Việc thực hiện Quy chế 05 ở 5 tỉnh, thành phố đã thu được các kết quả đáng ghi nhận. Các đơn, thư tập trung chủ yếu vào những vi phạm của đối tượng giám sát trong thực thi công vụ khi thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, về tư cách và phẩm chất đạo đức cá nhân cũng như đạo đức công vụ, thái độ tiếp xúc với nhân dân khi thực hiện nhiệm vụ. Thực hiện Quy chế 05, các địa phương đã bước đầu chấn chỉnh thái độ làm việc, ý thức tuân thủ các quy định, hướng dẫn cũng như nâng cao thái độ, ý thức phục vụ người dân của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Đồng thời, một bộ phận nhân dân đã hiểu được quyền giám sát của mình nên chủ động phát hiện, tố giác những hành vi vi phạm của cán bộ, công chức, đảng viên trên địa bàn. Đây là sự thay đổi quan trọng, góp phần thực hiện dân chủ ở cơ sở cũng như chấn chỉnh thái độ, trách nhiệm công vụ của công chức cấp xã. Hạn chế rút ra qua thời gian thực hiện Quy chế 05 là, đối tượng giám sát chủ yếu chỉ là cán bộ, đảng viên đang công tác ở chính quyền cấp xã và thôn; với đối tượng là cán bộ, đảng viên các cơ quan đóng trên địa bàn thì hầu như không giám sát được do nhiều nguyên nhân, cả về khách quan cũng như chủ quan.
Đại hội XII của Đảng (tháng 1-2016) đã đánh giá: “Chưa thật sự phát huy dân chủ trong Đảng, phát huy vai trò giám sát, tham gia của nhân dân vào công tác xây dựng Đảng”, đồng thời đề ra phương hướng khắc phục: “Thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát của tổ chức đảng, giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và của nhân dân về phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên”(3). Đây là đánh giá chung được rút ra từ quá trình thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở trên toàn quốc, cũng như từ kết quả thực hiện thí điểm Quy chế 05 tại 5 tỉnh, thành phố trên đây.
Quy định số 217-QĐ/TW và Quy định số 218-QĐ/TW đã phát huy sự tham gia của quần chúng nhân dân, MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng chính quyền; góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc: “Ủy ban MTTQVN các cấp đã làm tốt vai trò chủ trì phối hợp với các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức thành viên khác thực hiện nhiệm vụ GSPBXH... Đồng thời, phát huy vai trò của các hội đồng tư vấn, ban tư vấn, tổ tư vấn, ủy viên ủy ban MTTQVN, các chuyên gia, nhà khoa học trong các lĩnh vực để thực hiện GSPBXH, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền”, “Qua các hoạt động GSPBXH, tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền của MTTQVN đã giúp các cơ quan có thẩm quyền hoạch định, thực thi có hiệu quả hơn các chính sách, pháp luật, góp phần quan trọng trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, ổn định tình hình nhân dân, thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương và cả nước”(4).
Một hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong phát huy dân chủ một cách thực chất đã được MTTQVN các cấp tích cực phối hợp với chính quyền cùng cấp là tổ chức các cuộc đối thoại trực tiếp. Kết quả của hoạt động này là: “Đối thoại trực tiếp đã góp phần tạo môi trường dân chủ, cởi mở, kết hợp đối thoại với nhiều bên, nhiều cấp cùng tham gia... Thông qua hoạt động tiếp xúc, đối thoại cấp ủy, chính quyền, cá nhân người có trách nhiệm, thẩm quyền đã trực tiếp trả lời, tiếp thu và giải quyết những vấn đề liên quan đến từng tổ chức, đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân”(5).
Cụ thể hơn, MTTQVN đã đi đầu trong thực hiện việc giám sát cá nhân người đứng đầu, cán bộ chủ chốt, cán bộ, đảng viên về thực hiện quy định nêu gương, bước đầu đã đạt được một số kết quả, như thu hút sự quan tâm, vào cuộc của quần chúng nhân dân; qua đó, đã có tác dụng ngăn chặn, phòng ngừa những vi phạm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên: “Qua triển khai bước đầu đã tạo nên sự quan tâm của người dân trong theo dõi, nhận xét, phản ánh những biểu hiện không lành mạnh trong đạo đức, lối sống, thực hiện không đúng với các quy định của Đảng và Nhà nước liên quan đến trách nhiệm của các cá nhân, nhất là người đứng đầu. Bằng nhiều hình thức, MTTQVN đã phản ánh trực tiếp với người đứng đầu hoặc thông qua các cuộc họp, hội nghị, một số vụ, việc gửi phản ánh hoặc đề nghị bằng văn bản… có tác dụng tốt cho việc phòng ngừa vi phạm. Qua thông tin, phản ánh đã giúp cho lãnh đạo, cán bộ, đảng viên tự thấy, tự sửa”(6).
Tuy nhiên, việc thực hiện GSPBXH vẫn còn những hạn chế, cả về nhận thức cũng như thái độ trong thực hiện nhiệm vụ GSPBXH của các bên có liên quan, cũng như các quy định cụ thể trong thực hiện nhiệm vụ này: “Nhận thức của một số cấp ủy đảng, lãnh đạo chính quyền về chức năng, nhiệm vụ GSPBXH, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của MTTQVN và các tổ chức thành viên còn chưa đầy đủ, chưa sâu sắc và toàn diện, dẫn đến coi nhẹ công tác GSPBXH, góp ý xây dựng Đảng của các tổ chức này, chưa quan tâm bố trí cán bộ bảo đảm cho việc thực hiện nhiệm vụ, do đó hạn chế tác dụng và hiệu quả hoạt động của MTTQVN các cấp. Trong thực hiện hoạt động giám sát, phản biện, góp ý ở một số địa phương, lãnh đạo MTTQVN chưa thể hiện được bản lĩnh dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Vẫn còn hiện tượng nể nang, né tránh, ngại va chạm trong quá trình GSPBXH và góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền… Chính sách và pháp luật về công tác GSPBXH của MTTQVN hiện nay vẫn còn cần phải tiếp tục bổ sung, hoàn thiện rất nhiều thì mới đáp ứng được yêu cầu về cơ sở pháp luật cho hoạt động giám sát của MTTQVN. Tổ chức bộ máy và đội ngũ nhân sự cũng như các điều kiện khác để bảo đảm cho hoạt động giám sát của MTTQVN còn rất hạn chế”(7).
Khi thực hiện giám sát cá nhân người đứng đầu, cán bộ chủ chốt, cán bộ, đảng viên về thực hiện quy định nêu gương còn gặp phải một số hạn chế và khó khăn, do nhiều nguyên nhân, như “quy định còn có điểm không thực tế, thiếu tính khả thi?... là do căn bệnh nể nang, né tránh, ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý”, dễ người, dễ ta, bệnh hình thức, hành chính, thành tích trong tổ chức đảng và ngoài xã hội vẫn còn nặng?... do thiếu cơ chế để nhân dân tham gia ý kiến?”(8) . Để phát huy vai trò giám sát của nhân dân về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, cần “phải thực hiện công khai, minh bạch về tài sản, thu nhập; thái độ của người lãnh đạo phải thực sự cầu thị, lắng nghe, thực hiện trách nhiệm phản hồi các phản ánh, thông tin; phải có phong cách sâu sát, gần gũi với nhân dân, nói đi đôi với làm. Người đứng đầu phải giữ vững nguyên tắc, thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình, xử lý nghiêm các vi phạm, thực hiện dân chủ, kỷ cương; không tham nhũng, không xa hoa, lãng phí”(9). Tóm lại, để GSPBXH thực sự đạt kết quả như mong muốn, cần phải có nỗ lực của nhiều cấp, nhiều ngành, cùng với đó là tiếp tục cụ thể hóa hơn nữa nội dung các quy định, nâng cao hiệu lực thực thi, bảo đảm tính bắt buộc,…
Từ thực tiễn thực hiện GSPBXH qua những nhiệm kỳ gần đây của Đảng, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
Thứ nhất, thực hiện GSPBXH phải đặt trong quá trình dân chủ hóa xã hội có lộ trình, với bước đi thích hợp, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thông qua sự quản lý của Nhà nước và phát huy tính tích cực của quần chúng nhân dân.
Việc mở rộng thực hành GSPBXH phải phù hợp với trình độ dân chủ, đặt trong tổng thể trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ dân trí,… tương thích với những sự thử nghiệm, bước đi thích hợp. Từ thực tế có thể thấy rõ điều này, khi trong nhiệm kỳ Đại hội VIII của Đảng, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18-2-1998, “Về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”. Để thể chế hóa Chỉ thị số 30-CT/TW, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP, ngày 11-5-1998, về “Quy chế thực hiện dân chủ ở xã”; Nghị định số 71/1998/NĐ-CP, ngày 8-9-1998, về “Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan”; Nghị định số 07/1999/NĐ-CP, ngày 13-2-1999, về “Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước”. Những quy định đó đã thúc đẩy việc thực hiện dân chủ trên mọi lĩnh vực, chỉ rõ quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi bên có liên quan. Từ những bước đi đó, mới dẫn đến sự ra đời của Quy chế 05, thực hiện thí điểm ở 5 tỉnh, thành phố; thể hiện sự thận trọng cần thiết, để có thể thực hiện được nhiệm vụ quan trọng, mới mẻ này.
Đồng thời, chỉ khi thực hiện GSPBXH dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thì mới có thể tập trung hết tiềm lực, phát huy hết khả năng đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của MTTQVN, các đoàn thể chính trị - xã hội và quần chúng nhân dân; tránh những sự xung đột, tự phát có thể làm chệch hướng hoặc giảm hiệu quả của công tác GSPBXH.
Thứ hai, kết quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trên tất cả các mặt tỷ lệ thuận với kết quả thực hiện GSPBXH.
Làm tốt GSPBXH sẽ góp phần tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng không phải là công việc nội bộ của Đảng, không chỉ là việc thực hiện những nguyên tắc, quy định, hướng dẫn,… trong sinh hoạt định kỳ, trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của các tổ chức đảng các cấp; mà cũng chính là thực hiện việc giữ gìn, củng cố và phát huy mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; muốn vậy, phải huy động mọi tâm huyết, đóng góp của quần chúng nhân dân, trong đó có hoạt động GSPBXH.
Nhìn lại những nhiệm kỳ Đại hội Đảng từ khi đất nước ta tiến hành đổi mới toàn diện đến nay có thể thấy rõ điều đó. Đại hội VI của Đảng đã đề ra: “Cần đưa công khai trên báo, đài, hoặc qua các cuộc sinh hoạt của các tổ chức đảng và đoàn thể quần chúng những vụ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cao cấp, mắc sai lầm nghiêm trọng về phẩm chất. Điều đó chỉ làm tăng lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”(10). Đây chính là thể hiện ý tưởng về quan hệ khăng khít giữa giám sát của quần chúng nhân dân với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, mà sau này được hiện thực hóa qua các nhiệm kỳ kế tiếp. Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII ban hành Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), nhằm ngăn chặn, đẩy lùi những thói hư, tật xấu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, cùng 4 nguy cơ đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp cách mạng, làm giảm lòng tin với Đảng của quần chúng nhân dân; đồng thời, Bộ Chính trị khóa VIII ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW để thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở. Hội nghị Trung ương 4 khóa XI ban hành nghị quyết chuyên đề về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đồng thời, Bộ Chính trị khóa XI ban hành các Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW, để đẩy mạnh hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thông qua GSPBXH.
Thứ ba, sự quyết tâm của MTTQVN, các đoàn thể chính trị - xã hội sẽ quyết định chất lượng, hiệu quả của hoạt động GSPBXH.
Giám sát, phản biện của MTTQVN, các đoàn thể chính trị - xã hội và quần chúng nhân dân mang tính chất xã hội, nghĩa là tính bắt buộc không cao; hiệu quả của nó chỉ có thể phát huy tốt nếu có sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tác động của GSPBXH cần nhìn nhận qua thời gian dài, đồng thời kết quả của nó cũng chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Nếu không có sự quyết tâm lâu dài, sự vào cuộc quyết liệt, sự nhiệt tình vì sự nghiệp chung của MTTQVN, các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp thì GSPBXH khó có thể có kết quả như mong muốn.

bài rất thiết thực
Trả lờiXóa