Lịch sử phát triển của xã hội loài người từng chứng kiến những nấc thang khác nhau gắn với các chế độ sở hữu ruộng đất khác nhau. Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, quyền sở hữu ruộng đất và nô lệ thuộc về chủ nô. Trong chế độ phong kiến, quyền sở hữu ruộng đất chủ yếu thuộc về tầng lớp địa chủ và quý tộc, người dân mặc dù được tự do hơn chế độ chiếm hữu nô lệ trước đó, song có quyền sở hữu đất đai rất hạn chế. Chế độ tư bản chủ nghĩa tiến bộ hơn chế độ phong kiến ở chỗ, người dân được tự do hơn, quyền sở hữu tài sản đa dạng hơn. Tuy nhiên, quyền sở hữu đất đai thuộc về tư nhân tạo cơ sở kinh tế cho sự phân phối dựa trên quyền sở hữu và thúc đẩy sự phân hóa về kinh tế. Sự phân hóa về kinh tế, đến lượt nó, dẫn tới sự phân hóa về cơ hội thụ hưởng các thành tựu phát triển của xã hội. Mặc dù chế độ tư nhân tư bản chủ nghĩa bao gồm trong nó sở hữu tư nhân về đất đai đã tạo ra những thành tựu văn minh vật chất và văn minh tinh thần rất cao, song, từ trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa vẫn ẩn chứa nhiều mâu thuẫn mà nhân loại còn tiếp tục phải nỗ lực giải quyết. Xã hội tư bản chủ nghĩa, như vậy, xét theo quan điểm lịch sử, không phải là đích cuối cùng trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Sở hữu tư nhân về đất đai trong xã hội tư bản chủ nghĩa đương đại chưa là tiền đề để nhân dân thực sự làm chủ. Việc tuyên bố chế độ dân chủ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được thực thi ngay trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa là mang nặng tính hình thức, thiếu đi nền tảng kinh tế vững chắc toàn diện, trong đó có các quyền sở hữu của người dân về đất đai.
Như ở trên đã chỉ ra, trong sở hữu tư nhân về đất đai, tính chất lịch sử - xã hội của sự hình thành đất đai bị làm lu mờ đi. Thực chất, chủ nghĩa tư bản không đặt trọng tâm vào vấn đề này, các nhà tư bản chỉ quan tâm tới lợi nhuận và sự hiện hữu lợi ích từ các quyền tư nhân. Tính chất lịch sử, sự thiêng liêng của đất đai nếu không đem lại lợi nhuận sẽ bị gạt ra ngoài quá trình sản xuất. Xét về khía cạnh xã hội của vấn đề, lợi ích như vậy chưa phải là lớn nhất đối với các quyền sở hữu tư nhân về đất đai.
Ở trình độ phát triển đầy đủ nhất, sở hữu toàn dân về đất đai đem lại sự thụ hưởng và khai thác lợi ích lớn nhất, toàn diện nhất. Mỗi thành viên trong xã hội đều có quyền lợi và trách nhiệm đối với hình thức sở hữu này. Đây là tiền đề để các thành viên trong xã hội có được cơ sở kinh tế để thực hiện quyền làm chủ của mình. Theo cách tiếp cận như vậy, sở hữu toàn dân về đất đai là cơ sở kinh tế của chế độ dân chủ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân - hình thức dân chủ cao và toàn diện nhất, trong đó người dân trở thành chủ thể đích thực của nền dân chủ. Diễn đạt theo cách khác, sở hữu toàn dân về đất đai là cơ sở vững chắc cho việc xây dựng chế độ dân chủ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, là phương thức để thực hiện con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sở dĩ như vậy là vì, việc hướng tới xác lập chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa chính là hướng tới xác lập chế độ dân chủ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân - chế độ xã hội mà trong đó, nhân dân thực sự làm chủ, là chủ và lợi ích của quá trình phát triển là của nhân dân, do nhân dân định đoạt. Cần có nhiều nội dung để đạt được trình độ phát triển như vậy, nhưng nhất định không thể thiếu phương thức sở hữu toàn dân về đất đai. Sở hữu toàn dân về đất đai là nguyên tắc, là căn cứ vững chắc để bảo đảm đúng định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển.
tất cả vì nhân dân thân yêu
Trả lờiXóa