Hai cuốn sách của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, mang tầm chiến lược của người đứng đầu Đảng ta đối với những vấn đề quan trọng của đất nước, là tài liệu quý để các cấp, các ngành, các địa phương, các tổ chức đảng nghiên cứu, quán triệt nhằm hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2024
XUẤT BẢN HAI CUỐN SÁCH TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG THỂ HIỆN QUYẾT TÂM THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG
GỬI TẶNG CÁC CHÚ BỘ ĐỘI NHÂN DỊP XUÂN GIÁP THÌN 2024
Nhân dịp đầu xuân Giáp Thìn 2024, chúng em đại diện lớp 8A6 làm thiệp xuân tặng cho các chú bộ đội nhằm để bày tỏ lòng tri ân đến các chú bộ đội đang ngày đêm canh giữ bình yên cho đất trời của Tổ quốc, để người dân nước Việt Nam ta có được cuộc sống hòa bình hạnh phúc và được hưởng những mùa xuân tươi đẹp một cách trọn vẹn. Chúng cháu xin chúc các chú- những người lính cụ Hồ, thật nhiều sức khỏe nhiều may mắn, niềm vui, luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao và kiên cường cầm chắc tay súng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
NHẮN GỬI QUÝ PHỤ HUYNH VÀ CÁC TÂN BINH CHUẨN BỊ LÊN ĐƯỜNG NHẬP NGŨ.
Cứ vào mùa tuyển quân là y như rằng sẽ xuất hiện nhiều nội dung xuyên tạc của các thế lực thù địch, chúng chống phá những việc làm của ta. Trên mạng xã hội có những mấy video clip, bài viết bội nhọ, làm xấu hình ảnh liên quan đến Quân đội nhân dân Việt Nam.... Xin được cung cấp đôi dòng ngắn để ai có con sắp nhập ngũ và các cậu thanh niên sắp nhập ngũ hiểu hơn về bộ đội: Quân đội có kỷ luật rất nghiêm minh về điều này, ngoài thực hiện các quy định Pháp luật thì Quân đội còn có các quy định rất riêng, thiết nghĩ không có môi trường nào nghiêm ngặt như vậy. Việc xử lý các việc này được làm triệt để và chặt chẽ. Bởi “Kỷ luật là sức mạnh của Quân đội”... Đội ngũ cán bộ trong Quân đội không bao giờ chấp nhận điều đó. Trong đó cán bộ cấp phân đội sống gần gũi với anh em, ăn chung, ở chung, cùng nhau hoạt động thực hiện các nhiệm vụ. Vậy nên rất đoàn kết trên dưới một lòng, giúp nhau cùng tiến bộ... Các lời thề danh dự của Quân nhân đã thể hiện bản chất tốt đẹp của Quân nhân. Nhất là lời thề thứ 7: “Đoàn kết chặt chẽ với nhau như ruột thịt...” (trên Internet có các nội dung 10 lời thề danh dự quân nhân). Quân nhân khi nhập ngũ vào Quân đội được mọi người giúp đỡ, coi nhau như anh em. Đội ngũ cán bộ Quân đội sẽ chịu trách nhiệm tất cả mọi vấn đề của quân nhân mình quản lý.
QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN ĐỂ PHÒNG, CHỐNG SUY THOÁI
55 năm sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969-2024), những điều Người chỉ dẫn, căn dặn trong tác phẩm vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự đối với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
TẢO MỘ MỜI GIA TIÊN VỀ ĂN TẾT - PHONG TỤC ĐẬM TẾT NHÂN VĂN NGÀY TẾT CỦA NGƯỜI VIỆT
Phong tục tảo mộ có nguồn gốc từ rất lâu đời, từ thời xa xưa, khi người Việt cổ còn sống theo chế độ mẫu hệ. Theo quan niệm của người Việt cổ, người chết vẫn còn linh hồn và có thể phù hộ cho con cháu. Vì vậy, họ thường xuyên chăm sóc, cúng bái tổ tiên, trong đó có việc dọn dẹp, sửa sang lại phần mộ của họ. Theo thời gian, phong tục tảo mộ được lưu truyền và phát triển rộng rãi trong cộng đồng người Việt. Ngày nay, tảo mộ là một trong những phong tục quan trọng trong dịp Tết Nguyên Đán của người Việt.
Tạo xung lực mới cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Theo đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo 35 Trung ương, kết quả 05 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Học viện là cơ sở quan trọng, tạo xung lực mới cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tại Học viện ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả.
Ngày 25/12, tại Hà Nội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII và tổng kết công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch năm 2023, triển khai nhiệm vụ năm 2024.
5 năm thực hiện Nghị quyết số 35 tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã đi vào nền nếp và có nhiều chuyển biến theo tinh thần kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là cơ bản; một số nội dung là “điểm nhấn” nổi bật, khẳng định vai trò tiên phong, dẫn dắt của Học viện trên mặt trận tư tưởng, lý luận như: các chương trình Khoa học công nghệ cấp quốc gia, Cuộc thi chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Bộ sách thường thức chính trị, Sổ tay Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng…. Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong các mặt hoạt động của Học viện đảm bảo nhuần nhuyễn, bài bản và khá toàn diện, trong đó, công tác tuyên truyền là điểm đột phá, chỉ đạo thường xuyên, quyết liệt.
Tính chủ động trong thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị, cán bộ, giảng viên, học viên, sinh viên được nâng cao, dần trở thành nhiệm vụ thường xuyên, tự thân, tự giác. Đội ngũ chuyên gia nòng cốt phát huy tốt vai trò; sự tham gia của đội ngũ cán bộ, giảng viên trẻ, học viên, đoàn viên, sinh viên có chuyển biến rõ rệt.
Bên cạnh đó, phương thức, hình thức tổ chức hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có nhiều đổi mới, phát huy được vai trò, nguồn lực của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Công tác nghiên cứu khoa học đạt nhiều kết quả tích cực, rõ nét, có nhiều nét mới, vừa khẳng định thành tựu lý luận, thực tiễn, vừa phản bác hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trên một số vấn đề cụ thể.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng có đổi mới về nội dung, chương trình, nâng cao tính chiến đấu, với sự đồng bộ về hình thức và cụ thể về nội dung đến từng bài giảng.
Công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có sự chuyển biến về chất, độ lan tỏa được đẩy mạnh, bắt đúng “mạch” quan tâm của cán bộ, đảng viên. Các hình thức tuyên truyền, đấu tranh trên mạng xã hội có chuyển biến tích cực.
Năm 2024, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh xác định các nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW đó là: Chủ trì tổ chức tốt Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; Tập trung nghiên cứu các chương trình, đề tài, đề án, hội thảo, tọa đàm, tổng kết thực tiễn, đặt hàng chuyên gia để cung cấp luận cứ khoa học để bảo vệ, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng. và hệ thống chính trị, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch nổi lên và xây dựng luận cứ, luận điểm đấu tranh phản bác.
Cùng với đó, tăng cường tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chương trình đào tạo, bồi dưỡng các hệ lớp, tiến tới nghiên cứu xây dựng giáo trình và đưa nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trở thành một môn học trong chương trình của một số hệ đào tạo. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng theo bề rộng và tập huấn chuyên sâu cho các lực lượng nòng cốt.
Xây dựng mạng lưới truyền thông bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong toàn hệ thống Học viện đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Phát triển đồng bộ các kênh truyền thông truyền thống, thiết lập và nâng cao chất lượng các kênh truyền thông hiện đại trên không gian mạng; đảm bảo tính kết nối trong hệ thống và mở rộng độ lan tỏa. Nghiên cứu xây dựng kho dữ liệu dùng chung phục vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong toàn hệ thống.
Học viện sẽ tăng cường hướng dẫn các trường chính trị cấp tỉnh, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của bộ, ngành, đoàn thể Trung ương, trung tâm chính trị cấp huyện thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW. Nghiên cứu sửa đổi Hướng dẫn số 475-HD/HVCTQG, ngày 24/9/2019 về việc thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW; Phát huy vai trò của đội ngũ chuyên gia nòng cốt, cán bộ khoa học trẻ trong tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng...
![]() |
| Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo 35 Trung ương phát biểu tại Hội nghị |
Tại Hội nghị, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo 35 Trung ương nhấn mạnh: Kết quả 05 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW là cơ sở quan trọng, tạo xung lực mới cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tại Học viện ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả; đồng thời, đặt ra yêu cầu cao hơn, đòi hỏi không ngừng đổi mới, phát huy vai trò, trách nhiệm của từng chủ thể trong thực hiện nhiệm vụ trong đó kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”, giữa kiên định bảo vệ với kiên quyết, kiên trì đấu tranh, trong đó “xây” là cơ bản.
Nêu rõ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là đấu tranh về mặt lý luận mà còn đấu tranh trong việc gỡ bỏ thông tin xấu, độc, đấu tranh với các nhà cung cấp mạng, kiểm soát dòng tiền mà các thế lực chống phá này hoạt động trên mạng và xử lý nghiêm với những kẻ vi phạm pháp luật, lợi dụng dân chủ, nhân quyền, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thắng chỉ rõ: “Thường vào những lúc chúng ta có những sự kiện lớn của đất nước, chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc thì các thế lực thù địch càng ra sức chống phá. Cho nên, hơn lúc nào hết chúng ta phải chuẩn bị một tâm thế, một bản lĩnh, trí tuệ thật tốt để đánh thắng mọi kẻ thù, mọi thế lực thù địch, phản động cơ hội chính trị".
Dịp này, 12 tập thể, 17 cá nhân có thành tích trong thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, giai đoạn 2018-2023 đã được nhận bằng khen của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Mấy yêu cầu về xây dựng lực lượng pháo binh, tên lửa - nhìn từ các cuộc chiến tranh cục bộ gần đây trên thế giới
Nghiên cứu các cuộc xung đột quân sự, chiến tranh cục bộ gần đây, nhất là xung đột giữa Nga - Ukraine, Israel - Hamas cho thấy, lực lượng pháo binh, tên lửa đối đất được các bên sử dụng với số lượng lớn, trở thành một trong những lực lượng then chốt trên chiến trường. Thực tế đó đặt ra vấn đề cấp thiết về xây dựng lực lượng Pháo binh - Tên lửa Quân đội nhân dân Việt Nam, nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine đang diễn ra vô cùng khốc liệt, có quy mô tàn phá lớn nhất trên thế giới trong vòng 50 năm gần đây. Ở góc nhìn khác, các nhà nghiên cứu quân sự thế giới cho rằng, đó còn là màn thể hiện “cuộc chiến của pháo binh và tên lửa mặt đất”, bởi đây là lực lượng nổi bật, sử dụng với số lượng rất lớn, là hỏa lực chủ yếu để sát thương đối phương và cũng là lực lượng bị đối phương tập trung tìm, diệt. Gần đây nhất, rạng sáng ngày 07/10/2023, lực lượng Hamas ở Dải Gaza đã bất ngờ phóng hàng nghìn tên lửa đất đối đất, hỏa tiễn và sử dụng chiến binh xâm nhập lãnh thổ Israel, mở màn cho một cuộc xung đột mới. Sau vài giờ bị tiến công, Israel lập tức mở chiến dịch “Những thanh kiếm sắt” để tiêu diệt Hamas, giải cứu con tin. Quân đội Israel đã dùng không quân là chủ yếu kết hợp với pháo binh, tên lửa đánh phá hơn 15.000 mục tiêu và tiến công trên bộ vào Dải Gaza. Hamas đã sử dụng tối đa tên lửa đối đất, tên lửa chống tăng để đánh trả Quân đội Israel tiến công đường bộ.
Nhìn từ hai cuộc xung đột trên, chúng ta thấy, cùng với các loại vũ khí, khí tài khác, pháo binh, tên lửa đã được sử dụng với số lượng lớn, cường độ cao, chủng loại đa dạng, bao gồm cả tên lửa đối đất, đối hải, pháo tự hành, pháo phản lực, pháo xe kéo, súng cối, tên lửa chống tăng, v.v. Trong đó có nhiều vũ khí pháo binh, tên lửa hiện đại, thông minh nên hiệu quả sát thương cao, làm cho đối phương tổn thất rất nặng nề. Thực tế cũng cho thấy, vai trò quan trọng cùng những khó khăn, thách thức của công tác bảo đảm chỉ huy chiến đấu, bảo đảm trinh sát, hậu cần, kỹ thuật của pháo binh, tên lửa trong chiến tranh hiện đại, v.v. Điều đó đặt ra những vấn đề cấp thiết cần nghiên cứu để xây dựng lực lượng Pháo binh - Tên lửa Quân đội nhân dân Việt Nam.
1. Xây dựng lực lượng pháo binh - tên lửa “tinh, gọn, mạnh”, tiến lên hiện đại
Theo các đánh giá về sử dụng pháo binh, tên lửa đối đất trong xung đột quân sự Nga - Ukraine, hai bên đã huy động hàng nghìn khẩu pháo xe kéo, pháo tự hành, pháo phản lực, súng cối các loại, cũng như hàng nghìn đơn vị tên lửa chống tăng và hàng trăm xe bệ phóng tên lửa đất đối đất, đối hải. Không chỉ có vậy, sức mạnh pháo binh, tên lửa của các bên còn được phát huy bởi các loại pháo, đạn công nghệ cao, có điều khiển, dẫn đường chính xác, có khả năng cơ động linh hoạt, được tổ chức chỉ huy hỏa lực hiện đại. Hai bên đã huy động tối đa khả năng pháo binh, tên lửa hiện đại vào tham chiến1 và ứng dụng tự động hóa chỉ huy hỏa lực pháo binh dựa trên công nghệ trinh sát, chỉ thị mục tiêu hiện đại, nên có hiệu quả sát thương lớn, khẳng định hỏa lực pháo binh, tên lửa đối đất đã trở thành hỏa lực chủ yếu trên chiến trường.
Từ thực tiễn đó và trên cơ sở nhận thức đúng vai trò của pháo binh, tên lửa trong tác chiến; quán triệt, thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XIII) và Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 02/4/2022 của Quân ủy Trung ương về “Lãnh đạo thực hiện tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo”, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã có lộ trình xây dựng Binh chủng Pháo binh đến năm 2030 phát triển thành Binh chủng Pháo binh - Tên lửa. Đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, xong cần nguồn lực tài chính khá lớn. Vì vậy, để đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra, trước mắt, cần quan tâm hoàn thiện, nhân rộng mô hình tổ chức pháo binh trong sư đoàn bộ binh hỏa lực mạnh; củng cố, nâng cấp biên chế trang bị các đơn vị pháo binh, tên lửa thường trực; chuẩn bị lực lượng dự bị động viên pháo binh, tên lửa hùng hậu, sẵn sàng huy động khi có tình huống. Mặt khác, để phát triển lực lượng tên lửa đối đất, đối hải, tên lửa chống tăng trong lực lượng pháo binh - tên lửa, cần đẩy mạnh nghiên cứu, chế tạo kết hợp lựa chọn, đầu tư mua sắm, chuyển giao công nghệ từ nước ngoài. Trong điều kiện thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường như hiện nay, cần khuyến khích, phát huy vai trò của Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội,... và các đơn vị liên quan trong nghiên cứu, phát triển các loại pháo phản lực, tên lửa đất đối đất, đất đối hạm, tên lửa chống tăng hiện đại và nghiên cứu chế tạo tích hợp hệ thống tự động hóa chỉ huy điều khiển hỏa lực,… từng bước tự chủ nguồn cung cấp vũ khí, trang bị bảo đảm cho Quân đội. Cùng với đó, cần nghiên cứu đổi mới, hiện đại hóa các loại phương tiện, trang bị bảo đảm, đồng bộ với sự phát triển của lực lượng pháo binh - tên lửa.
2. Tổ chức dự trữ vũ khí trang bị, khí tài, đạn dược pháo binh - tên lửa toàn diện, có chiều sâu, đáp ứng yêu cầu tác chiến cường độ cao, tiêu hao lớn
Theo ước tính của các cơ quan tình báo nước ngoài, trong xung đột quân sự Nga - Ukraine, các bên sử dụng lượng đạn pháo, tên lửa vô cùng lớn (tính đến 30/11/2023, cả hai bên đã sử dụng hàng chục triệu viên đạn pháo các loại, hàng nghìn tên lửa đất đối đất, hàng trăm tên lửa đối hải và hàng chục nghìn tên lửa chống tăng). Đó là chưa kể những thiệt hại do vũ khí chính xác của đối phương đánh phá vào các kho cất chứa vũ khí, đạn dược, trong đó có đạn pháo và tên lửa. Còn theo đánh giá của các nhà bình luận quân sự thế giới, sau nhiều tháng giao tranh, đến nay, cả hai bên đều đang dần cạn kiệt nguồn đạn pháo, tên lửa các loại.
Cùng với đó, do sử dụng một lượng lớn pháo binh, tên lửa trực tiếp tham gia tác chiến nên khả năng bị đối phương tiêu hao, tiêu diệt cũng không ngừng tăng cao. Trên thực tế, đã có hàng nghìn phương tiện pháo binh, tên lửa của cả Nga và Ukraine bị tiêu diệt hoặc loại khỏi vòng chiến đấu. Thực tế đó cho thấy, mức độ sử dụng pháo binh, tên lửa cùng những tiêu hao về phương tiện, trang bị, đạn dược của lực lượng này là vô cùng lớn. Điều đó đặt ra cho các bên thách thức rất lớn trong duy trì nguồn bảo đảm chiến đấu cho pháo binh, tên lửa.
Như vậy, trong chiến tranh hiện đại, tác chiến diễn ra liên tục, dài ngày với các loại vũ khí chính xác, cường độ cao nên tiêu hao vật chất, vũ khí trang bị rất lớn. Trong khi đó, pháo binh, tên lửa lại là một trong các loại mục tiêu bị đối phương chú trọng đánh phá, tiêu hao, nhưng khả năng sản xuất, bổ sung thường bị hạn chế, không kịp thời. Vì vậy, cần chuẩn bị nguồn dự trữ vũ khí, trang bị, đạn pháo, tên lửa các loại với số lượng lớn, cất giữ phân tán, bảo mật cao ngay từ thời bình. Để thực hiện điều đó, Binh chủng Pháo binh cần tiếp tục nghiên cứu, nắm chắc tình hình, tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng điều chỉnh bố trí lực lượng pháo binh - tên lửa khoa học, phù hợp trên từng địa bàn chiến lược, các khu vực phòng thủ, nhất là các lữ đoàn pháo binh - tên lửa dự bị chiến lược. Các cơ quan, đơn vị pháo binh toàn quân chú trọng phối hợp với địa phương chủ động xây dựng thế trận pháo binh liên hoàn, vững chắc gắn với xây dựng thế trận khu vực phòng thủ; làm tốt việc chuẩn bị hệ thống kho tàng, căn cứ hậu cần - kỹ thuật, đường cơ động, trận địa pháo binh - tên lửa,… theo các phương án, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tác chiến cường độ cao, thời gian dài.
3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của lực lượng pháo binh - tên lửa, đáp ứng yêu cầu tác chiến hiện đại
Thực tiễn các cuộc xung đột, chiến tranh cục bộ gần đây đã, đang đặt ra vấn đề lực lượng pháo binh, tên lửa phải tinh nhuệ, có vũ khí trang bị ngày càng hiện đại; đồng thời, cần nguồn nhân lực chất lượng cao hơn để sử dụng các phương tiện, khí tài trinh sát, đo đạc và chuẩn bị bắn nhanh, chính xác, đúng thời cơ để tiêu diệt mục tiêu và nhanh chóng rời khỏi chiến đấu. Trong cuộc xung đột Nga - Ukraine, cùng với việc viện trợ các loại vũ khí, trang bị pháo binh, tên lửa hiện đại, các nước phương Tây đã phải tổ chức huấn luyện, đào tạo cho hàng chục nghìn binh sĩ Ukraine. Bên cạnh đó, lực lượng pháo binh, tên lửa Ukraine cũng tích cực tuyển dụng các kỹ sư, sinh viên công nghệ thông tin, điều khiển vào sử dụng các loại máy bay không người lái (UAV) trinh sát, hệ thống ra đa phản pháo, cùng các hệ thống vũ khí pháo binh, tên lửa mới để tham gia chiến đấu. Đối với lực lượng Hamas, trong điều kiện bị giám sát chặt chẽ, song cũng đã bí mật đào tạo nhân lực chế tạo và sử dụng các hệ thống tên lửa, hỏa tiễn; vì thế, đã tạo nên sự bất ngờ trong tác chiến.
Điều đó đặt ra ngay từ bây giờ, cùng với từng bước hiện đại hóa vũ khí, trang bị pháo binh - tên lửa, chúng ta phải chuẩn bị nội dung, chương trình, phương pháp huấn luyện, đào tạo sĩ quan, nhân viên chuyên môn nghiệp vụ, hạ sĩ quan, binh sĩ pháo binh - tên lửa để có khả năng sử dụng thành thạo vũ khí, trang bị mới, nhất là sử dụng máy bay không người lái (UAV) trinh sát, hệ thống tự động hóa chỉ huy điều khiển hỏa lực hiện đại. Cùng với đó, các cơ quan, đơn vị cần tập trung đổi mới toàn diện công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành và đổi mới hình thức, tổ chức, phương pháp huấn luyện, diễn tập, nâng cao sức mạnh chiến đấu theo Nghị quyết số 1659-NQ/QUTW, ngày 20/12/2023 của Quân ủy Trung ương. Để đạt hiệu quả cao, các cơ quan, đơn vị cần tăng cường huấn luyện thực hành để bộ đội làm chủ vũ khí, khí tài, trang bị, nâng cao khả năng cơ động, tốc độ triển khai, thu hồi vũ khí, khí tài và hiệu suất chiến đấu; kết hợp chặt chẽ truyền thống với hiện đại, chú trọng huấn luyện những tình huống, điều kiện khó khăn, phức tạp trong tác chiến hiện đại; tăng cường huấn luyện dã ngoại với cường độ cao để rèn luyện sức bền và ý chí chiến đấu, v.v.
Xây dựng lực lượng pháo binh - tên lửa có sức mạnh chiến đấu cao là vấn đề có ý nghĩa chiến lược vừa cấp thiết vừa lâu dài, đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ lưỡng, vận dụng sáng tạo kinh nghiệm truyền thống, nhất là thực tiễn chiến tranh hiện đại, phù hợp với đặc thù của Pháo binh Việt Nam, nhiệm vụ xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới.
Phát huy “sức mạnh mềm” quốc gia trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc
ùng với sức mạnh quân sự và thế vững mạnh của nền kinh tế thì “sức mạnh mềm” là một trong những yếu tố cơ bản, góp phần quan trọng tạo thành sức mạnh tổng hợp của quốc gia, sẵn sàng để chiến thắng mọi mưu đồ của các thế lực xâm lược, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Vì vậy, phát huy “sức mạnh mềm” quốc gia trong sự nghiệp quốc phòng bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ thường xuyên, trọng yếu, yếu tố rất quan trọng, nhất là trong giai đoạn hiện nay.
Những năm gần đây, khái niệm “sức mạnh mềm” thường xuyên được đề cập và trong thực tế nó đã trở thành nguồn “tài nguyên quyền lực” mới của mỗi quốc gia, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế. Trong một thế giới đang thay đổi, đầy biến động, khó dự báo, thì việc các quốc gia, dân tộc luôn coi trọng sử dụng “sức mạnh mềm” và xác định nó như một trụ cột quốc gia đã, đang là xu hướng chung của cộng đồng quốc tế. Cùng với các sức mạnh khác, “sức mạnh mềm” góp phần mở rộng hợp tác quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, nhất là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ chính trị, bảo vệ nhân dân và môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.
Theo giáo sư Joseph Nye1, “sức mạnh mềm” là khả năng tạo sức hấp dẫn, lôi cuốn, thu hút để các nước khác tự nguyện thay đổi hành vi, chính sách, phù hợp với điều mình muốn, thay vì cưỡng bức thông qua sức mạnh kinh tế, quân sự. Như vậy, có thể hiểu, “sức mạnh mềm” là tất cả các khả năng mà con người, cộng đồng người hay một quốc gia có thể tạo ra, có sức hấp dẫn, lôi cuốn, thu hút, thuyết phục người khác, quốc gia khác tự nguyện làm theo mà không cần thông qua sức mạnh kinh tế, quân sự. Bản chất cốt lõi của “sức mạnh mềm” chính là tính hấp dẫn, các khả năng tạo ra sức mạnh của một quốc gia có sức hấp dẫn đến mức các quốc gia khác tự nguyện làm theo, tự nguyện thay đổi hành vi, chính sách của mình với tinh thần hợp tác, không cần dựa vào sự áp đặt, cưỡng bức.
Khác với “sức mạnh mềm”, “sức mạnh cứng” của một quốc gia được nhận diện bởi sức mạnh quân sự (quy mô tổ chức quân đội; sự hiện đại của vũ khí, trang bị; khả năng cơ động; trình độ tổ chức chỉ huy, hiệp đồng, bảo đảm; lý luận quân sự, nhất là lý luận về nghệ thuật quân sự cùng các yếu tố khác hợp thành) và thế mạnh về kinh tế của một quốc gia (quy mô, trình độ của nền kinh tế; cơ cấu kinh tế; khả năng hội nhập, năng lực cạnh tranh kinh tế quốc tế; khả năng kinh tế huy động cho quốc phòng, an ninh). Bản chất của “sức mạnh cứng” là sự áp đặt, cưỡng bức người khác, quốc gia khác phải làm theo ý muốn của mình, trong khi “sức mạnh mềm” tôn trọng sức hấp dẫn, lôi cuốn, thuyết phục, thu hút để người khác, quốc gia khác tự nguyện làm theo. “Sức mạnh mềm” và “sức mạnh cứng” có mối quan hệ chặt chẽ, củng cố, bổ sung và tăng cường sức mạnh cho nhau, khi được kết hợp có hiệu quả thì tạo thành sức mạnh tổng hợp quốc gia.
Nội dung của “sức mạnh mềm” khá toàn diện, là tất cả các khả năng mà một quốc gia có thể tạo ra; có ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong cả lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và quân sự, như: văn hóa quân sự, văn hóa giữ nước, bản sắc dân tộc, hợp tác quốc tế về kinh tế, v.v. Đặc biệt, “sức mạnh mềm” được thể hiện rõ nét ở các giá trị văn hóa mang bản sắc riêng của một dân tộc, các giá trị từ nền chính trị cũng như các chính sách đối ngoại của một quốc gia. Ngày nay, các quốc gia đều coi trọng, sử dụng “sức mạnh mềm” trong cả đối nội và đối ngoại, nhằm xây dựng sức mạnh tổng hợp để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; trong đó phải kể đến Trung Quốc, Mỹ, Nga, Hàn Quốc, Singapore, v.v.
Trung Quốc là một quốc gia điển hình về sử dụng “sức mạnh mềm”, nhất là trên lĩnh vực văn hóa; Ðại hội XVII Ðảng Cộng sản Trung Quốc lần đầu tiên khẳng định, “sức mạnh mềm” là bộ phận cấu thành quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia cũng như sức cạnh tranh quốc tế của đất nước. Đối với Mỹ, bên cạnh thúc đẩy phát triển sức mạnh quân sự và kinh tế, cũng rất coi trọng tuyên truyền, tạo sự lan tỏa các giá trị Mỹ, trong đó có vấn đề “tự do”, “dân chủ”, nhằm tạo sức hấp dẫn, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, mà trọng tâm là các nhà khoa học lớn của thế giới đến làm việc, học tập và sinh sống tại Mỹ. Về phía Nga đã vận dụng, sử dụng “sức mạnh mềm” - ngoại giao thân thiện, gắn với lợi ích chính trị và kinh tế, tạo ra ảnh hưởng nhất định trong quan hệ với nhiều nước, trở thành quốc gia có khả năng dàn xếp, tháo gỡ “nút thắt” cho các vấn đề khu vực và quốc tế, được các quốc gia ghi nhận và đánh giá cao. Không chỉ các nước lớn, ngay cả nước nhỏ, đất không rộng, người không đông, nhưng biết sử dụng “sức mạnh mềm” hợp lý, vẫn có thể tạo được ảnh hưởng lớn đối với thế giới. Tiêu biểu như Hàn Quốc đã sớm có chiến lược phát triển “sức mạnh mềm” dựa trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hiệu quả các nguồn lực; trong đó, hết sức coi trọng phát triển và phổ quát văn hóa quốc gia. Ðáng chú ý, nước này đã phát triển văn hóa thành nền công nghiệp gắn với các mục tiêu khác, nhờ vậy mà văn hóa, hình ảnh đất nước Hàn Quốc được lan tỏa ra khu vực và thế giới, góp phần nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Với một phương thức khác, nhờ cách tổ chức và quản trị xã hội khoa học, có môi trường hòa bình, ổn định, các chính sách xã hội hợp lý, cùng với khả năng thu hút, sử dụng, trọng dụng nhân tài, Singapore đã có sức hấp dẫn, lan tỏa, thu hút nhiều nhà khoa học lớn, vốn đầu tư và hoạt động kinh doanh của các nước, trở thành một trong những trung tâm thương mại hàng đầu thế giới, đất nước đáng sống và làm việc.
Với Việt Nam, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, “sức mạnh mềm” luôn là bộ phận không thể thiếu, hợp thành sức mạnh tổng hợp quốc gia. Thời nhà Lê, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã thể hiện rõ “sức mạnh mềm” ở chủ trương “Ðem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” và chiến lược “Ngã mưu phạt nhi công tâm, bất chiến tự khuất” - kế đánh vào lòng người, không xông trận mà vẫn khuất phục được đối phương. Trong thời đại Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển “sức mạnh mềm” Việt Nam lên tầm cao mới, với các quan điểm, tư tưởng: dĩ bất biến, ứng vạn biến; nước lấy dân làm gốc; lấy sức dân làm lợi cho dân; văn hóa soi đường cho quốc dân đi; đại đoàn kết dân tộc và các chủ trương về trồng người, về giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, v.v. Ngày nay, “sức mạnh mềm” được phát huy cao độ trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 29 (tháng 8/2016), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: thực lực và vị thế ở đây không chỉ thể hiện trong sức mạnh vật chất mà cả trong “sức mạnh mềm”. Việt Nam có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay là nhờ phát huy cao độ “sức mạnh mềm” cùng với các sức mạnh khác của đất nước.
Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, “sức mạnh mềm” đã, đang có vị trí, vai trò rất quan trọng, cùng với “sức mạnh cứng” hợp thành sức mạnh tổng hợp của quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay, cùng với xây dựng các nội dung cơ bản của nền quốc phòng toàn dân, cần coi trọng nghiên cứu, phát triển “sức mạnh mềm” của quốc gia trong thực hiện nhiệm vụ chiến lược quan trọng này.
Trước hết, cần tiếp tục phát huy “sức mạnh mềm” văn hóa trong sự nghiệp quốc phòng bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam là quốc gia có kho tàng di sản văn hóa đồ sộ, phản ánh cuộc sống lao động sản xuất, sự sáng tạo, phong phú về đời sống tinh thần, cách thức độc đáo về tổ chức cộng đồng, trong đó không thể không nhắc tới các giá trị văn hóa phản ánh sự nghiệp đấu tranh kiên cường, bất khuất của cộng đồng người Việt chống lại sự đồng hóa của ngoại bang và sự nghiệp đấu tranh vũ trang kiên cường, bất khuất chống lại nhiều đội quân xâm lược hùng mạnh - văn hóa quân sự. Văn hóa là nền tảng tinh thần của một dân tộc, “sức mạnh mềm” văn hóa Việt Nam là khả năng huy động, phát huy các giá trị văn hóa vật chất (vật thể), tinh thần (phi vật thể) của dân tộc đối với sự nghiệp quốc phòng bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, giá trị văn hóa tinh thần được thể hiện rất phong phú và đa dạng, như: lòng yêu nước, yêu quê hương xứ sở, sự cố kết cộng đồng, ý chí kiên cường, bất khuất, sự đùm bọc, sẻ chia, yêu chuộng hòa bình, lòng nhân nghĩa, nhân ái, nhân văn, hòa hiếu, khoan dung, độ lượng, v.v. Còn giá trị văn hóa vật thể cùng với văn hóa phi vật thể phản ánh những nét độc đáo về giá trị tinh thần của người Việt Nam qua các thời đại. Với bề dày lịch sử và vị trí địa lý đặc biệt, Việt Nam có nhiều công trình lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh độc đáo, tạo nên một nước Việt Nam có nền văn hóa đa đạng, giàu bản sắc. Giá trị văn hóa tinh thần và giá trị văn hóa vật chất hợp thành giá trị văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc. Ðây là “sức mạnh mềm”, động lực cơ bản trong huy động sức người, sức của cho sự nghiệp quốc phòng bảo vệ Tổ quốc; kết hợp với việc lan tỏa các giá trị văn hóa ấy trong các quốc gia, cộng đồng quốc tế để thu hút, cảm hóa mọi người, tạo ra mối quan hệ thân thiện, gần gũi, từ đó không ngừng nâng cao vị thế, uy tín Việt Nam. Vì vậy, người Việt Nam ở nước ngoài cần lan tỏa mạnh mẽ các giá trị văn hóa Việt Nam với bạn bè quốc tế; đồng thời, quảng bá rộng rãi, sâu sắc các giá trị văn hóa Việt Nam nhằm thu hút các cá nhân, tổ chức nước ngoài đến học tập, công tác, kinh doanh, du lịch, định cư tại Việt Nam và làm cho các giá trị văn hóa Việt Nam ngày càng được phổ biến, lan tỏa trong cộng đồng quốc tế. Ðây là một trong những cơ sở quan trọng để gìn giữ hòa bình, ngăn ngừa các nguy cơ có thể gây mất ổn định, xung đột hay chiến tranh.
Tăng cường, phát huy “sức mạnh mềm” quốc gia từ các giá trị chính trị của đất nước. Trong suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn gắn với một chế độ chính trị nhất định. Sau khi giành được độc lập, Ðảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ chính trị của dân tộc. Đây là chế độ chính trị mà tính ưu việt, đã được minh chứng trên thực tiễn; là cơ sở chủ yếu, động lực cơ bản để huy động sức người, sức của tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc trước đây. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, chủ nghĩa xã hội đang tiếp tục được nghiên cứu, phát triển cho phù hợp với những đặc điểm của đất nước và xu hướng vận động phát triển của xã hội loài người, nhằm ngày càng nâng cao khả năng hòa nhập quốc tế của đất nước. Xét về “sức mạnh mềm” từ các giá trị chính trị của đất nước, phải kể đến sự ổn định chính trị và các chính sách an sinh xã hội từ nền chính trị ấy. Trong khi nhiều nước trên thế giới thường xuyên xảy ra bất ổn về chính trị do nhiều lý do khác nhau, thì Việt Nam rất ổn định về chính trị. Một môi trường hòa bình, ổn định là lợi thế lớn - “sức mạnh mềm” cực kỳ quan trọng, có sức lan tỏa rộng rãi, lôi cuốn, thu hút mạnh mẽ bạn bè quốc tế đến với Việt Nam. Khi đến với Việt Nam, họ cảm thấy yên tâm, tin tưởng, an toàn cả về con người và tài sản, lợi ích của họ cũng được bảo đảm. Cùng với sự ổn định về chính trị, các chính sách xã hội của Việt Nam cũng có sức thuyết phục lớn bạn bè quốc tế. Ở Việt Nam, người dân được làm chủ vận mệnh của mình; được sống, được mưu cầu hạnh phúc, được làm chủ xã hội; cuộc sống vật chất, tinh thần luôn được bảo đảm ở mức tốt nhất có thể, được tự do làm ăn, sinh sống trong hòa bình. Ðây là nguồn “sức mạnh mềm” quan trọng từ các giá trị của nền chính trị Việt Nam, cần được phát triển theo chiều sâu, vững chắc, tạo niềm tin, thuyết phục bạn bè quốc tế đến với chúng ta và hết lòng ủng hộ Việt Nam, làm tăng khả năng quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Cùng với đó, tiếp tục phát huy “sức mạnh mềm” Việt Nam từ các giá trị của các chính sách đối ngoại của quốc gia. Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, tổ tiên ta rất coi trọng kết hợp hoạt động quân sự với đấu tranh ngoại giao. Thời đại Hồ Chí Minh, “vừa đánh, vừa đàm” là một trong những phương châm cơ bản, chỉ đạo đường lối chiến tranh nhân dân của Việt Nam. Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, với đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, “thêm bạn, bớt thù” và các chính sách ngoại giao: Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế; giải quyết các tranh chấp, bất đồng bằng các giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế và lợi ích quốc gia - dân tộc; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; khép lại quá khứ hướng tới tương lai; mở rộng hợp tác quốc tế,… cùng phương pháp ngoại giao thân thiện, khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt nhưng kiên quyết của một dân tộc được hình thành từ nền văn minh lúa nước đã tạo nguồn “sức mạnh mềm” rất quan trọng, có sức lan tỏa rộng rãi, thu hút, lôi cuốn, thuyết phục mạnh mẽ bạn bè quốc tế. Ðây cũng là nguồn sức mạnh không ngừng gia tăng vị thế, uy tín và năng lực cạnh tranh quốc tế của Việt Nam cần tiếp tục được phát huy, phát triển, tạo cơ sở quan trọng cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Có thể thấy, nhờ vào “sức mạnh mềm” đối ngoại cùng với các hoạt động khác, đến nay Việt Nam đã đặt quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia trên thế giới (bao gồm 191/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc), xây dựng quan hệ đối tác toàn diện với 12 nước, quan hệ đối tác chiến lược với 18 nước, trong đó có 05 nước thành viên Thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc. Việt Nam cũng giải quyết hợp lý các vấn đề biên giới với các nước láng giềng, từng bước giải quyết các vấn đề phức tạp trên Biển Ðông bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc. Ðặc biệt, Việt Nam luôn nêu cao chính nghĩa; đại đoàn kết dân tộc; độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên trì nguyên tắc chiến lược, linh hoạt mềm dẻo trong sách lược; tuân thủ tư tưởng: “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với ai” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ðó là một trong những nguồn “sức mạnh mềm” cơ bản, cùng với các sức mạnh khác hình thành sức mạnh tổng hợp quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Xây dựng vững mạnh về chính trị - sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam
Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, mà cốt lõi là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, chăm lo xây dựng bản chất giai cấp công nhân gắn liền với xây dựng tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam là tư tưởng xuyên suốt, nhất quán và là một bài học thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh trong việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân ở một nước có nền kinh tế chậm phát triển. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã kiểm nghiệm và khẳng định tính đúng đắn của bài học đó. Ra đời từ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, do Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, ngay từ ngày đầu thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã được tổ chức theo mô hình có chi bộ đảng lãnh đạo; bên cạnh người đội trưởng, có một cán bộ chính trị chuyên làm công tác chính trị theo đường lối của Đảng. Trong suốt quá trình tổ chức, xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện Quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao quan điểm “người trước, súng sau”, coi chính trị là “gốc”, là nền tảng để xây dựng quân đội. Người khẳng định: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”5. Người luôn nhắc nhở: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”6; do đó, “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội. Phải tăng cường giáo dục chính trị để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân”7. Trung thành và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên trì quan điểm “lấy xây dựng sự vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam”. Trong quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, thông qua công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã truyền bá nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào Quân đội để xây dựng nền tảng tư tưởng của Quân đội; làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ vì ai mà chiến đấu, hy sinh; hiểu rõ mục tiêu, lý tưởng của Đảng cũng là mục tiêu chiến đấu của Quân đội; hiểu rõ Quân đội ta là Quân đội nhân dân. Bằng công tác tổ chức, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thiết lập hệ thống tổ chức Đảng từ Quân ủy Trung ương đến các chi bộ trong Quân đội, cùng hệ thống cơ quan chính trị và các tổ chức quần chúng của Đảng. Đồng thời, đã nhiều lần thay đổi cơ chế Đảng lãnh đạo Quân đội cho phù hợp với thực tiễn, nhằm không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; bảo đảm trong mọi điều kiện, hoàn cảnh Quân đội luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thông qua công tác cán bộ, Đảng chăm lo “công việc gốc” là xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội, trong đó có đội ngũ cán bộ chính trị tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Cùng với đó và thông qua các mặt công tác khác của công tác đảng, công tác chính trị, sự lãnh đạo của Đảng đã đảm bảo cho Quân đội luôn quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhờ thế mà mọi hoạt động của Quân đội trong suốt gần 80 năm qua luôn giữ đúng “con đường chính trị” của Đảng, nhiệm vụ quân sự luôn “phục tùng nhiệm vụ chính trị” của Đảng.
Thực tiễn trong gần 80 năm xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị đã đem lại những thành tựu không thể phủ nhận. Từ khi ra đời đến nay, trong bất cứ hoàn cảnh nào, giai đoạn nào của cách mạng nước ta, Quân đội nhân dân Việt Nam cũng luôn chứng tỏ là lực lượng chiến đấu, lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; đóng vai trò nòng cốt cùng toàn dân chiến đấu giành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Đảng bộ Quân đội luôn được xây dựng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Quân đội luôn kiên định với nền tảng tư tưởng của Đảng; kiên định với mục tiêu chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; luôn giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc; giữ vững và tăng cường các mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa Quân đội với nhân dân và các mối quan hệ trong nội bộ Quân đội. Quân đội luôn vững vàng về chính trị, đi đầu trong đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch; tỏ rõ là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu là cơ bản, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị trong những năm qua cũng còn một số hạn chế, khuyết điểm8. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì ở một số cơ quan, đơn vị đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị có thời điểm chưa thường xuyên. Ý thức, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị có mặt còn hạn chế. Trước tác động của tình hình thế giới, khu vực, sự chống phá bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, một số cán bộ, chiến sĩ còn có biểu hiện dao động về tư tưởng; nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước chưa toàn diện và sâu sắc. Một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện thường xuyên, bị tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, dẫn đến vi phạm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước tới mức phải xử lý kỷ luật, một số trường hợp phải xử lý hình sự. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức đảng chưa cao; công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên ở một số cấp ủy, chi bộ chưa chặt chẽ. Công tác kiểm tra, giám sát và xử lý đảng viên, tổ chức đảng vi phạm kỷ luật ở một số đảng bộ, chi bộ chưa được thường xuyên, không kịp thời phát hiện và ngăn chặn các biểu hiện vi phạm. Một bộ phận cán bộ, chiến sĩ chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về mối quan hệ đoàn kết quân - dân; kết quả tăng cường mối quan hệ giữa Quân đội với nhân dân ở một số cơ quan, đơn vị Quân đội có lúc chưa đáp ứng tốt yêu cầu đề ra. Hiệu quả đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chưa tương xứng với vai trò, vị thế, tiềm năng và sức mạnh của Quân đội, v.v. Những hạn chế, khuyết điểm nói trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, đòi hỏi trong bối cảnh, tình hình mới, phải phấn đấu khắc phục triệt để, phải tăng cường xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị với yêu cầu mới, cao hơn; đó là xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh nhuệ về chính trị.


