Thứ Hai, 3 tháng 2, 2025

Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân, Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của nhân dân.

 


Trong chủ nghĩa xã hội tôn giáo vẫn còn tồn tại lâu dài, đến với tín ngưỡng, tôn giáo là những đòi hỏi, mong muốn, khát vọng của một bộ phận quần chúng nhân dân. Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải thực thi chính sách nhất quán việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của nhân dân. Mỗi công dân có quyền tự do tín ngưỡng theo hoặc không theo tôn giáo nào và đều bình đẳng trước pháp luật. Việc vào đạo, chuyển đạo hay bỏ đạo trong quy định của pháp luật hiện hành là quyền tự do của mỗi người. Nhà nước xã hội chủ nghĩa thừa nhận và đảm bảo cho mọi công dân có hoặc không có tín ngưỡng tôn giáo đều bình đẳng về mặt nghĩa vụ và quyền lợi, không có sự phân biệt và đối xử vì lý do tín ngưỡng tôn giáo. Các tôn giáo được nhà nước thừa nhận đều bình đẳng trước pháp luật. Các giáo hội có trách nhiệm động viên tín đồ của mình thực hiện bổn phận của giáo dân và nghĩa vụ công dân, phấn đấu sống “tốt đời, đẹp đạo” phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc. Khoản 1, Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tin ngưỡng, tôn giáo và không tin ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”[1].



1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2016, tr. 81.

Giải quyết vấn đề tôn giáo phải phân biệt rõ hai mặt: chính trị và tư tưởng.

 


Về mặt chính trị: Quan điểm mácxít cho rằng, trong lịch sử xã hội loài người, những tín ngưỡng, tôn giáo xuất hiện trong chế độ cộng sản nguyên thủy chỉ biểu hiện thuần túy về mặt tư tưởng. Khi xã hội xuất hiện giai cấp và nhà nước thì tôn giáo cũng bắt đầu có những biểu hiện về mặt chính trị. Phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng thực chất là phân biệt sự khác nhau của hai loại mâu thuẫn cùng tồn tại trong bản thân tôn giáo.

Trong xã hội chủ nghĩa, mặt chính trị trong tôn giáo phản ánh mâu thuẫn đối kháng về lợi ích kinh tế, chính trị giữa một bên là Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân lao động, bao gồm cả những người có đạo và những người không có đạo; và bên kia là các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để thực hiện những ý đồ chính trị phản động, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân lao động. Khi phát hiện và xác định chính xác mâu thuẫn đối kháng xuất hiện trong tôn giáo thì phải sử dụng biện pháp chuyên chính để giải quyết kịp thời và triệt để. Có như vậy mới loại bỏ được sự lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch, bảo vệ được thành quả cách mạng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đoàn kết tốt hơn đông đảo quần chúng có tín ngưỡng tôn giáo với toàn dân tộc, bảo đảm cho hoạt động tôn giáo diễn ra một cách bình thường, đúng pháp luật, đáp ứng nhu cầu chính đáng và hợp pháp của bộ phận nhân dân theo các tôn giáo khác nhau.

Ngày nay, các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ” biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó tôn giáo là vấn đề được chúng triệt để chú ý lợi dụng để thực hiện chiến lược này, hòng âm mưu xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó có Việt Nam. Các thế lực thù địch đã gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề nhân quyền và dân quyền nhằm che đậy ý đồ sâu xa của chúng, thường xuyên rình rập tìm mọi khe hở để thực hiện ý đồ chống phá. Điều đó nhắc nhở các Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa cần nêu cao tinh thần cảnh giác, giải quyết kịp thời, cương quyết đối với những phần tử lợi dụng, giả danh, đội lốt tôn giáo.

Về mặt tư tưởng: Trong tôn giáo, mặt tư tưởng phản ánh những khác biệt, những mâu thuẫn về nhận thức, về quan niệm giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo và những người không có tín ngưỡng tôn giáo hay giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau. Đây là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, không có tính chất đối kháng.

Sự khác biệt về mặt nhận thức, tư tưởng giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo và những người không có tín ngưỡng tôn giáo còn tồn tại lâu dài và sẽ là ảo tưởng khi đặt yêu cầu ngay một lúc phải có sự thống nhất tuyệt đối về nhận thức, tư tưởng đối với mọi thành viên trong xã hội. Việc hướng ước mơ của quần chúng tín đồ tôn giáo về “hạnh phúc” hư ảo ở “thế giới bên kia” sang hạnh phúc thực sự ở thế giới hiện tại là một quá trình lâu dài. Quá trình ấy có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của khoa học, trình độ dân trí, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và giải quyết hài hòa các mối quan hệ xã hội.

Sự phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng trong tôn giáo, trên thực tế không hề đơn giản, nhưng lại là rất cần thiết, vì có phân biệt được hai mặt đó thì mới tránh khỏi khuynh hướng “tả” hoặc “hữu” trong quá trình quản lý; mới ứng xử và giải quyết phù hợp những vấn đề nảy sinh từ tín ngưỡng, tôn giáo.

Khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới

 


Chủ nghĩa Mác - Lênin, hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội chủ nghĩa và hệ tư tưởng tôn giáo có sự khác nhau căn bản về thế giới quan, nhân sinh quan và con đường mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại. Tôn giáo phản ánh khát vọng của con người về một xã hội tốt đẹp, nhưng với hệ thống tín điều và giáo lý của mình, tôn giáo phần nào hạn chế sự vươn lên của con người trong cuộc đấu tranh thực tiễn vì một thế giới tốt đẹp, mang lại hạnh phúc thực sự cho loài người ở ngay trần gian. Vì vậy, giải phóng quần chúng nhân dân khỏi ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng tôn giáo là một yêu cầu khách quan của sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng xã hội.

Tuy nhiên, cuộc đấu tranh giải phóng quần chúng nhân dân khỏi ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng tôn giáo không phải và không thể chỉ là cuộc đấu tranh tư tưởng thuần túy cũng không thể nóng vội, chủ quan muốn xóa bỏ ngay tôn giáo hoặc cản trở, cấm đoán tôn giáo, mà phải gắn liền và phụ thuộc vào cuộc đấu tranh chung của xã hội. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, không nên chỉ bó hẹp cuộc đấu tranh chống tôn giáo trong một cuộc tuyên truyền hạn hẹp về mặt tư tưởng, mà phải gắn liền cuộc đấu tranh ấy với thực tiễn cụ thể của phong trào giai cấp nhằm xóa bỏ nguồn gốc xã hội của tôn giáo.

Theo quan điểm mácxít, muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay đổi tồn tại xã hội thông qua hoạt động thực tiễn của con người; muốn xóa bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con người, phải xóa bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy. Đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong tôn giáo là gián tiếp đấu tranh với cái thế giới đang cần có ảo tưởng, chứ không phải là trực tiếp tấn công vào thần, thánh. Điều cần thiết trước hết là phải xây dựng được một thế giới hiện thực không còn sự áp bức, bất công, nghèo đói, bệnh tật... cũng như những tệ nạn khác nảy sinh trong xã hội. Đó là một quá trình lâu dài, quá trình ấy không thể thực hiện được nếu tách rời việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Chỉ có thông qua quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho quần chúng nhân dân, giải phóng quần chúng nhân dân thoát khỏi sự áp bức bóc lột, đem lại hạnh phúc thực sự cho mọi người thì mới có khả năng khắc phục được những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo trong đời sống của một bộ phận quần chúng nhân dân. Cho nên, chủ nghĩa Mác - Lênin hướng cuộc đấu tranh của nhân dân lao động vào cuộc đấu tranh chống đói nghèo, lạc hậu, bệnh tật, còn vấn đề tôn giáo hãy để cho con người được quyền tự do tín ngưỡng. Song, cần kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện chia rẽ, bè phái, kỳ thị, phân biệt đối xử... mà phải tôn trọng sự khác nhau về tín ngưỡng tôn giáo. Cần khai thác và phát huy những tiềm năng của đồng bào các tôn giáo trong quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh. Đó là những việc làm có ý nghĩa thiết thực nhất. Sự thống nhất về lợi ích dân tộc, giai cấp và quốc gia sẽ tạo điều kiện tiến tới sự thống nhất về tư tưởng và hành động. Bên cạnh đó, cũng cần quan tâm và coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục cho quần chúng nhân dân một cách thường xuyên dưới nhiều hình thức. Nhưng công tác tuyên truyền, giáo dục phải gắn liền và phục vụ cho công cuộc xây dựng xã hội mới, đồng thời đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng của nhân dân.

Cơ sở khách quan giải quyết vấn đề dân tộc trong chủ nghĩa xã hội

 


 Xuất phát từ những sai lầm, khuyết điểm của Đảng và Nhà nước trong quản lý kinh tế - xã hội và thực hiện chính sách dân tộc: Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, một số đảng cộng sản không tôn trọng quy luật khách quan, nhận thức không đúng về vấn đề dân tộc, có biểu hiện chủ quan, nóng vội, áp dụng mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội cho các dân tộc mà không tính đến sự khác biệt về trình độ phát triển và những đặc thù về tâm lý, văn hóa dân tộc. Mặt khác, một số nhà nước đề cao chủ nghĩa dân tộc trong cuộc đối đầu ý thức hệ với chủ nghĩa tư bản, có tư tưởng dân tộc nước lớn làm cho quan hệ dân tộc diễn ra theo chiều hướng tiêu cực, ảnh hưởng đến đoàn kết giữa các dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Xuất phát từ những tác động tiêu cực của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội thế giới đến các dân tộc: Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển tác động mạnh mẽ đến tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đưa đến một hệ quả xã hội-chính trị với cả những thuận lợi, cơ hội, phát triển và khó khăn, suy thoái, thách thức. Trong xu thế toàn cầu hoá, tác động mạnh mẽ đến quan hệ dân tộc, làm cho các dân tộc tộc phụ thuộc vào nhau nhiều hơn. Toàn cầu hóa xóa nhòa ranh giới giữa các dân tộc, xuất hiện tư tưởng coi “cái toàn cầu” cao hơn chủ quyền quốc gia dân tộc, làm cho các dân tộc nhỏ có nguy cơ bị tụt hậu, không có cơ hội tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, mất chủ quyền, lợi ích bị xâm hại, ảnh hưởng đến sự ổn định của dân tộc và nền hòa bình của đất nước, đe dọa đến lợi ích của các dân tộc, thổi bùng ngọn lửa xung đột, tranh chấp tài nguyên, lãnh thổ và bảo vệ các giá trị văn hóa.

Về mặt đối ngoại, ranh giới ý thức hệ, tôn giáo, lý tưởng cùng chung chế độ xã hội không còn nhiều ý nghĩa mà thay vào đó là các điểm tương đồng về lợi ích quốc gia dân tộc và được xem là cơ sở để lựa chọn và xây dựng các mối quan hệ song phương cũng như đa phương. Lợi ích quốc gia dân tộc đôi khi được đánh đổi bằng các cuộc chiến tranh xâm lược hay các cuộc đàn áp đối phương. Các thế lực cường quyền toàn cầu triển khai nhiều học thuyết và hành động bất chấp chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc của các nước trên thế giới. Đây vừa là quá trình mở rộng thị trường cho các tập đoàn tư bản độc quyền, vừa là thủ đoạn áp đặt các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới trên cơ sở thủ tiêu chủ quyền, độc lập của các quốc gia dân tộc đang phát triển. Các cuộc chiến ở Ápganixtan, Irắc, Libi, Xyri... là những minh chứng rõ nét cho những đường lối can thiệp thô bạo đó. Xuất hiện chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi trong đời sống quốc tế. Xu thế phát triển đa cực của thế giới cùng những mâu thuẫn của quá trình toàn cầu hóa kết hợp sự cuồng tín tôn giáo đã nảy sinh chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Hơn nữa, chủ nghĩa sô-vanh nước lớn, bành trướng, bá quyền cũng thừa cơ trỗi dậy đe dọa sự ổn định của quốc tế và khu vực.

Xuất phát từ những mâu thuẫn, vướng mắc giữa các dân tộc do lịch sử để lại: Mâu thuẫn lợi ích tộc người, dân tộc về lãnh thổ, tài nguyên, chính trị, kinh tế và giải quyết không đúng đắn quá trình tộc người, duy trì quan hệ bất bình đẳng giữa các dân tộc, tộc người; không có chính sách kinh tế-xã hội đúng đắn để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc ít người, đồng hóa cưỡng bức, dung túng cho chủ nghĩa dân tộc, dùng bạo lực đàn áp các tộc người để áp đặt quan điểm, chính sách của nhà cầm quyền làm cho xung đột giữa các dân tộc ngày càng tăng lên. Các mâu thuẫn đó lại bị các thế lực chính trị lợi dụng khoét sâu, kích động… làm cho mối quan hệ dân tộc càng phức tạp thêm.

Xuất phát từ sự thức tỉnh ý thức tự giác tộc người, dân tộc trong quá trình phát triển: Ý thức tộc người, dân tộc được thức tỉnh và đi đến đấu tranh đòi các quyền dân tộc, đề cao độc lập tự chủ, tự quyết, tự cường, chống lại sự can thiệp áp đặt từ bên ngoài. Đây là một xu thế trong quan hệ quốc tế giữa các quốc gia dân tộc hiện nay. Như Đảng ta nhận định: “Các quốc gia độc lập ngày càng tăng cường cuộc đấu tranh để tự lựa chọn và quyết định con đường phát triển của mình”[1].

Xuất phát từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trong giải quyết vấn đề dân tộc: Chủ nghĩa đế quốc với nhiều âm mưu thủ đoạn để áp bức, bóc lột và nô dịch các dân tộc, chia rẽ, lợi dụng, kích động mâu thuẫn dân tộc để chống phá cách mạng, hoặc lấy đó làm mục tiêu, vũ khí gây mất ổn định, kiềm chế sự phát triển, đồng thời bằng các phương thức khác nhau lôi kéo và ép buộc các dân tộc chậm phát triển chịu sự chi phối và lệ thuộc vào chúng. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, lợi dụng những sai lầm của đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa trong việc giải quyết vấn đề dân tộc, chúng đã kích động và hỗ trợ cho các thế lực dân tộc cực đoan gây nên sự chia rẽ, kỳ thị dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm suy yếu chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng coi vấn đề dân tộc là một mũi tấn công đột kích, một thủ đoạn quan trọng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” để thực hiện mưu đồ của chúng.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2001, tr. 65.

Vị trí của vấn đề dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa


Nói về vị trí của vấn đề dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tức là, vấn đề dân tộc vừa là vấn đề sống còn trước mắt, vừa là vấn đề cơ bản, quan trọng, lâu dài trong suốt tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc sẽ tạo ra một động lực cách mạng to lớn để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Giải quyết vấn đề dân tộc về thực chất là giải quyết vấn đề lực lượng cách mạng nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa; đồng thời đảm bảo cho cách mạng xã hội chủ nghĩa thực sự là vì lợi ích của nhân dân các dân tộc. Giải quyết vấn đề dân tộc vừa là mục tiêu trước mắt, vừa là mục tiêu lâu dài của cách mạng xã hội chủ nghĩa, gắn liền với việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Hơn nữa, dưới chủ nghĩa xã hội, vấn đề dân tộc còn tiếp tục tồn tại và thậm chí còn tồn tại lâu dài. Giành được độc lập dân tộc mới chỉ là bước đi đầu tiên trên con đường đầy khó khăn và phức tạp của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, giành được độc lập về chính trị là cơ bản nhất cho phép giai cấp công nhân có điều kiện để tiếp tục giải quyết vấn đề dân tộc. Nhưng suy cho cùng cái quyết định là phải được độc lập về kinh tế, là sự hình thành một cộng đồng lịch sử mới với những đặc trưng khác với dân tộc tư sản.

Hiện nay, các thế lực đế quốc và thù địch thường xuyên lợi dụng triệt để vấn đề dân tộc, nhất là lợi dụng sự khác biệt của các dân tộc để chia rẽ, phá hoại, làm suy yếu các dân tộc và các lực lượng cách mạng, từng bước thực hiện âm mưu đen tối của chúng là nhằm xoá bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực, xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, buộc tất cả các dân tộc trên thế giới đi vào quỹ đạo của chúng, hoặc lệ thuộc vào chúng. 

Tính tất yếu xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

 


Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: “Không có con đường nào khác dẫn đến chủ nghĩa xã hội, ngoài cách kinh qua chế độ dân chủ, qua tự do chính trị”[1]. Đấu tranh cho dân chủ trở thành bộ phận hữu cơ của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản cho chủ nghĩa xã hội. “Không có chế độ dân chủ thì chủ nghĩa xã hội không thể thực hiện được theo hai ý nghĩa sau đây: (1) Giai cấp vô sản không thể hoàn thành được cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nếu họ không được chuẩn bị cho cuộc cách mạng đó thông qua cuộc đấu tranh cho chế độ dân chủ; (2) Chủ nghĩa xã hội chiến thắng sẽ không giữ được thắng lợi của mình và sẽ không dẫn được nhân loại đi đến chỗ thủ tiêu nhà nước, nếu không thực hiện được đầy đủ chế độ dân chủ”[2]. Kế thừa và phát triển quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen trong điều kiện mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đặt nhân dân lên vị thế chủ thể xã hội, mà còn nói rõ mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời giữa vị thế chủ thể xã hội của nhân dân với hành động làm chủ xã hội của nhân dân. Người khẳng định: “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”, là lợi ích thiết thực của nhân dân, là động lực thúc đẩy nhân dân hành động vì đất nước, vì dân tộc. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ là động lực không chỉ cho những thành công của cách mạng giải phóng dân tộc, mà cả cho những thành công trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam. Chỉ có dân chủ mới tạo điều kiện cho cán bộ và nhân dân phát huy sáng kiến, mới giải phóng được những tiềm năng sáng tạo của nhân dân và trở thành động lực cho sự phát triển và tiến bộ của đất nước. Dân chủ là của quý nhất của nhân dân, còn chuyên chính là cái khóa, cái cửa là để phòng kẻ phá hoại, lấy đi của quý nhất ấy.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam, đặc biệt qua hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và xây dựng chế độ dân chủ chủ xã hội chủ nghĩa cho thấy, Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy”; “thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước[3]. Tuy nhiên, dân chủ hóa trong các lĩnh vực chưa đồng bộ với yêu cầu đổi mới đất nước. Một số tổ chức cơ sở đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu, chưa thực sự tôn trọng ý kiến, kiến nghị của nhân dân và giải quyết kịp thời các quyền, lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của người dân. Một số nội dung về dân chủ, quyền con người chưa được cụ thể hóa thành luật, chính sách; nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền về dân chủ và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa chưa đầy đủ. Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi còn bị vi phạm, việc thực hiện dân chủ có lúc, có nơi còn mang tính hình thức, tách rời dân chủ với kỷ cương, pháp luật[4]



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 52.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 30, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 167.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 71.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 189.

Bản chất chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

 


Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân; bao nhiêu quyền hạn đều của dân; công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân; sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân; chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra; đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”[1], trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”[2]. Luận điểm cơ bản này của Đảng đã khẳng định những vấn đề chủ yếu nhất, cốt lõi nhất của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, thể hiện sự trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phù hợp với thời đại và tình hình thực tiễn Việt Nam.

Bản chất của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được thể hiện trước hết là quyền làm chủ trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đời sống xã hội thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ và làm chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động lãnh đạo, thực hiện nhất nguyên về chính trị. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng các hình thức trực tiếp và gián tiếp, thông qua các tổ chức trong hệ thống chính trị, trong đó nòng cốt là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, trên cơ sở nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Nhà nước “đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân; đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội”.

Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là chế độ dân chủ thực sự, không phải là dân chủ hình thức, cực đoan, vô chính phủ. Nó đối lập với chuyên quyền độc đoán, đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng, quan liêu. Nói một cách khác, dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam chế độ dân chủ thấm nhuần đầy đủ và sâu sắc nhất tính pháp lý và tính nhân văn. Dân chủ trở thành giá trị phổ biến của xã hội, thâm nhập vào mọi quan hệ chính trị - xã hội, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bao quát mọi góc độ trong sự tồn tại của con người, tạo ra ngày càng đầy đủ những điều kiện cho sự giải phóng mọi năng lực sáng tạo của con người. 



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 232.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 84.

Trong chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền dân chủ, làm chủ của nhân dân không ngừng mở rộng và thực hiện thông qua nhiều hình thức dân chủ.

 


 Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất để nhân dân lao động thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân của mình, không ngừng mở rộng và hoàn thiện các hình thức dân chủ như dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp, dân chủ tự quản của các cộng đồng dân cư cùng với việc sử dụng, phát huy các tổ chức, lực lượng xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức nhiều hình thức kiểm tra, kiểm soát mạnh mẽ có hiệu lực của nhân dân từ dưới lên để nhân dân lao động thực hiện và phát huy dân chủ. Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng hoàn thiện và tự tiêu vong trong xã hội cộng sản chủ nghĩa. Về đặc điểm này, V.I.Lênin đã viết: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới có thể đưa lại một chế độ dân chủ thực sự hoàn bị và nó càng hoàn bị bao nhiêu thì lại càng trở nên thừa và tự tiêu vong bấy nhiêu”[1]. Bời vì, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là hình thức nhà nước xã hội chủ nghĩa, vì vậy khi nhà nước tự tiêu vong thì chế độ xã hội chủ nghĩa cũng tự tiêu vong.

Các đặc điểm trên của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là một thể thống nhất, có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại thể hiện sâu sắc bản chất và tính ưu việt của dân chủ xã hội chủ nghĩa.



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 110.

Xu thế các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực tự cường trong thời đại ngày nay

 


Các dân tộc ngày càng hiểu rõ giá trị của độc lập, tự chủ, tự cường. Bài học thực tiễn sâu sắc là mất độc lập, tự chủ, đất nước thường rơi vào cảnh đói nghèo, bất công, vị thế trên trường quốc tế giảm sút... Đồng thời, những tấm gương về một dân tộc nhỏ bé như Việt Nam, Cu Ba... đã chủ động, sáng tạo đấu tranh thắng lợi các nước đế quốc giàu mạnh để giành độc lập, tự chủ và phát triển đang cổ vũ cho các dân tộc khác noi theo.

Hiện nay, các dân tộc đang tích cực đấu tranh đòi độc lập, tự chủ chống lại mưu đồ áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản, đứng đầu là đế quốc Mỹ. Ngay cả các nước tư bản là đồng minh của Mỹ cũng muốn khẳng định mình, kiên quyết chống lại sự can thiệp, áp đặt hoặc khống chế của Mỹ. Tuy gặp nhiều khó khăn, song các nước khác vẫn quyết tâm chống lại các hình thức can thiệp, áp đặt của các nước tư bản, đòi thiết lập  trật tự thế giới mới công bằng, bình đẳng, giữ gìn độc lập tự chủ.

Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại quốc tế (ngày 7/11/2006), đan xen vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa có nhiều thời cơ thuận lợi vừa gặp nhiều thách thức. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam là công cụ bạo lực sắc bén của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cần nhận thức sâu sắc nội dung, tính chất, đặc điểm, mâu thuẫn, thời đại hiện nay.

Từ đó, xây dựng niềm tin và trách nhiệm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng mà Đảng và nhân dân giao phó, góp phần xứng đáng vào thắng lợi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Trước mắt, đội ngũ cán bộ đảng viên nói chung và đội ngũ cán bộ ngành quân sự cơ sở nói riêng phải cùng toàn Đảng, toàn dân nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đánh bại chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị, môi trường hoà bình, ổn định của đất nước. Đồng thời cùng với lực lượng Quân đội phải chăm lo nâng cao sức mạnh chiến đấu, nâng cao năng lực công tác vận động quần chúng và hoạt động thực tiễn.

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, chúng ta phải xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện, độc lập, tự chủ, ngày càng hiện đạixây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại[1]; tăng cường an ninh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá tư tưởng; giữ vững ổn định chính trị, xã hội; chủ động làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch. Tăng cường sức mạnh quốc phòng an ninh, dựa vào xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó các lực lượng vũ trang làm nòng cốt; kết hợp với thực hiện đồng bộ đường lối đối ngoại đúng đắn, tạo mối quan hệ quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Kiên định về chiến lược, mềm dẻo về sách lược trong xử lý các tình huống quốc phòng an ninh.

Mỗi cán bộ ngành quân sự cơ sở phải ra sức học tập, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, bản chất công nhân; hiểu biết sâu sắc về thời đại hiện nay: nội dung, tính chất, mâu thuẫn, đặc điểm, xu hướng… quán triệt và thực hiện tốt các Nghị quyết của Đảng và của các cấp, chấp hành nghiêm chỉnh chính sách và pháp luật của Nhà nước; tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, làm chủ vũ khí, trang bị; biết cách phòng tránh và đánh trả có hiệu quả các cuộc chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao của các thế lực thù địch; có khả năng tham gia hợp tác quân sự quốc tế; góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu: hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

 

Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa có nội dung toàn diện và có tính


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 41.

Xu thế hợp tác và đấu tranh, liên kết và cạnh tranh trong thời đại ngày nay.

 


Trước bối cảnh cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, xu hướng toàn cầu hoá và những vấn đề mang tính toàn cầu, các quốc gia dân tộc không thể tự mình độc lập giải quyết mọi vấn đề, buộc phải có sự hợp tác, liên kết. Hơn nữa, xu thế hòa bình giúp cho các nước liên kết, hợp tác sâu rộng trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá..., với hình thức hợp tác từ song phương đến đa phương, từ khu vực đến quốc tế. Dù không đồng đều, song sự hợp tác liên kết đó đã đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho các bên tham gia.

Tuy nhiên, do bản chất chế độ và lợi ích của mỗi quốc gia, dân tộc, giai cấp, lực lượng khác nhau nên sự hợp tác, liên kết đó chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Cội nguồn của những mâu thuẫn là vấn đề lợi ích, nhất là lợi ích kinh tế. Các bên tham gia hợp tác, liên kết đều muốn lợi nhiều nhưng nhiều khi lợi cho đối tượng này lại có thể gây tổn hại cho đối tượng khác. Vì thế, quá trình hợp tác, liên kết cũng là nơi diễn ra cuộc đấu tranh giữa các lợi ích, mà chủ thể của các lợi ích này là các tập đoàn kinh tế, các giai cấp, dân tộc, quốc gia và liên quốc gia.

Nguyên nhân tồn tại tôn giáo hiện nay


Trong chủ nghĩa xã hội cơ sở nảy sinh tôn giáo vẫn còn tồn tại, chưa khắc phục triệt để ngay được nên tôn giáo vẫn còn tồn tại. Các nguyên nhân để tôn giáo  còn tồn tại trong chủ nghĩa xã hội bao gồm: nguyên nhân về nhận thức; nguyên nhân chính trị - xã hội; nguyên nhân tâm lý; nguyên nhân kinh tế và nguyên nhân về văn hoá.

Nguyên nhân về nhận thức. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong chế độ xã hội chủ nghĩa, mặc dù lực lượng sản xuất; đặc biệt là khoa học đã có bước phát triển vượt bậc, con người đã đạt được những thành tựu to lớn về khoa học và công nghệ giúp con người có khả năng nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn về tự nhiên, xã hội và con người. Nhưng, thế giới khách quan là vô tận, còn nhận thức của con người là một quá trình có giới hạn trong thế giới vô tận. Trong thời kỳ này, trước thế giới tự nhiên, xã hội và con người còn nhiều vấn đề mà khoa học chưa thể lý giải được nên những sức mạnh tự phát của tự nhiên và xã hội còn tác động và chi phối đến đời sống con người. Mặt khác, quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trình độ dân trí của nhân dân chưa thật cao. Do đó, trước những sức mạnh tự phát của giới tự nhiên, xã hội và con người mà con người vẫn chưa thể nhận thức và chế ngự được đã khiến một bộ phận nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa đã đi tìm sự an ủi, che chở và lý giải từ sức mạnh của đấng siêu nhiên, thần, thánh. Đây là nguyên nhân trực tiếp nhất khiến tôn giáo vẫn còn tồn tại trong chủ nghĩa xã hội.

Nguyên nhân về chính trị - xã hội. Trong chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là trong thời ký quá độ, những tàn dư của chế độ xã hội cũ vẫn còn tồn tại; trong khi đó tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, biến đổi chậm hơn so với tồn tại xã hội; nó là một hình thái ý thức xã hội bảo thủ, trì trệ nhất trong các hình thái ý thức xã hội. Mặt khác, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, gắn với nhiều hình thức sở hữu khác nhau dẫn đến sự bất bình đẳng về kinh tế và phân hóa giàu nghèo trong xã hội, nên trước những biến cố trong xã hội, nhất là gặp khó khăn trong đời sống xã hội một bộ phận quần chúng nhân dân đã tìm đến sự che trở, an ủi từ các đấng siêu nhiên, thần, thánh. Ngoài ra, nội dung giáo lý của tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với chủ nghĩa xã hội như giá trị đạo đức, văn hoá của tôn giáo đáp ứng nhu cầu của một bộ phận quần chúng nhân dân. Đồng thời, bản thân các tôn giáo cũng có sự điều chỉnh thích nghi trong điều kiện, hoàn cảnh mới. Các thế lực thù địch luôn lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng, chống phá chủ nghĩa xã hội. Do vậy, tôn giáo vẫn còn điều kiện để tồn tại, phát triển trong chủ nghĩa xã hội.

Nguyên nhân về tâm lý. Tôn giáo tồn tại lâu đời trong lịch sử loài người, ăn sâu, bén rễ vào tiềm thức của nhân dân qua nhiều thế hệ trở thành một kiểu sinh hoạt văn hoá tinh thần không thể thiếu của cuộc sống. Mặt khác, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, con người vẫn còn có những tâm lý sợ hãi trước những hiện tượng tự nhiên, xã hội như động đất, sóng thần..., hay sự ngưỡng mộ trước một vẻ đẹp kỳ bí của tự nhiên, trước những anh hùng, liệt sỹ..., dẫn đến niềm tin  vào các hiện tượng trên là do các đấng siêu nhiên, thần thánh tạo ra. Đây cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản để tôn giáo còn tồn tại trong chủ nghĩa xã hội.

Nguyên nhân về kinh tế. Chủ nghĩa xã hội là giai đoạn thấp của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, về mọi phương diện kinh tế, đạo đức, tinh thần, nhất là về kinh tế còn mang dấu vết của xã hội cũ. Trong chủ nghĩa xã hội, nhất là giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, gắn với nhiều hình thức sở hữu khác nhau với những lợi ích kinh tế khác nhau của các giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội là một tất yếu khách quan. Do vậy, trong thời kỳ này trong xã hội sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hoá , xã hội ... vẫn còn tồn tại là một thực tế; đời sống vật chất,tinh thần của nhân dân chưa cao, còn nhiều bất bình đẳng về sở hữu và thu nhập đã mang đến cho con người những yếu tố ngẫu nhiên, may rủi. Điều đó đã làm cho một bộ phận nhân dân có tâm lý thụ động, nhờ cậy, cầu mong vào những lực lượng siêu nhiên ban phát, giúp đỡ. Đó chính là nguyên nhân về kinh tế mà tôn giáo còn tồn tại trong chủ nghĩa xã hội.

Nguyên nhân về văn hoá. Tôn giáo có những điểm còn phù hợp với chủ nghĩa xã hội, với đường lối, chính sách của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Bản thân tôn giáo cũng có giá trị tốt đẹp về mặt văn hóa, đạo đức nhất định về giáo dục ý thức cộng đồng, đạo đức, phong cách, lối sống; sinh hoạt tôn giáo còn có khả năng đáp ứng nhu cầu văn hoá, tinh thần và có ý nghĩa nhất định về giáo dục ý thức cộng đồng, đạo đức, phong cách, lối sống. Những giá trị đạo đức, văn hoá của tôn giáo đáp ứng được nhu cầu của một bộ phận nhân dân. Chính vì vậy, trong một chừng mực nhất định, tôn giáo vẫn có sức thu hút mạnh mẽ đối với một bộ phận quần chúng. Do đó, tôn giáo còn tồn tại trong chủ nghĩa xã hội như một hiện tượng

  

VẤN ĐỀ TÔN GIÁO TRONG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI


 

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hoang đường hư ảo hiện thực khách quan, biến sức mạnh tự phát của tự nhiên và xã hội thành sức mạnh thần bí làm cho con người trở thành nô lệ của sức mạnh đó.

Như vậy, tôn giáo là sản phẩm của xã hội, của những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và mối quan hệ giữa con người với con người. Chính con người sáng tạo ra tôn giáo chứ không phải tôn giáo sáng tạo con người, hơn nữa tôn giáo không phải là hiện tượng tự nhiên tồn tại trước con người, ngoài xã hội con người.

Tôn giáo là một hình thái ý thức - xã hội, nhưng tôn giáo phản ánh không trung thực hiện thực khách quan mà phản ánh sai lệch hiện thực khách quan, biến sức mạnh tự phát của tự nhiên và xã hội trở thành thần bí, làm cho con người trở thành nô lệ của sức mạnh ấy. Trong tác phẩm Chống Đuy rinh, Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Tất cả tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc con người của những lực lượng ở bên ngoài chi phối đến cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng ở siêu trần thế”[1]. Những sức mạnh siêu nhiên đó, lúc đầu chỉ là biểu tượng, suy tưởng của con người trước sự tác động của tự nhiên và sự chi phối của các quy luật xã hội, sau đó được tưởng tượng và tô vẽ thành những lực lượng thần bí, trở thành niềm tin tôn giáo chi phối đời sống thực tiễn của con người.

Niềm tin tôn giáo là niềm tin vào sức mạnh vô hình, mang tính chất thiêng liêng, được con người chấp nhận một cách trực giác và không thể lý giải. Thông qua cơ chế vận hành bằng hệ thống tổ chức, giáo lý, giáo luật, nghi lễ khác nhau của tôn giáo, đã tạo ra sự thần bí tự trói buộc và biến con người trở thành nô lệ của sức mạnh đó.

Tôn giáo, tín ngưỡng và mê tín dị đoan có mối quan hệ với nhau có những nét chung giống nhau là niềm tin vào một lực lượng siêu nhiên nào đó, phản ánh không đúng hiện thực khách quan; song có sự khác biệt về ý thức, niềm tin và những hành vi.

Tín ngưỡng là lòng tin và sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng một cái gì đó, là hạt nhân của ý thức tôn giáo và là yếu tố ban đầu của sự hình thành tôn giáo. Trong thực tế cuộc sống, những tín đồ tôn giáo bao giờ cũng dựa vào một tín ngưỡng, có một lòng tin vào lực lượng siêu nhiên nhất định (lòng tin vào Chúa và thần thánh của đạo Kitô; lòng tin vào Thích ca mầu ni của đạo Phật; lòng tin vào thánh Ala ở đạo Hồi). Vì vậy, khi nói tự do tín ngưỡng thì cũng đã bao hàm hay cũng có ý nghĩa là tự do theo tôn giáo này hay tôn giáo khác.

Khi nói đến tôn giáo thường bao hàm một hệ thống hoàn chỉnh cả quan niệm, ý thức tôn giáo, thể hiện tập trung ở lòng tin tôn giáo, tình cảm tôn giáo và hành vi, tổ chức hoạt động tôn giáo. Trong quá trình phát triển, tín ngưỡng chỉ mang hình thức tôn giáo khi xã hội loài người bắt đầu có sự phân chia giai cấp, khi ý thức tư duy của con người phát triển đến trình độ có sự khái quát cao để hình thành các biểu tượng về đấng siêu nhiên và xã hội có điều kiện vật chất để xuất hiện một lớp người thoát ly sản xuất, chuyên làm nghề tôn giáo, chăm lo việc khái quát, xây dựng các giáo lý, giáo lễ, giáo luật, tổ chức giáo hội thực hiện việc hành lễ và truyền bá tôn giáo. Vì vậy, về mặt pháp lý tôn giáo bao gồm các yếu tố: có một hệ thống giáo lý, giáo luật, giáo lễ; có một tổ chức giáo hội gồm hệ thống các nhà tu hành, các nhà quản lý các giáo phận từ cơ sở của một nước, đến phạm vi toàn thế giới.

Mê tín là lòng tin mê muội, cuồng nhiệt không trên cơ sở khoa học và lẽ phải thông thường; dị đoan là sự suy luận, suy đoán một cách nhảm nhí, bậy bạ, dị thường. Mê tín dị đoan được biểu hiện bằng những hành vi ứng xử mang tính cuồng tín, nhảm nhí, phản khoa học, trái với hành vi thông thường của cộng đồng, tác hại rất lớn đến đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng và của mỗi người.

Trong thực tế sự hình thành, phát triển của các tôn giáo, những hiện tượng mê tín dị đoan thường tác động xen kẽ. Trong tín ngưỡng, tôn giáo nếu nhấn mạnh quá mức yếu tố sức mạnh siêu nhiên, huyền bí và đặt ra những nghi lễ đặc biệt để giao cảm với các lực lượng siêu nhiên đó thì thường dẫn đến mê tín dị đoan và  nó sẽ gây nên những hậu quả rất tai hại có khi rất nghiêm trọng về nhiều mặt, cho cộng đồng và từng cá nhân..., ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự xã hội, đời sống văn hóa, đạo đức của xã hội.



1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, tr. 437. 

Xu thế toàn cầu hóa, nhất là toàn cầu hóa kinh tế trong thời đại ngày nay.

 


Toàn cầu hoá nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội đang là một xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia. Hiện nay, toàn cầu hóa nhiều lĩnh vực xã hội, mà cốt lõi là toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ. Toàn cầu hóa xét về bản chất là quá trình tăng lên rất nhiều những mối liên hệ, sự ảnh hưởng tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các quốc gia, khu vực, các dân tộc trên toàn thế giới. Toàn cầu hoá kinh tế do sự phát triển của lực lượng sản xuất, tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất trên phạm vi quốc gia và quốc tế; do nền kinh tế thị trường... Toàn cầu hoá tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đang trở thành cơn lốc cuốn hút các khu vực và các nước trên thế giới, chi phối những biến đổi của tình hình thế giới.

Toàn cầu hoá nhiều lĩnh vực mở ra sự liên kết quốc tế ngày càng tăng, nhưng cuộc đấu tranh vì lợi ích quốc gia, dân tộc, khu vực cũng rất gay gắt và phức tạp. Toàn cầu hoá kinh tế tạo ra nhiều cơ hội cho sự phát triển thông qua hợp tác, chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường, thu hút đầu tư; tạo thuận lợi nắm bắt nhanh chóng thông tin và tri thức mới; nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đồng thời, nó làm cho nền kinh tế của đất nước lệ thuộc vào sự biến động kinh tế thế giới, đặt các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển và chậm phát triển vào cuộc cạnh tranh gay gắt không cân sức. Toàn cầu hoá dễ làm cho các nước nghèo từ chỗ lệ thuộc về kinh tế các nước tư bản phát triển, bị lệ thuộc về chính trị, đe dọa tới an ninh quốc gia, độc lập chủ quyền dân tộc. Toàn cầu hoá vừa tạo điều kiện tiếp thu các thành tựu văn hoá của nhân loại, vừa có thể là nguy cơ làm phai nhòa bản sắc văn hoá, du nhập văn hoá tư sản, lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân từ các nước tư bản chủ nghĩa.

Toàn cầu hóa là một cuộc đấu tranh gay go, phức tạp trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Vì thế, để hội nhập và phát triển, các nước phải chủ động, sáng tạo, tận dụng cơ hội, phòng tránh nguy cơ tác động tiêu cực của toàn cầu hóa.

Mâu thuẫn giữa tư bản và lao động trong thời đại ngày nay


Mâu thuẫn giữa tư bản và lao động được biểu hiện nổi bật ở quan hệ đối kháng giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và các tầng lớp lao động khác trong xã hội tư bản. Đây là mâu thuẫn giữa hai giai cấp cơ bản trong xã hội tư bản, phản ánh bản chất bóc lột lao động làm thuê của giai cấp tư sản. Mâu thuẫn này bắt nguồn từ mâu thuẫn kinh tế của chủ nghĩa tư bản: giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Trong giai đoạn hiện nay, giai cấp tư sản đã tiến hành những điều chỉnh để thích nghi với điều kiện mới, nhằm tránh nguy cơ bùng nổ xung đột, đe doạ sự tồn tại của chế độ tư bản chủ nghĩa. Chúng ra sức tận dụng các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại để tạo sự tăng trưởng, cải thiện một phần đời sống và nới rộng một số quyền lợi cho người lao động.

Nhờ đó, chủ nghĩa tư bản còn có khả năng phát triển nhất định. Song, những nỗ lực điều chỉnh ấy không hề làm giảm bớt sự phân cực giữa giai cấp tư sản ngày càng giàu lên nhanh chóng và các tầng lớp nhân dân lao động làm thuê nghèo khổ. ở các nước tư bản phát triển, nạn thất nghiệp luôn là mối đe doạ thường trực đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Giá cả sinh hoạt đắt đỏ, bất bình đẳng xã hội gay gắt, sự suy đồi đạo đức, văn hoá và bế tắc cuộc sống… đang đè nặng lên cuộc sống của người dân, cả lao động chân tay và lao động trí óc. Vì thế, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản chống lại giai cấp tư sản vẫn phát triển mạnh mẽ. Mâu thuẫn này chỉ có thể được giải quyết triệt để bằng cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong các nước tư bản chủ nghĩa và các dân tộc bị áp bức trên thế giới.

Hiện nay, mâu thuẫn giữa lao động và tư bản không chỉ diễn ra trong lòng các nước tư bản chủ nghĩa mà cả ở các nước xã hội chủ nghĩa. Chừng nào thành phần kinh tế tư hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và tầng lớp tư sản, quan hệ sản xuất tư bản vẫn tồn tại thì mâu thuẫn này vẫn hiện hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tất nhiên mức độ, phạm vi vận động của mâu thuẫn này đã có những thay đổi do sự chi phối của chủ nghĩa xã hội, của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

  

Tính chất của thời đại hiện nay

 

Tính chất của thời đại hiện nay là quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; đang diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc gay go, quyết liệt, phức tạp, lâu dài để giải quyết vấn đề ai thắng ai giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trên phạm vi thế giới. Đây là cuộc đấu tranh giữa hai kiểu chế độ xã hội khác nhau về bản chất, đang cùng tồn tại, tác động và ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống quốc tế. diễn ra trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Chủ nghĩa tư bản là một chế độ xã hội tiến bộ so với chế độ phong kiến. Tuy đang còn tồn tại và có mặt tiếp tục phát triển cả về vốn, khoa học kỹ thuật, song chủ nghĩa tư bản đã trở lên lỗi thời, lạc hậu, với nhiều mâu thuẫn đối kháng, không thể đại diện cho tương lai nhân loại. Sự quá độ từ xã hội tư bản chủ nghĩa lên xã hội xã hội chủ nghĩa thông qua các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, bằng đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc diễn ra rất gay gắt. Trong quá trình đi đến thắng lợi, cuộc cách mạng này không tránh khỏi có những vấp váp, thậm chí thoái trào. Quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội không phải lúc nào cũng thuận buồm, xuôi gió và có thể về đích trong một thời gian ngắn. Cho dù trải qua cuộc đấu tranh gay gắt, lâu dài và phức tạp, nhưng theo quy luật phát triển tất yếu của xã hội, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

Mặc dù cuối thế kỷ XX đã xảy ra cuộc khủng hoảng và thoái trào tạm thời của chủ nghĩa xã hội, nhưng tính chất căn bản của thời đại hiện nay vẫn là quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Một số nước xã hội chủ nghĩa lâm vào trì trệ, khủng hoảng do những yếu kém, khuyết điểm kéo dài. Nhưng đó không phải là bản chất của chủ nghĩa xã hội. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội vẫn là xu thế khách quan tất yếu của lịch sử xã hội loài người và đang là sự lựa chọn của nhiều quốc gia dân tộc. Chủ nghĩa xã hội vẫn tồn tại ở nhiều nước và đang không ngừng đổi mới, phát triển làm cho lý tưởng xã hội chủ nghĩa trở thành hiện thực và ngày càng thể hiện tính ưu việt như bản chất tốt đẹp của nó.

Sự đổ vỡ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu phản ánh tính chất quanh co, phức tạp của sự phát triển lịch sử nói chung và xã hội chủ nghĩa nói riêng. Để chiến thắng chế độ phong kiến, chủ nghĩa tư bản đã phải mất nhiều thế kỷ. Chủ nghĩa xã hội, một chế độ xã hội mới khác về chất so với các chế độ xã hội trước đó, ra đời mới được gần một thế kỷ, nên không thể tránh khỏi những sai lầm khiếm khuyết. Sự chống phá quyết liệt của chủ nghĩa tư bản và các thế lực phản động cùng những khuyết điểm, những sai lầm chủ quan và sự phản bội chủ nghĩa Mác - Lênin của những phần tử cơ hội trong Đảng cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa đã làm cho Liên Xô và Đông Âu tan vỡ.

Sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới là một quá trình lịch sử lâu dài. Thực tiễn lịch sử cho thấy, chủ nghĩa xã hội tuy là đại diện cho phương hướng tiến lên của thời đại và cuối cùng sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản, nhưng chủ nghĩa xã hội phải tìm tòi và khai phá con đường tiến lên. Con đường đi tới đích tốt đẹp của nhân loại rất quanh co, phức tạp, không phải trong “một sớm một chiều”. Những thành tựu đổi mới, cải cách và phát triển của Việt Nam, Trung Quốc và một số nước xã hội chủ nghĩa đã chứng minh cho triển vọng của chủ nghĩa xã hội trong thời đại hiện nay, chứng minh khả năng có thể khắc phục khuyết điểm, vượt qua những thách thức để có những bước phát triển mới

Sự lãnh đạo của Đảng là tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện, bao trùm mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…

Đặc thù của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Do đó, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là biện pháp, cách thức để thực hiện thành công mục tiêu của Đảng ta đã được xác định trong Điều lệ Đảng: "xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản". Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chính sách; lãnh đạo thể chế hóa đường lối, chính sách thành pháp luật để quản lý Nhà nước và xã hội. Như vậy, pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cần phải liên tục được hoàn thiện để thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, phát huy dân chủ, vì con người, công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Gắn tinh gọn tổ chức bộ máy với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ, biên chế hợp lý, chuẩn hóa chức danh.

 Gắn tinh gọn tổ chức bộ máy với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ, biên chế hợp lý, chuẩn hóa chức danh. Ban hành quy định về khung tiêu chuẩn, tiêu chí bố trí cán bộ ở từng cấp, từ Trung ương tới cơ sở, từng loại hình để chủ động rà soát, xác định có thể bố trí ngay. Đổi mới mạnh mẽ công tác tuyển dụng, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, đánh giá cán bộ theo hướng thực chất, vì việc tìm người, trên cơ sở sản phẩm cụ thể đo đếm được, không có vùng cấm, không có ngoại lệ trong đánh giá cán bộ. Có cơ chế hữu hiệu sàng lọc, đưa ra khỏi vị trí công tác đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và sử dụng đối với người có năng lực nổi trội.