nền tảng điều hành, giám sát an ninh mạng thống nhất.

Bộ Thông tin và Truyền thông thúc đẩy phát triển ứng dụng Internet an toàn nhằm bảo vệ người dân trên môi trường mạng; phát triển ứng dụng tuyên truyền (app), nâng cao nhận thức và phổ biến kiến thức về an toàn thông tin cho người sử dụng; phát triển nền tảng hỗ trợ bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng; hướng dẫn tổ chức, cá nhân thay đổi thói quen, hành vi trên môi trường mạng theo các chuẩn mực an toàn.

3. Phát huy sức mạnh của thế trận quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân trong củng cố, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng khi có chiến tranh mạng xảy ra. Khi có chiến tranh mạng xảy ra, cùng với lực lượng Quân đội, Công an là nòng cốt, cần huy động nguồn lực của các tổ chức, cá nhân, chuyên gia về lĩnh vực an toàn thông tin, an ninh mạng bên ngoài nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp. Bên cạnh đó, huy động các phương tiện vật chất kỹ thuật, năng lực sửa chữa, sản xuất công nghiệp của nền kinh tế quốc dân và lực lượng cán bộ, nhân viên công nghệ thông tin trong diện dự bị động viên để phục vụ cho công tác bảo đảm trang bị, bảo đảm công nghệ thông tin quân sự khi có lệnh động viên của Nhà nước. Quá trình đó, cần triển khai các kế hoạch tác chiến mạng đã được xây dựng từ thời bình, triệt để tận dụng hệ thống công nghệ thông tin, thiết bị chiến trường đã được chuẩn bị từ trước; trên cơ sở đó, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện tác chiến thực tế. Trong điều kiện chiến tranh hiện đại, địch sử dụng vũ khí công nghệ cao, việc cơ động triển khai, bố trí lực lượng cần vận dụng các hình thức, biện pháp một cách linh hoạt, sáng tạo, bảo đảm bí mật, an toàn, hạn chế thấp nhất tổn thất do hỏa lực địch gây ra.

Thực hiện động viên quốc phòng theo thẩm quyền, trách nhiệm, trình tự, thủ tục; huy động nhân lực bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng theo quy định. Huy động mọi nguồn lực của đất nước hoặc một số địa phương cho nhiệm vụ quốc phòng, tạo sức mạnh tổng hợp, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

Một số vấn đề về nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình trên không gian mạng

 Không gian mạng là “môi trường đặc biệt”, nơi kết nối, chia sẻ thông tin toàn cầu, mang lại lợi ích, mặt tích cực trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng cũng có nhiều mối nguy hại đan xen. Việc người dùng có thể tự do đăng tải, chia sẻ thông tin không giới hạn lên không gian mạng khiến nơi đây đã, đang trở thành mảnh đất “màu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng, tuyên truyền chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Vì vậy, nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng cần được đẩy mạnh cả về lý luận và thực tiễn.

Thực chất chiến lược “Diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh ở Việt Nam là nhằm phá hoại Đảng, Nhà nước, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở nước ta. Đó là tổng hợp các hoạt động nhằm lôi kéo, dẫn dắt tư tưởng, hành động của quần chúng nhân dân, nhất là lớp trẻ; làm cho họ chạy theo những ham muốn tầm thường, xa rời lý tưởng cách mạng và bị sai khiến; làm cho nội bộ ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Và một trong những thủ đoạn mà chúng thường sử dụng là lợi dụng không gian mạng để đăng tải các bài viết, hình ảnh, video,... mang nội dung xuyên tạc, kích động có chủ đích.

Thực tế cho thấy, những năm gần đây, các bài viết tuyên truyền, chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam trên không gian mạng rất nhiều. Theo thống kê của Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương, trong 06 tháng đầu năm 2023, mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết tiêu cực, xuyên tạc, bịa đặt trên không gian mạng, thu hút hàng chục triệu lượt bình luận, chia sẻ với tỷ lệ bình luận tiêu cực rất cao. Khi tìm kiếm trên mạng những vấn đề nóng, nhạy cảm đang được xã hội quan tâm sẽ cho hàng triệu kết quả. Trong đó, trên 05 trang đầu tiên luôn có hàng chục bài viết tiêu cực từ các trang mạng VOA, BBC, RFA, RFI, Báo Tiếng dân, v.v. Các bài tiêu cực tồn tại rất nhiều trên các website, YouTube, Facebook, Instagram,… do được đăng tải từ nhiều tài khoản; đăng tải nhắc lại không hạn chế ở các thời điểm khác nhau; nội dung chống phá rất linh hoạt, tiếp cận từ nhiều góc độ, không cần tiêu đề rõ ràng, mang tính ám chỉ việc xấu, hoặc chỉ nêu những bất bình trong cuộc sống…; từ đó, đặt câu hỏi, khêu gợi tư tưởng tiêu cực cho người đọc, người nghe, nên tốc độ phát tán và tương tác rất cao.

Nhận thức rõ điều đó, những năm qua, Đảng, Nhà nước đã triển khai nhiều giải pháp nhằm ngăn chặn thông tin xấu độc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống diễn biến hòa bình trên các loại hình thông tin, truyền thông, nhất là môi trường mạng; tạo nên phong trào sôi nổi, thu hút nhiều đối tượng tham gia và đạt hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, quá trình đấu tranh vẫn còn những tồn tại, bất cập: (1). Số lượng cơ quan truyền thông, báo, tạp chí có chuyên mục đấu tranh chuyên biệt chưa nhiều, chủ yếu nằm trong lực lượng vũ trang; (2). Lượng tương tác bình luận, chia sẻ đối với các bài này còn thấp, chỉ đạt từ 2% - 4%; (3). Chưa có nhiều ‘kênh” đăng tải, chủ yếu là các bài viết dạng văn bản trên web, Facebook, khá ít trên YouTube; các trang Fanpage của các đơn vị cũng chỉ thu hút tương tác chủ yếu đối với tài khoản của nhóm bạn có cùng sở thích, nặng tính nội bộ, giáo dục lẫn nhau,... nên hiệu quả còn hạn chế. Vì vậy, để góp phần nâng cao chất lượng đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình trên không gian mạng, bài viết xin đề xuất một số giải pháp cơ bản sau:

Một làxây dựng đồng bộ lực lượng quản trị, viết bài và tổ chức đấu tranh thường xuyên, liên tục. Đấu tranh chống diễn biến hòa bình là hoạt động tổng hợp, diễn ra trên mọi lĩnh vực, nên cần tìm kiếm, xây dựng mạng lưới cộng tác viên đa dạng, nhất là đối với lĩnh vực có nhiều hoạt động chống phá. Đối tượng lựa chọn phải được đặt lên hàng đầu tiêu chuẩn về chính trị; đủ năng lực khai thác thông tin, viết bài đấu tranh trên nhiều lĩnh vực. Trong đó, chú trọng xây dựng lực lượng nòng cốt là các nhà khoa học, nhà báo có năng lực tiếp cận, viết bài nhanh bất kỳ vấn đề gì mà ban chỉ đạo đặt ra. Tập trung xây dựng các ban chỉ đạo đấu tranh vững mạnh, có khả năng dự báo tình hình, năng lực tổ chức, chỉ huy; thường xuyên được tập huấn, bồi dưỡng các kỹ năng chỉ đạo, phối hợp đấu tranh, sử dụng mạng,… để chỉ huy, chỉ đạo toàn lực lượng thực thi nhiệm vụ. Trong quá trình thực hiện, cần kịp thời chỉ đạo: vấn đề nào cần đấu tranh trực diện; vấn đề nào tái khẳng định, bảo vệ; cách ứng xử những vấn đề nhạy cảm. Xác định: thành phần, lực lượng đảm nhiệm; phân phối nhiệm vụ; phương pháp điều hành thống nhất theo các tuyến; quy định bảo mật thông tin; bảo vệ lực lượng đấu tranh. Đồng thời, cần tổ chức một trục đấu tranh thống nhất trong toàn quốc gắn với phân công cụ thể hoạt động riêng của từng đơn vị, không để ngắt quãng, trầm lắng.

Hai làquy chuẩn về kỹ thuật các bài viết đấu tranh chống diễn biến hòa bình khi đăng tải trên mạng. Chúng ta đều biết, internet là kho thông tin khổng lồ, cho phép tương tác, tìm kiếm, chia sẻ thông tin, có sức hấp dẫn đặc biệt đối với người sử dụng. Để xử lý lượng thông tin đó, các công ty dịch vụ mạng như Google, Bing, ALO, Assk.com, Yahoo,... xây dựng bộ quy tắc SEO ( Search Engine Optimization - tối ưu hóa các công cụ tìm kiếm) để tăng hiệu năng tìm kiếm, chia sẻ thông tin. Vì vậy, muốn tăng hiệu quả tìm kiếm, tương tác, các bài viết cần đạt chuẩn SEO. Trong đó, tiêu đề dùng chữ thường, không nên quá 70 ký tự; chapo dưới 150 ký tự; hình ảnh có chất lượng tốt, không vi phạm bản quyền, chứa logo đơn vị phát hành, chú thích ảnh phải phụ trợ chủ đề bài viết; nội dung phân đoạn rõ ràng, có tiêu đề phụ theo phân cấp, không dài quá 250 ký tự, liên quan tiêu đề bài viết, v.v. Đặc biệt, việc nghiên cứu, lựa chọn từ khóa phù hợp với thị hiếu người dùng rất quan trọng; mật độ từ khóa trong bài càng cao thì hiệu lực tìm kiếm càng tốt; từ khóa cần có mặt trong tiêu đề chính, chapo, tiêu đề phụ, trong nội dung bài và cả chú thích ảnh. Ngoài ra, cần tạo các đường liên kết để giải thích nội hàm từ ngữ, vấn đề được trình bày cô đọng; liên kết với các bài liên quan để người dùng dễ dàng truy cập.

Bên cạnh đó, khi xây dựng trang web, đăng tải bài viết nên dùng trang có tên miền ngắn gọn; ưu tiên tên miền quốc tế (cấp 1) có đuôi .com, .net, .info, .gov…; sau đó đến tên miền quốc gia (cấp 2) có đuôi .vn, .au, .uk…; hạn chế tên miền có đuôi .edu.vn, .gov.vn, .edu.uk (cấp 3). Thực tế, trang huongsenviet.com, nhanvanviet.com,… có tên miền quốc tế nên dễ dàng tìm kiếm; các trang blogspot.com có tên miền cấp 3 nên khó tìm kiếm nội dung. Các tài khoản Facebook dùng cho đấu tranh cần đầy đủ ảnh đại diện, danh tính và các thông tin theo yêu cầu của nhà mạng; nếu ẩn danh, thiếu thông tin sẽ khó kết bạn, tham gia nhóm; bị nghi ngờ là tài khoản rác,... sẽ hạn chế tương tác, rất khó tiếp cận công chúng.

Ba làxây dựng hệ thống bài viết, chương trình đấu tranh theo từng lớp sự kiện, không để ngắt quãng, trầm lắng. Cái khó của bài viết đấu tranh là lựa chọn chủ đề phù hợp, có luận cứ, luận chứng rõ ràng, không nói nước đôi, tránh “tuyên truyền hộ địch”,... nên số lượng bài thường hạn chế. Ngoài ra, có một số bài viết hay, sức thuyết phục cao, nhưng lại đăng ở báo, tạp chí có mức độ ảnh hưởng thấp, hạn chế sức mạnh đấu tranh và lan tỏa. Để khắc phục, nên chia làm 03 tuyến bài; tuyến 1 có chất lượng cao của các nhà khoa học; đó là các bài đấu tranh toàn diện, khoa học về vấn đề địch chống phá. Tập trung lý luận chuyên sâu, phản ánh và giải thích thực trạng; thống nhất quan điểm, cách hiểu vấn đề, sự việc; hướng người đọc tiếp cận vấn đề theo hướng tích cực; từ đó, củng cố lập trường, quan điểm, tư tưởng, phản bác, đấu tranh trực diện quan điểm sai. Tuyến 2 là các bài nhỏ, ngắn khoảng 800 – 1.000 từ, đấu tranh trực diện trên từng mặt hoạt động, vấn đề nhánh; tác nghiệp nhanh. Bài tuyến 3 là những nhận xét, hình ảnh, đoạn video ngắn, tập trung lan tỏa gương người tốt, hoạt động nhân văn, cách làm sáng tạo vì cộng đồng, có nội dung phản biện lại luận điểm của địch; loại này dễ làm, sản xuất nhanh trên thiết bị di động, nhất là có lực lượng tham gia đông, không cần chuyên môn sâu. Các bài tuyến 1, 2 cố gắng tuân thủ chuẩn SEO, bài tuyến 3 không cần chuẩn SEO, nhưng bảo đảm linh hoạt, nhanh nhất. Đồng thời, căn cứ sự kiện lịch sử, kế hoạch hoạt động của Đảng, Nhà nước trong năm, cơ quan quản lý, cơ quan báo chí cần dự báo sự chống phá, xây dựng kế hoạch đấu tranh, đặt bài, đăng tải phù hợp. Bài tuyến 1 chủ yếu do các nhà khoa học, nghiên cứu, lực lượng quản trị đấu tranh, các nhà báo lớn thực hiện; bài tuyến 2, 3 do các cơ quan, đơn vị huy động mọi lực lượng, tiềm năng có thể. Bên cạnh đó, cần phân cấp, phân quyền quản lý, hỗ trợ từng mức độ bài viết; cho phép tác giả tự do gửi bài đến mọi ban biên tập trang web; chỉ đạo phát triển các bài giá trị, vấn đề quan trọng đã phản ánh ở tuyến dưới lên trên; đăng tải trên các báo, tạp chí phù hợp, ngang tầm. Đặc biệt, sản xuất video đấu tranh hiện nay gặp khó khăn về chi phí, thời gian, nhân công; kịch bản hạn chế; khó tìm hình ảnh sống; phát biểu dễ va chạm,... nên cần có cơ chế tốt hơn cho loại hình đấu tranh này.

Bốn làtăng cường số lượng bài viết, mật độ đăng tải để nâng cao hiệu quả đấu tranh. Chúng ta có nhiều bài viết sâu sắc, chất lượng cao, là sản phẩm trí tuệ của nhiều nhà báo, nhà khoa học, cộng tác viên có tâm với sự nghiệp cách mạng; nếu không lan tỏa đến đông đảo bạn đọc sẽ rất lãng phí. Do đó, các cơ quan báo chí, nhất là báo chí chủ lực cần duy trì tốt chuyên mục bình luận, phê phán để đăng tải các bài viết tuyến 1. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cần phân công các báo, tạp chí có độ tương tác cao tái đăng tải bài tuyến 1 trong các chuyên mục phù hợp. Các đơn vị tham gia đấu tranh tự nâng cấp trang web thành tên miền cấp 1, 2 để đăng tải bài do cán bộ, nhân viên nội bộ tự viết; được phép đăng lại các bài tuyến 1, 2 của đơn vị bạn dưới dạng trích nguồn. Bài tuyến 3 nên đăng trên mạng xã hội Facebook, Instagram, Tiktok, Telegram, v.v. Sự tương tác, bình luận đối với các bài tuyến 3 sẽ rất lớn, lớn nhất trong 3 tuyến bài, gồm phản biện cả đồng thuận lẫn trái chiều. Quan điểm của cộng đồng mạng là cơ sở để chúng ta xác định thêm chủ đề đấu tranh, lựa chọn vấn đề cần nâng cấp lên các bài tuyến 1, 2. Bên cạnh đó, đặc thù chống phá của các thế lực thù địch là lặp lại cùng một vấn đề ở nhiều thời gian khác nhau nên cùng với những bài đấu tranh mới, cần cho phép tái đăng tải lại những bài cũ để làm dầy mật độ đấu tranh, giúp người đọc có cái nhìn tổng quát hơn một vấn đề không mới nhưng đang đặt ra ở thời điểm hiện tại.

Cùng với các giải pháp trên, cần có chế tài quản lý, xử lý nghiêm việc đăng tin sai sự thật, tung tin thất thiệt, xuyên tạc, bôi nhọ; đồng thời, đẩy mạnh các giải pháp kỹ thuật để theo dõi, thống kê, đánh giá tình hình, theo vết các tài khoản chứa nhiều thông tin xấu, độc; tổ chức ngăn chặn, giảm tốc độ truy cập; hoặc phối hợp bóc gỡ để làm sạch môi trường mạng, hỗ trợ thông tin trung thực, chính thống; định hướng tư tưởng quần chúng nhân dân vững tin vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta.

Việt Nam không chọn bên, mà chọn chính nghĩa, lẽ phải, hòa bình và phát triển

 Thứ nhất, trong lịch sử cách mạng và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Việt Nam nhất quán không “chọn bên”.

Có thể khẳng định, đường lối đối ngoại xuyên suốt, nhất quán của Đảng ta là độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và rộng mở đó luôn kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, “dĩ bất biến ứng vạn biến”, không phụ thuộc vào bất cứ quốc gia nào khác.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ được kết tinh từ trong lịch sử, thể hiện ý chí tự cường của một dân tộc nhỏ trước các thế lực ngoại xâm hùng mạnh. Tinh thần độc lập, tự chủ thể hiện trong những văn kiện đầu tiên của Đảng giai đoạn tổng khởi nghĩa giành chính quyền với tinh thần “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp từ ngoài vào”(1). Tư tưởng độc lập, tự chủ đã trở thành “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt và định hình các hoạt động đối ngoại của Việt Nam, được phát huy cao độ trong quá trình đấu tranh cách mạng, góp phần đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta đi đến thắng lợi cuối cùng. Với đại thắng mùa Xuân năm 1975, đường lối ngoại giao độc lập, tự chủ của Việt Nam đã đạt tới đỉnh cao, mở ra một thời kỳ mới trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong suốt chiều dài lịch sử, trước những biến đổi của thời đại, sự chênh lệch tương quan lực lượng giữa Việt Nam và các nước khác, nhưng Việt Nam đã bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc của mình chính là nhờ kiên trì theo đuổi mục tiêu và nguyên tắc độc lập, tự chủ. Những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, tình hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều biến động, chủ nghĩa xã hội trên thế giới lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Trước các biến cố chao đảo của thời cuộc, giữa những dao động, ngả nghiêng của lòng người, của niềm tin về tương lai của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, Việt Nam vẫn vững vàng, kiên tâm trên con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn; trên cơ sở đánh giá lại cục diện thế giới để xác định đường lối, chính sách đối ngoại trong tình hình mới, giữ vững độc lập, tự chủ, đưa đất nước đi lên.

Trong thời kỳ Đổi mới, vận dụng sáng tạo quan điểm độc lập, tự chủ, Việt Nam đã thực hiện chính sách đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại, tránh phụ thuộc vào bất cứ nước lớn hay nhóm nước nào. Qua các kỳ Đại hội, đường lối đối ngoại đã được bổ sung và hoàn chỉnh. Từ chỗ “Việt Nam muốn là bạn”, đến “Việt Nam sẵn sàng làm bạn”, và hiện nay “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, nhất quán, có tầm quan trọng xuyên suốt, mang ý nghĩa sống của Việt Nam trên con đường đổi mới.

Xuyên suốt lịch sử cách mạng đấu tranh cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Việt Nam luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, không tham gia liên minh quân sự với cường quốc, không đứng về bên nọ để chống bên kia. Quan điểm xuyên suốt của Việt Nam là độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính, phát huy nội lực, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế, thực hiện chính sách đối ngoại vì hòa bình, tự vệ, chính nghĩa, nhân văn, nhân đạo, để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Những gì thuộc về chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc là thiêng liêng và tối cao, bất khả xâm phạm. Đây là vấn đề bất biến, cốt lõi, chính yếu, thường trực, không thể đánh đổi hay nhân nhượng, không thể để nước ngoài thao túng, quyết định vận mệnh của đất nước. Điều này được Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nhất quán từ trước đến nay theo nguyên tắc “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”. 

Trong những thời kỳ lịch sử cách mạng, Việt Nam có lúc bị kẹt giữa những toan tính của các nước lớn, song chúng ta vẫn vượt qua được những thách thức hiểm nghèo, bảo toàn được thành quả cách mạng. Trong giai đoạn hiện nay, khi cạnh tranh giữa các nước lớn có nguy cơ chia rẽ thế giới theo những lằn ranh mới, quyết liệt và sâu sắc hơn, tác động trực tiếp và nhiều chiều đến quan hệ quốc tế, Việt Nam vẫn kiên vững chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, không ngả theo bên nọ để chống bên kia. Hiếm có quốc gia nào có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều nước lớn như Việt Nam(2); và có quan hệ ngoại giao với 192 trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc; là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng. Việt Nam đã gắn kết và đan xen lợi ích với nhiều quốc gia trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng và an ninh. Quan hệ của Việt Nam với các nước, nhất là các nước lớn, ngày càng đi vào chiều sâu, ổn định. Việt Nam chủ động thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác; tích cực hội nhập quốc tế ngày một toàn diện, sâu rộng Trong bối cảnh thế giới và khu vực đan xen nhiều thách thức khó lường, Việt Nam phát huy vai trò là một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng góp phần vào duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới. Có được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong gần 40 năm đổi mới là minh chứng cho đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Việt Nam.

Như vậy, quan điểm cho rằng Việt Nam cần dựa vào nước ngoài để gia tăng sức mạnh bảo vệ, phát triển đất nước là không có cơ sở, ảo tưởng, phi thực tế.

Thứ hai, Việt Nam chọn chính nghĩa, lẽ phải, hòa bình và phát triển

Bối cảnh quốc tế hiện nay có nhiều biến động phức tạp, bất lường. Cuộc cạnh tranh giữa các nước lớn trong khu vực và trên thế giới ngày càng quyết liệt trên nhiều lĩnh vực, diễn ra dưới nhiều hình thức, với quy mô, phạm vi ngày càng mở rộng, tính đối kháng ngày càng gay gắt, nội dung ngày càng phức tạp, do đó tính khốc liệt cũng ngày một gia tăng, không gian và thời gian là vô cùng, không có giới hạn, đôi khi mang dáng dấp một cuộc chiến tranh lạnh. Các nước lớn vừa đấu tranh, vừa thỏa hiệp, kéo theo đó là những tập hợp lực lượng mới manh nha, những “sáng kiến” chiến lược được hình thành, những điều ước mà đằng sau đó là những liên minh, liên kết... ra đời, nhiều khi đặt các nước phải thể hiện rõ lập trường, tham gia hay không tham gia, tham gia như thế nào để đạt được lợi ích tối ưu cho đất nước. Thế giới dường như ngày càng có xu hướng phân tuyến rõ ràng. Việt Nam - một quốc gia thành viên ASEAN có vị trí địa - chính trị, địa - kinh tế quan trọng trong khu vực, là đối tượng quan tâm của các nước lớn. Do vậy, trong quan hệ hợp tác với Việt Nam, các nước đều hàm ý muốn lôi kéo Việt Nam tham gia những sáng kiến, tập hợp lực lượng mà họ “dàn xếp”, thông qua “sức mạnh mềm” viện trợ, đầu tư, phát triển... Bối cảnh đó đòi hỏi Việt Nam xác định nguyên tắc, lợi ích và cách ứng xử với các nước trên cơ sở lợi ích chung; lựa chọn đối sách có lợi cho đất nước, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Cần thấy rõ rằng, trong quan hệ quốc tế, hợp tác và đấu tranh là hai mặt song hành; trong quan hệ đối tác - đối tượng có sự đan xen, chuyển hóa. Phương châm này giúp chúng ta tận dụng cơ hội hợp tác; đồng thời, thấy rõ hơn sự khác biệt về lợi ích để tìm các giải pháp đưa quan hệ phát triển, không bỏ lỡ cơ hội hợp tác, nhưng cũng không lơ là, mất cảnh giác. Mục tiêu cơ bản, lâu dài trong nhận thức và vận dụng quan điểm về đối tác, đối tượng của Đảng ta là nhằm tăng cường đoàn kết, mở rộng quan hệ hợp tác, hữu nghị với bè bạn quốc tế, khai thác mặt đối tác, ngăn ngừa, hạn chế, thu hẹp mặt đối tượng. Do vậy, không thể cho rằng, đối tác chỉ là để hợp tác và đối tượng chỉ là để đấu tranh. Với nhận thức mới như vậy, trong môi trường quốc tế ngày càng “phẳng”, sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng sâu sắc, đa chiều..., Việt Nam đẩy mạnh quan hệ đối ngoại, cả song phương và đa phương, với cả những nước có yếu tố đối tượng của chúng ta. Đối với các vấn đề bất đồng, nhất là trong quan hệ với các nước lớn, nước láng giềng, Việt Nam tìm cách xử lý khôn khéo, tránh đối đầu, tránh “chọn bên”, song kiên quyết, kiên trì giữ vững nguyên tắc; đối thoại, hợp tác để xử lý các khác biệt, bất đồng, bảo đảm hài hòa lợi ích, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, với tầm nhìn chiến lược là phục vụ mục tiêu an ninh, hòa bình, phát triển của đất nước. Điều này đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong bài phát biểu tại Hội nghị Quân chính toàn quân ngày 20-12-2022: “Kịp thời nhận diện, xử lý đúng đắn, hài hòa, linh hoạt đối tác, đối tượng quốc phòng, không để bị động, bất ngờ; ngăn ngừa nguy cơ xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, phụ thuộc, không “chọn bên”(3).

Thời gian qua, bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều biến động phức tạp; cuộc cạnh tranh, thậm chí có lúc lên tới mức đối đầu giữa các nước lớn hiện nay đang đặt nhân loại trước những hiểm họa khôn lường, khó dự đoán. “Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn sẽ ngày càng quyết liệt, thậm chí có nguy cơ xung đột, đối đầu, tạo thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước có độ mở của nền kinh tế cao, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh còn hạn chế như nước ta”(4).Trong điều kiện tình hình thế giới vô cùng nhạy cảm, phức tạp hiện nay, Việt Nam kiên trì thực hiện chính sách “bốn không”: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy và đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, là thượng sách để giữ vững hòa bình đất nước, giữ vững chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam đã phát huy sức mạnh “Ngoại giao cây tre”: mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo, nhưng rất bản lĩnh, kiên định, như chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 29 (năm 2016) và tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc năm 2921, góp phần giữ vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong mọi hoàn cảnh và mọi thời điểm. Cứng mà không gãy, đa phương mà không phụ thuộc, “Ngoại giao cây tre Việt Nam” thời gian qua bằng sự uyển chuyển, khéo léo và mềm dẻo trong quan hệ với từng nước, song cũng kiên trì, kiên quyết trong ứng xử những vấn đề thuộc về nguyên tắc “bình đẳng, tôn trọng chủ quyền, quyền và lợi ích chính đáng, giải quyết bất đồng trên tinh thần hữu nghị, tuân thủ triệt để Hiến chương Liên hợp quốc và phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế”, không chỉ khai thông “thế khó” của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn, mà còn tạo ra được mạng lưới lợi ích đan xen, lồng ghép giữa lợi ích quốc gia với lợi ích tổ chức khu vực và quốc tế, nâng cao vị thế đất nước, góp phần bảo vệ và bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tiễn cán bộ, chiến sĩ Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 5 và Đội công binh số 2 lên đường thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan và Abye _Nguồn: vietnamplus.vn

Với truyền thống văn hóa giữ nước hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, hữu nghị, trọng lẽ phải, chính nghĩa, là một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ, gánh vác nhiều trọng trách quốc tế quan trọng, tích cực hợp tác cùng các quốc gia khác trong giải quyết những vấn đề an ninh đang nổi lên, đóng góp vào những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì nền hòa bình bền vững của nhân loại.

Như vậy, quan điểm cổ xúy cho việc “chọn bên” hoàn toàn đi ngược lại  với đường lối, chủ trương của Đảng, trái chiều với lợi ích quốc gia - dân tộc. Chúng ta không chọn bên mà chọn chính nghĩa, lẽ phải. Trong bài phát biểu tại Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế Mỹ (CSIS) ngày 12-5-2022, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nêu rõ: “Trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược và nhiều sự lựa chọn, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; bình đẳng, tất cả cùng có lợi, tất cả cùng chiến thắng”. Chọn chính nghĩa là chọn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị hợp tác và phát triển của đất nước ta. Chọn lẽ phải là chọn hòa bình và phát triển thịnh vượng của thế giới.

Chúng ta chọn hòa bình bởi Việt Nam đã trải qua các cuộc trường kỳ kháng chiến chống xâm lược, các thế hệ người Việt Nam đã đổ bao xương máu để giành và giữ nền độc lập, tự do dân tộc, sự vẹn toàn của bờ cõi, chủ quyền đất nước, nhưng Việt Nam luôn khẳng định tính chính nghĩa và tinh thần yêu chuộng hòa bình. Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, khát vọng hòa bình cũng chính là khát vọng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và ngày nay là khát vọng phồn vinh, hạnh phúc, tự cường.

Chúng ta chọn phát triển, hợp tác vì đó là sự lựa chọn hợp lẽ, vì mục tiêu phát triển đất nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, phù hợp với xu hướng chung của tất cả các nước trên thế giới. Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu đến năm 2025, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp, đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Khát vọng phát triển của đất nước gắn liền với khát vọng hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của cả khu vực và thế giới.

Sự lựa chọn đó của Việt Nam phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc. Và chỉ có đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại mới có thể bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, đưa đất nước phát triển hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc./.

Chọn bên hay chọn lợi ích quốc gia - dân tộc?

 Thực tiễn lịch sử quan hệ quốc tế cho thấy, giữa các nước lớn, nhất là giữa các cặp quan hệ, luôn tồn tại mâu thuẫn và khác biệt sâu sắc về lợi ích. Khi giữa các cường quốc có sự đối địch, chia phe, cạnh tranh ảnh hưởng sẽ kéo theo nhiều hệ lụy khó xử đối với các nước vừa và nhỏ trong việc phải “chọn bên”. Bởi lẽ, không phải cứ chọn bên là có thể bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc, khi mà tham vọng lợi ích của các cường quốc thường vượt quá giới hạn luật pháp quốc tế và đi ngược lại lợi ích chung của nhân loại, đề cao lợi ích của mình để xử lý quan hệ với các đồng minh theo tiêu chí và giá trị lợi ích của họ. Thậm chí, kể cả khi lợi ích của họ có sự hội tụ nhất định ở một vài điểm, khía cạnh nào đó, họ cũng sẵn sàng mặc cả trên lưng các nước khác.

Việc chọn bên mà không tính và không lường hết được những toan tính chiến lược đó sẽ chỉ tạo ra sự phân cực, chia rẽ mới, gây thảm họa cho chính quốc gia đó. Và khi chọn bên, tham gia liên minh thì cái giá phải trả là gì? An ninh chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc phải chăng sẽ được bảo đảm bằng những lời hứa, cam kết? Điều chắc chắn, đó là phải chấp nhận nhượng bộ ít nhiều về chủ quyền hoặc lợi ích quốc gia - dân tộc của mình với cường quốc khi tham gia liên minh. Đó là điều không thể khác trong quan hệ quốc tế. Do vậy, dựa vào một quốc gia nào đó cho dù là “nước phát triển”, hay “cường quốc” thì chẳng những không giải quyết được vấn đề, mà còn khiến tình hình thêm căng thẳng và phức tạp.

Thế nhưng, không ít người ngộ nhận rằng, lựa chọn đứng về “bên” nào sẽ quyết định tương lai, số phận của quốc gia đó. Bài học lịch sử cho thấy, một số nước do không giữ được độc lập, tự chủ, nên phải tìm chỗ dựa hoặc cầu viện vào thế lực bên ngoài, bị cuốn vào guồng quay của những toan tính nước lớn mà không dễ gì thoát khỏi, để đất nước rơi vào thảm cảnh loạn ly bởi các cuộc chiến tranh ủy nhiệm. Các cuộc “cách mạng màu”, hay còn gọi là “cách mạng dân chủ” trên thế giới trong những năm qua là hệ quả của việc quốc gia, khu vực không bảo đảm độc lập, tự chủ, để các lực lượng bên ngoài thao túng, can thiệp khi xảy ra khủng hoảng, khiến nút thắt của những xung đột, mâu thuẫn, đối kháng nội bộ càng thêm rối ren.

Lựa chọn chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trước hết là quyền của mỗi quốc gia. Không một ai, với tư cách, danh nghĩa gì được phép tước bỏ, xâm phạm quyền đó, hoặc lợi dụng để ép buộc quốc gia khác phải đi theo mô hình, giá trị của họ. Việc chọn bên hay không chọn bên, đều phải xuất phát từ điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước, phải bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc; dựa vào sức mình là chính, luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ; không thể ảo tưởng, trông chờ, phó thác hoàn toàn vào bất cứ “bên”, “liên minh” nào, nhất là ngày nay, xu hướng đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc trên thế giới ngày càng chiếm vai trò chủ đạo.

Bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, nhất là trong thời điểm biến động sâu sắc về địa - chính trị hiện nay, sự cạnh tranh cũng như điều chỉnh chính sách của các nước lớn khác trước rất nhiều so với giai đoạn trước, chứa đựng nhiều nhân tố khó dự báo. Việc các nước lớn đều theo đuổi các tầm nhìn khác nhau về cấu trúc khu vực, xúc tiến mở rộng tập hợp lực lượng, gia tăng ảnh hưởng thông qua các sáng kiến khu vực, hình thành các liên minh tay ba, tay tư, sử dụng “quyền lực mềm” nhằm lôi kéo sự ủng hộ của các nước thông qua các quan hệ kinh tế, đầu tư, thương mại, chuyển giao công nghệ, viện trợ,... đặt các nước vừa và nhỏ trước ranh giới của sự “chọn bên”. Duy trì chính sách độc lập, tự chủ, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trở thành một bài toán nan giải đối với các nước.

Một thực tế khác cũng cần nói đến là, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau, vừa là đối thủ, vừa là đối tác của nhau. Quan hệ tương tác, phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước tạo nên một mạng lưới đan xen phức tạp, chồng chéo, khiến việc giữ độc lập, tự chủ, tránh chọn bên của các nước ngày càng trở thành một thách thức.

Thực tế này đòi hỏi các nước nhỏ càng phải phát huy cao nhất tinh thần độc lập, tự chủ; vừa kiên định trong lập trường, vừa hết sức khôn khéo, mềm dẻo trong đấu tranh vì lợi ích quốc gia - dân tộc của mình, tránh xung đột, đối đầu; đồng thời, phải tính đến không gian phát triển, không tự bó buộc mình vào vị trí bất lợi cho đất nước trong bối cảnh cục diện quan hệ quốc tế còn nhiều bất định; sự vận động của cấu trúc quyền lực thế giới mới đang có nhiều đảo chiều, biến đổi.

Trong bối cảnh đó, cân bằng quan hệ để tránh tối đa những mâu thuẫn, bất lợi, rủi ro, leo thang thành cuộc đối đầu, xung đột toàn diện; tối đa hóa không gian hợp tác, tối ưu hóa lợi ích an ninh, phát triển là sự lựa chọn của hầu hết các nước trong khu vực hiện nay. Đối với các nước Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), lập trường của hầu hết các nước là không “chọn bên” trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn. Đây là vấn đề cốt lõi, sinh tử của các nước, bởi sự “chọn bên” có thể dẫn đến sự phân hóa, chia rẽ mới trong khu vực, biến khu vực thành “sân khấu tranh chấp địa - chính trị”. Thực tế đó đòi hỏi các nước triển khai chính sách linh hoạt, tránh xung đột, đối đầu. Đây được cho là sự lựa chọn tối ưu nhằm tối ưu hóa lợi ích quốc gia, bảo vệ chủ quyền đất nước, duy trì thế tự chủ chiến lược, thể hiện khát vọng một ASEAN tự cường, trung lập, hòa bình, ổn định, củng cố “vai trò trung tâm” trong bối cảnh tác động chiến lược ngày càng gia tăng giữa các nước lớn.

Việc một số quốc gia xích lại gần bên nọ, bên kia là điều tự nhiên; liên minh để bảo đảm an ninh, phát triển là điều dễ hiểu, song hầu hết các nước không muốn bị ép buộc phải chọn bên. Hơn lúc nào hết, việc chọn bên trong thời điểm cao trào xung đột nước lớn, giống như việc “đổ thêm dầu vào lửa”, tạo thế đối trọng giữa các bên, mâu thuẫn giữa các trục liên minh cũng vì thế gia tăng, làm tổn hại đến chính lợi ích của các nước. Do vậy, quan điểm cổ xúy “chọn bên” chỉ là ảo tưởng, phi thực tế, phi căn cứ. Lợi ích quốc gia - dân tộc mới chính là sự lựa chọn phù hợp, bất biến, bền vững. Việt Nam cũng như nhiều nước trong khu vực, luôn thấu hiểu rõ điều này. Uy-li-am Chong, nghiên cứu viên cao cấp của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (SAS - Yusof Ishak) có trụ sở tại Xin-ga-po, khi nói về chính sách đối ngoại của Việt Nam trong bài viết “Mạnh mẽ và tinh tế: Cách tiếp cận của Việt Nam để đối phó với sự cạnh tranh của các cường quốc”, trên trang mạng Thinkchina ngày 10-5-2021 đã cho rằng: “Nếu quyền tự quyết trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn là khả năng tối đa hóa lợi ích từ cả hai cường quốc trong khi áp dụng các chính sách phòng ngừa rủi ro để duy trì quan hệ, thì Việt Nam là một điển hình kinh điển của nghệ thuật đó, có thể giúp các quốc gia Đông Nam Á khác nhân rộng chính sách này một cách hữu hiệu”.

Lễ thượng cờ ASEAN nhân dịp kỷ niệm 56 năm Ngày thành lập ASEAN (8-8-1967 - 8-8-2023) và kỷ niệm 28 năm Ngày Việt Nam gia nhập ASEAN (28-7-1995 - 28-7-2023) tại Hà Nội _Nguồn: qdnd.vn

Đằng sau âm mưu cổ xúy “chọn bên”

 Lâu nay, chính sách đối ngoại của Việt Nam là một trong những mục tiêu tấn công của các thế lực thù địch, phản động. Ngoài việc bóp méo, xuyên tạc, làm sai lệch bản chất các vấn đề, các sự kiện, xuyên tạc chính sách đối ngoại của Việt Nam, họ còn cổ xúy cho cái gọi là “chọn bên”, rằng Việt Nam cần dựa vào nước này để chống nước khác. Gần đây, trước những biến động lớn của đời sống quốc tế liên quan đến cạnh tranh giữa các cường quốc, nhất là cuộc xung đột tại U-crai-na, các phần tử phản động lại rộ lên các chiêu bài cũ, liên tục rêu rao “giảng dạy” cho Việt Nam về chính sách ngoại giao với các nước, đặc biệt là mối quan hệ với các nước lớn, cho rằng đây là cơ hội lịch sử nghìn năm có một để “Việt Nam vươn ra khỏi vòng kim cô”, rằng đây là lúc “thoát Trung, bài Nga”, sớm “đưa Việt Nam hội nhập vào thế giới tự do, văn minh và tiến bộ của phương Tây, đúng với vị trí mà thế giới mong đợi(?!)”. Thậm chí, trên các trang facebook của họ còn xuất hiện cái gọi là “thoát Trung luận” với những luận điểm cổ xúy cho việc chọn bên. Họ cho rằng Việt Nam cần dựa vào Mỹ và các nước phương Tây để vừa phát triển kinh tế, vừa “ngăn chặn hiểm họa từ nước khác”.

Một số quan điểm cho rằng, Mỹ đang muốn lôi kéo Việt Nam vào liên minh chống Trung Quốc do Mỹ đứng đầu, muốn Việt Nam gia nhập “Bộ tứ kim cương mở rộng” nhằm tăng cường sức ép đối với Trung Quốc. Không chỉ đưa ra những luận điểm “bài”, “thoát”, mà họ còn cho rằng cần thiết lập “đồng minh” với các nước lớn, quốc tế hóa những vấn đề nội bộ của Việt Nam, nhằm hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Đối với công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, họ hô hào rằng, chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc; không liên minh quân sự thì mất lãnh thổ, chủ quyền ở Biển Đông; Việt Nam nên liên minh quân sự với các nước lớn có thực lực quân sự, quốc phòng mạnh để được hỗ trợ tối đa về mặt quân sự, kể cả đưa vũ khí trang bị, lực lượng quân đội đến trợ giúp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo quốc gia. Thậm chí, có ý kiến còn cổ xúy cho quan điểm không liên minh quân sự là đúng trong trường hợp nhằm chống nước khác, nhưng sẽ không đúng đối với trường hợp để bảo vệ Tổ quốc; rằng cần có cách tiếp cận mới và sớm điều chỉnh quan điểm chỉ đạo này. Họ cho rằng, vì mục đích bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thì chẳng những cần thiết mà thậm chí nên chủ động liên minh trước với các nước thật sự tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam. Thông qua thủ đoạn thâm độc này, họ tìm cách tác động đến dư luận, để qua đó hướng lái chính sách đối ngoại, hòng đưa Việt Nam đi vào quỹ đạo lệ thuộc, từ đó làm chệch hướng sự nghiệp cách mạng mà Việt Nam đang thực hiện.

Thực tế, chiêu trò xuyên tạc chính sách đối ngoại, cho rằng Việt Nam không “dứt khoát” trong quan hệ quốc tế, kích động Việt Nam phải thể hiện lập trường, phải chọn bên, là một thủ đoạn thường xuyên được các thế lực thù địch, phản động tìm cách phát tán, cho thấy một sự nhận thức lệch lạc, thiếu hiểu biết, thiếu khách quan, suy diễn một chiều, mơ hồ về chính trị, xuyên tạc vô căn cứ đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Thực chất của những hoạt động trên cũng chỉ nhằm thông qua sự can thiệp từ bên ngoài hòng lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa của nước ta.

Xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 Xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ trương đúng đắn, nhất quán, thể hiện tư duy mới, tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. Để thực hiện chủ trương này một cách hiệu quả, cần kiên trì, kiên quyết, triển khai đồng bộ các giải pháp; có lộ trình cụ thể, tiến hành thận trọng, từng bước, chủ động bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật và kịp thời phát hiện, giải quyết khó khăn, vướng mắc ngay từ cơ sở.

1- Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, nhất là sự bùng nổ của viễn thông, internet, không gian mạng trở thành môi trường đặc biệt để các quốc gia khai thác, phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc. Đối với Việt Nam, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin là một trong những cơ hội để đi tắt, đón đầu, phát triển đất nước nhanh và bền vững dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước. Tuy nhiên, không gian mạng cũng là môi trường để các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng để đăng tải nội dung chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, chúng sử dụng không gian mạng như một công cụ đắc lực để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng bằng nhiều thủ đoạn mới ngày càng tinh vi, xảo quyệt, trắng trợn hơn.

Ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết xác định việc bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của từng cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu. Trong thực tiễn, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành đồng bộ, toàn diện nhiều chủ trương, giải pháp để thực hiện nghị quyết này; trong đó, xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những giải pháp cơ bản, quan trọng nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tinh thần cảnh giác, hình thành phong trào hành động cách mạng sâu rộng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng _Ảnh: Hà Quốc Thái

Thực hiện chủ trương của Đảng, trong những năm qua, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai nhiều giải pháp về công tác tổ chức, lực lượng, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành; chú trọng phát huy tốt vai trò của các tổ chức, lực lượng, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các cơ quan chức năng đã chủ động làm tốt công tác nghiên cứu chiến lược, nắm bắt, đánh giá, dự báo đúng tình hình, nhất là những vấn đề về âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước nhiều giải pháp có ý nghĩa chiến lược trong thực hiện nhiệm vụ này. Chúng ta đã phát huy sức mạnh tổng hợp của cơ quan báo chí, xuất bản, truyền thông, vận dụng tổng hợp hình thức, phương pháp tuyên truyền, đấu tranh; kết hợp chặt chẽ với đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền miệng, tuyên truyền đối ngoại, tuyên truyền trên internet, mạng xã hội và các kênh truyền thông khác, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; đồng thời, chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với phòng ngừa, tích cực đấu tranh phản bác thông tin xấu, độc, sai trái, thù địch trên không gian mạng; kết hợp phòng thủ tích cực, vững chắc với tiến công đáp trả, kịp thời ngăn chặn, xử lý các tình huống trên không gian mạng một cách linh hoạt và hiệu quả, không để bị động, bất ngờ. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “... công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, chuyển biến tích cực”(1).

Cùng với đó, Nhà nước đã ban hành, sửa đổi hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm an toàn, an ninh mạng; đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước thống nhất quản lý, các ban, bộ, ngành trung ương tham mưu, cùng các địa phương tổ chức thực hiện. Đặc biệt, Nhà nước đã kịp thời bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm xử lý nghiêm tổ chức và cá nhân đưa tin sai sự thật, xấu, độc trên không gian mạng. Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp đã chú trọng khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, củng cố niềm tin của người dân vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao ý thức trách nhiệm, trình độ nhận thức, ý chí của người dân; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, mang lại hiệu quả rõ rệt; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của người dân và thường xuyên chú trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần quy tụ, tập hợp các tầng lớp nhân dân, tạo sự đồng thuận trong nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đó là nền tảng cơ bản để xây dựng thành công “thế trận lòng dân” trên không gian mạng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn có mặt hạn chế: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy, chính quyền đối với nhiệm vụ quan trọng này chưa được quan tâm đúng mức, tổ chức thực hiện chưa quyết liệt và chưa hiệu quả. Một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa huy động và phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị; vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên và người dân thờ ơ, đứng ngoài cuộc, có biểu hiện né tránh, hoặc coi đây chỉ là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng. Công tác thông tin, tuyên truyền về một số chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng chưa thường xuyên, kịp thời, chưa đáp ứng được sự mong đợi của nhân dân. “Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao; công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ còn chưa kịp thời”(2). Trước các thủ đoạn, phương thức ngày càng tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, một bộ phận cán bộ, đảng viên và tầng lớp nhân dân có biểu hiện chủ quan, lơ là, mất cảnh giác; chưa thể hiện tinh thần trách nhiệm, chính kiến khi tham gia mạng xã hội, thiếu ý thức hành động phản bác những luận điệu xuyên tạc chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; thậm chí, một số người còn có biểu hiện lệch lạc về quan điểm trên internet, mạng xã hội, hoặc phụ họa, vô tình tiếp tay cho các thế lực thù địch tán phát các quan điểm sai trái, phản động...

2- Dự báo trong những năm tới, các thế lực thù địch, nhất là số đối tượng phản động, phần tử cơ hội chính trị sẽ tiếp tục triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, trắng trợn hơn. Chúng sử dụng phổ biến nhất là các phương thức liên lạc qua giải pháp cung cấp nội dung, như hình ảnh, tin nhắn, gọi điện cho người dùng (OTT) để lập hội kín, nhóm kín trên không gian mạng, từ đó móc nối, lôi kéo thành viên tham gia. Thông qua các trang mạng xã hội, như Zalo, Facebook, Youtube... các đối tượng này tổ chức các lớp học trực tuyến về cái gọi là “xã hội dân sự”, “dân chủ, nhân quyền”, tuyên truyền về cái gọi là “phương pháp đấu tranh bất bạo động”. Chúng triệt để lợi dụng các diễn đàn trên không gian mạng nhằm tác động, chuyển hóa tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; lợi dụng các sự kiện chính trị, xã hội trong và ngoài nước để bóp méo, xuyên tạc với thủ đoạn hết sức tinh vi, hòng kích động, thúc đẩy các luồng dư luận trái chiều, lôi kéo các tầng lớp nhân dân tham gia, gây áp lực với chính quyền, từ đó thực hiện âm mưu chống phá và lật đổ chế độ... Vì vậy, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng tiếp tục diễn ra phức tạp và ngày càng quyết liệt; trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trên trận tuyến này cũng sẽ ngày càng nặng nề hơn. Theo đó, xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vẫn là một trong những chủ trương lớn, đúng đắn, vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính thường xuyên, lâu dài; đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý của Nhà nước trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng.

Đây là vấn đề cơ bản, quan trọng, xuyên suốt để xây dựng thành công “thế trận lòng dân” trên không gian mạng, giữ vai trò định hướng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đồng thời, là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị. Cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương cần nhận thức rõ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài; từ đó, đề cao vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện.

Cần tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng; sự quản lý của chính quyền và vai trò trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong triển khai, tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tập trung xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách; kiện toàn tổ chức, bộ máy của các cơ quan quản lý nhà nước về không gian mạng và thực hiện nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng. Coi trọng việc thực thi pháp luật về công nghệ thông tin, viễn thông, an toàn thông tin mạng từ Trung ương đến địa phương; xây dựng và hoàn thiện cơ chế trao đổi, chia sẻ thông tin và quy trình phối hợp xử lý thông tin chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.

Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn xã hội và từng người dân đối với nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng.

Cấp ủy, chính quyền các cấp, cơ quan, đơn vị cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng; cơ sở lý luận, thực tiễn của nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng. Tuyên truyền về kết quả đạt được và hạn chế, bất cập; nắm chắc nội dung, yêu cầu, thấy rõ thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đang đặt ra... Trên cơ sở đó, làm cho mọi tổ chức, lực lượng và toàn xã hội nhận thức rõ đây là chủ trương lớn, lâu dài, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta; là yêu cầu khách quan để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện mới; là nghĩa vụ, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và của cả hệ thống chính trị.

Công tác tuyên truyền, giáo dục cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, đồng bộ, toàn diện và có chiều sâu; chú trọng đổi mới nội dung, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục phù hợp với từng đối tượng; gắn với phong trào thi đua yêu nước và các phong trào, cuộc vận động của các cấp, các ngành để thu hút đông đảo mọi người tham gia, tạo ra các hoạt động sôi nổi, có sức lan tỏa mạnh mẽ. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục thường xuyên với giáo dục chuyên đề gắn với các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước. Tận dụng thế mạnh không gian mạng và phát huy vai trò của cơ quan báo chí, xuất bản, truyền thông, đội ngũ giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên, các thiết chế văn hóa ở cơ sở để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn thể nhân dân, doanh nghiệp và toàn xã hội; xác định rõ và thực hiện tốt nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng _Ảnh: Tư liệu

Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng.

Trước hết, cần nhận thức rõ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, lực lượng; từ đó, tăng cường phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, trong đó cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là lực lượng tuyên giáo các cấp, lực lượng quân đội và công an đóng vai trò tiên phong, nòng cốt, xung kích đi đầu. Cùng với đó, cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp; khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tinh thần cảnh giác, hình thành phong trào hành động cách mạng sâu rộng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị, giữa Trung ương và địa phương nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, các “binh chủng” cùng tham gia. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, văn hóa, văn nghệ...; nâng cao vai trò trách nhiệm của cơ quan thông tấn, báo chí; đồng thời, khai thác ưu thế và phát huy sức mạnh tổng hợp của các công cụ, phương tiện tiến hành công tác tư tưởng - văn hóa của toàn xã hội trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đặc biệt, cần tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ này thường xuyên, liên tục và rộng khắp từ Trung ương đến địa phương, ở mọi cấp, mọi ngành, cơ quan, đơn vị. Quan tâm xây dựng các lực lượng chuyên trách, mà nòng cốt là các chuyên gia, nhà khoa học, ban chỉ đạo 35 các cấp, lực lượng đấu tranh trên không gian mạng. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp... cùng tham gia xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.

Các cơ quan chức năng cần chủ động nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng của các thế lực thù địch; đồng thời, thường xuyên quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp của Đảng, Nhà nước về đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”; vạch trần những quan điểm sai trái, thù địch, những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị trên không gian mạng hòng chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Tập trung xây dựng và đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, bồi đắp niềm tin, sự kiên định, vững vàng về chính trị, tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, không để sơ hở khiến các thế lực thù địch lợi dụng kích động. Nâng cao năng lực phòng, chống, “tự đề kháng”, “tự miễn dịch” trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trước âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng; nâng cao trình độ khai thác, sử dụng internet, mạng xã hội một cách hiệu quả, thiết thực và lành mạnh.

Chủ động nắm bắt, đánh giá và dự báo chính xác tình hình tư tưởng, dư luận trong cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân; chỉ đạo, xử lý kịp thời các vấn đề bức xúc nảy sinh ở từng địa bàn để giữ vững ổn định chính trị - xã hội, không để hình thành các “điểm nóng”, tạo cớ cho các thế lực thù địch chống phá. Chú trọng tới thông tin trái chiều, tăng cường đối thoại, lắng nghe thông tin từ cơ sở. Thường xuyên lãnh đạo, quản lý, nắm chắc và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống thông tin đại chúng, kịp thời cung cấp thông tin, định hướng nhận thức, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, tạo dư luận tích cực và đồng thuận trong xã hội, lấy cái đẹp dẹp cái xấu; đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao, hấp dẫn. Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, làm sáng tỏ hơn nữa cơ sở khoa học và thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng... Xây dựng các luận cứ, luận điểm mang tính khoa học, sắc bén, thuyết phục trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. 

Năm là, thường xuyên làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng.

Thực tiễn, kinh nghiệm tổ chức hoạt động này trong những năm qua cho thấy: Cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương nào làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm thì việc xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở nơi đó có được hiệu quả thiết thực. Ngược lại, nơi nào làm không tốt thì có nhiều hạn chế, yếu kém.

Để phát huy ưu điểm và khắc phục kịp thời những hạn chế, yếu kém, một mặt, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương cần coi trọng làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, đánh giá đúng ưu điểm cũng như hạn chế, khuyết điểm và chỉ rõ nguyên nhân của khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện; phát hiện tập thể, cá nhân và những nơi làm tốt, có cách làm tốt, mô hình hay, sáng tạo, hiệu quả nhằm kịp thời biểu dương, phổ biến, nhân rộng trên phạm vi cả nước để tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và mọi người học tập, làm theo; mặt khác, kiên quyết chấn chỉnh, nhắc nhở tập thể, cá nhân có nhận thức lệch lạc, có khuyết điểm và biểu hiện vi phạm các quy định, hướng dẫn, hoặc những nơi làm chưa tốt, hiệu quả chưa cao, chưa tạo thành phong trào rộng khắp trong mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương. Cấp ủy, chính quyền các cấp cần đề cao vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm. Tuyệt đối tránh những biểu hiện hình thức, làm qua loa, đại khái; đồng thời, qua sơ kết, tổng kết phải đúc rút thành những bài học kinh nghiệm quý để tiếp tục vận dụng vào công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện ở các cấp, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương và từng cá nhân trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thực hiện tốt những nhiệm vụ và giải pháp nói trên là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, của cả hệ thống chính trị, mà trước hết và chủ yếu là của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương và của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu./.