Từ những thủ đoạn chống
phá trên của các thế lực thù địch, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng,
đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch đặt ra một số vấn đề cần lưu
ý:
Thứ nhất, về mục tiêu:
Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm
sai trái, thù địch trước hết cần tập trung vào việc bảo vệ những vấn đề cốt
lõi, nguyên tắc then chốt, luận điểm cơ bản nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của
Nhà nước về đại đoàn kết dân tộc, tự do tôn giáo và tín ngưỡng, bảo đảm quốc
phòng - an ninh, ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm
nghèo, chăm lo nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là
đồng bào dân tộc thiểu số; chính sách đại đoàn kết dân tộc...
Thứ hai, về nội dung:
Những vấn đề mang tính đặc thù của vùng đất Tây Nam Bộ, như về lịch sử, lãnh
thổ, dân tộc… cần tiếp tục được nghiên cứu làm rõ, củng cố thêm các căn cứ lịch
sử, pháp lý, từ đó đẩy mạnh tuyên truyền tạo sự thống nhất trong nhận thức của
đông đảo nhân dân. Để tuyên truyền thuyết phục, cần tổ chức thực hiện hiệu quả các
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong thực
tiễn. Chính sách đại đoàn kết dân tộc, quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng,
quyền bình đẳng giữa các dân tộc, chính sách xóa đói, giảm nghèo, bảo tồn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc… phải bảo đảm được thực hiện đầy đủ và hiệu
quả trên thực tế, hướng đến sự phát triển bền vững của từng vùng. Bất cứ sự vi phạm
nào đối với quyền con người, quyền bình đẳng giữa các dân tộc cũng sẽ tạo cớ để
các thế lực thù địch chống phá.
Thứ ba, về chủ thể:
Mỗi cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng trong hệ thống chính trị đều có nhiệm
vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các luận điểm sai
trái, thù địch, trong đó lực lượng chủ công, nòng cốt là ban chỉ đạo 35 các
cấp, các cơ quan tuyên giáo, báo chí, lực lượng đấu tranh của Bộ Quốc phòng, Bộ
Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông... Cần chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ
các cấp, nhất là ở cơ sở, có năng lực và phẩm chất đạo đức, luôn gần dân, trọng
dân, quan tâm chia sẻ và biết cách giải quyết những nguyện vọng, khó khăn của
dân. Có như thế, chính quyền mới thật sự là chỗ dựa của người dân trong các vấn
đề dân sinh, còn người dân là chỗ dựa của chính quyền trong các vấn đề về tổ
chức và quản lý xã hội. Song song đó, quan tâm phát triển giáo dục - đào tạo để
nâng cao trình độ dân trí, chọn lựa và đào tạo cán bộ ngay trong vùng đồng bào
các dân tộc, xây dựng họ thành hạt nhân đoàn kết để lãnh đạo, tổ chức thực hiện
thắng lợi các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đối với đồng bào các
dân tộc, do điều kiện sống còn khó khăn, điều kiện tiếp cận thông tin còn hạn
chế, nên cần phải chú trọng công tác dân vận thông qua các trí thức, các chức
sắc tôn giáo, người có uy tín trong cộng đồng. Bên cạnh đó, cần phân hóa các
đối tượng chống đối, nhất là những đối tượng trẻ tuổi, để tuyên truyền, giáo
dục, chuyển hóa.
Thứ tư, về cách thức:
Việc tuyên truyền thông qua báo chí, các phương tiện truyền thông xã hội phải
được xem là một mặt trận quan trọng. Cần nâng cao chất lượng, nội dung của các
loại hình báo chí: báo viết, báo nói, báo hình, báo điện tử tiếng dân tộc. Đài
Tiếng nói Việt Nam (VOV) và một số đài phát thanh, truyền hình đã có chương
trình tiếng dân tộc với nội dung phong phú, được đồng bào quan tâm... Vấn đề đặt ra là tạo điều
kiện để các cơ quan thông tin đại chúng không chỉ là kênh tuyên truyền chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước mà còn thật sự là diễn đàn, là nơi thể
hiện tiếng nói của đồng bào các dân tộc thiểu số và các tôn giáo đối với sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong
sạch, vững mạnh. Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của đội ngũ trí thức và các
sư sãi, tầng lớp thanh niên để lực lượng này trở thành những nhân tố tích cực
trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, tích cực tuyên truyền, phổ biến các
chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Cùng với những giá trị
văn hóa vật thể và phi vật thể độc đáo, đồng bào dân tộc
và các tôn giáo còn có
những hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng đặc thù gắn liền với lịch sử và văn hóa
tộc người, tạo thành các phong tục, tập quán, lễ hội giàu bản sắc văn hóa. Vì
thế, chú trọng công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các dân tộc và
tôn giáo phải được xem là một giải pháp quan trọng trong thực hiện chính sách
đại đoàn kết các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc, các tôn giáo
chính là nuôi dưỡng tính đa dạng trong thống nhất; tăng cường đoàn kết thông
qua khẳng định sự đóng góp của các tộc người và các tôn giáo, xây dựng cơ sở
của sự gắn kết dựa trên sự phát triển bình đẳng giữa các dân tộc và quyền tự do
tôn giáo, tín ngưỡng. Chính trong sự đa dạng, các dân tộc sẽ nhận ra tính thống
nhất và vị trí không tách rời của mình trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Chăm lo cho sinh kế và đời sống, giáo dục và chăm sóc sức khoẻ, sự phát triển
ổn định và lâu dài của đồng bào các dân tộc, sự phát triển tự do và hài hòa của
các tôn giáo là vấn đề gốc, căn bản trong công tác đấu tranh tư tưởng. Khi đời
sống đồng bào không ngừng được nâng cao, các dân tộc bình đẳng về cơ hội phát
triển trong một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, giàu mạnh thì không thế
lực nào có thể chia rẽ được khối đại đoàn kết dân tộc.
Phát triển bền vững các
dân tộc cần hướng đến ba trụ cột: Bền vững sinh kế, bền
vững văn hoá - giáo dục và bền vững về môi trường. Bền
vững sinh kế giúp đồng bào cải thiện điều kiện sống, phát triển kinh tế gia
đình, tạo sự bình đẳng về kinh tế. Bền vững văn hoá - giáo dục giúp bảo tồn các
giá trị văn hóa truyền thống, nâng cao dân trí, qua đó bảo đảm bình đẳng về cơ
hội phát triển. Bền vững môi trường giúp đồng bào có một môi trường sống lành
mạnh, an toàn. Đó cũng chính là thực hiện mục tiêu đại đoàn kết dân tộc trong
công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm
sai trái, thù địch ở vùng dân tộc./.
VHT.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét