Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến đạo đức và quá trình tu dưỡng đạo đức của người cách mạng. Sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh gắn liền với sự phát triển và xây dựng đạo đức cách mạng mà Người là biểu tượng sáng ngời!
Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một người cộng sản mẫu mực, kiên định trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa quốc tế chân chính của giai cấp công nhân. Đó là đạo đức của người kiên trì đấu tranh, dâng hiến trọn cuộc đời và sự nghiệp của mình cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng xã hội và giải phóng con người.
Đạo đức Hồ Chí Minh là sự hội tụ và kết tinh đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam. Người là tấm gương mẫu mực về giữ gìn, phát huy những giá trị đạo đức truyền thống đó để trở thành nguồn lực nội sinh của dân tộc, góp phần thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Trung với nước, hiếu với dân
Trung, hiếu là đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam nói riêng và của người phương Đông nói chung, được Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển trong điều kiện mới. Theo Người, trung với nước là trung thành vô hạn với lợi ích quốc gia, dân tộc, với sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, làm cho đất nước “sánh vai với các cường quốc năm châu”.
Ngay từ những ngày đầu cách mạng, khi mở lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ đầu tiên ở Quảng Châu, Trung Quốc, một trong những vấn đề đầu tiên Hồ Chí Minh quan tâm là đào tạo những người tự nguyện phấn đấu, hy sinh suốt đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người; trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, biết đoàn kết và tổ chức nhân dân cùng phấn đấu vì sự nghiệp chung.
Khi Đảng được thành lập, Người luôn nhắc nhở các đồng chí của mình: “Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau...”(2).
Lòng yêu nước, trung với nước là cơ sở để Hồ Chí Minh đúc rút thành thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(3).
Về chữ hiếu, theo Hồ Chí Minh là hiếu với dân. Người chỉ rõ: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân… Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ lợi ích của nhân dân”(4). Hiếu với dân là “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(5). Theo đó, Đảng lãnh đạo để nhân dân có quyền và thực hiện quyền làm chủ; lãnh đạo phải gần dân, sát dân để hiểu dân tình, dân tâm, dân nguyện; phải “kính trọng, lễ phép” với nhân dân, học hỏi nhân dân, thường xuyên quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí để nhân dân hiểu và thực hiện đúng quyền và trách nhiệm. Vì vậy, “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh(6) .
Trung với nước, hiếu với dân kết tinh trong đạo đức đạo đức Hồ Chí Minh là lòng yêu nước thương nòi, tự hào với truyền thống của dân tộc như Người đã khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy càng sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(7); là bổn phận và trách nhiệm của mỗi người dân với cộng đồng, với sự nghiệp cách mạng, với sự hưng vong của đất nước; là ý chí và nghị lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hy sinh vì mục tiêu chung; là sự tin yêu, kính trọng nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân…
Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình
Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh là tấm gương cao đẹp về tình yêu thương con người. Khi đất nước chưa được độc lập, tự do, tình yêu thương con người, yêu nước là động lực thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Khi tìm thấy con đường cứu nước và giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh tìm cách khơi dậy trong con người Việt Nam lòng yêu nước, niềm tin, ý chí cách mạng để họ đứng lên đấu tranh giải phóng mình, biến ước mơ, lý tưởng thành hiện thực. Đất nước hòa bình, thống nhất, nhân dân bắt tay xây dựng cuộc sống mới, tình yêu thương con người của Hồ Chí Minh là quan hệ gắn bó với nhân dân, là những quan tâm tới đời sống vật chất, tinh thần của mọi tầng lớp trong xã hội.
Tình yêu thương, nhân ái của Hồ Chí Minh là nhân tố xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Hiểu thấu tâm tư, tình cảm của nhân dân, Người đã khơi gợi lòng tự hào, tự tôn dân tộc, biến khát vọng độc lập, tự do thành mục tiêu chung của toàn dân trong từng thời kỳ cách mạng. Lấy lòng nhân ái làm gốc, Hồ Chí Minh nhiều lần kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân vượt qua mọi định kiến để phát huy tài năng, trí tuệ, xây dựng khối đại đoàn kết: “không phân biệt tầng lớp nào, tín ngưỡng nào, chính kiến nào và trước đây đã đứng về phe nào, chúng ta hãy thật thà cộng tác, vì dân nước mà phấn đấu để thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ”(8).
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi vấn đề để giải quyết. Người đã gạn lọc những nét hay, nét đẹp trong đạo lý làm người của ông cha ta để xây dựng nên những chuẩn mực, nhân cách mới cho con người Việt Nam thời đại mới. Đây là phẩm chất nổi bật, cơ bản, trung tâm của đạo đức Hồ Chí Minh; gắn liền với hoạt động hàng ngày của Người, được Người xem là nền tảng của đời sống mới, là mối quan hệ “với tự mình”. Đây cũng là phẩm chất Người đề cập nhiều nhất trong giáo dục cán bộ, đảng viên.
Ngay từ năm 1927, khi viết tập bài giảng Đường kách mệnh cho lớp đào tạo cán bộ đầu tiên của Đảng, người đã yêu cầu cán bộ cách mạng “Tự mình phải: Cần kiệm/ Hòa mà không tư/ Cả quyết sửa lỗi mình/ Cẩn thận mà không nhút nhát/ Hay hỏi/ Nhẫn nại (chịu khó)/ Hay nghiên cứu, xem xét/ Vị công vong tư/ Không hiếu danh, không kiêu ngạo/ Nói thì phải làm/ Giữ chủ nghĩa cho vững/ Hy sinh/ Ít lòng ham muốn về vật chất/ Bí mật. Đối người phải: Với từng người thì khoan thứ/ Với đoàn thể thì nghiêm/ Có lòng bày vẽ cho người/ Trực mà không táo bạo/ Hay xem xét người. Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng/ Quyết đoán/ Dũng cảm/ Phục tùng đoàn thể”(9). Năm 1947, trong tác phẩm Sửa đổi lề lối làm việc, những phẩm chất, tư cách đạo đức đó được Người đúc rút thành: “Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm” và sau này là “Cần, kiệm, liêm, chính”.
Phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính luôn được Hồ Chí Minh nhắc đến mỗi khi Người đề cập đến vấn đề đạo đức; coi là phẩm chất đạo đức cần thiết đối với tất cả mọi người, càng cần thiết đối với cán bộ, đảng viên: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông/ Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc/ Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính/ Thiếu một mùa, thì không thành trời/ Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người(10).
Cần là lao động cần cù, siêng năng, chăm chỉ; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ý lại, không dựa dẫm. Có cần thì việc gì dù khó khăn đến mấy cũng làm được.
Kiệm là tiết kiệm tiền của dân, của nước, của bản thân mình, tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, từ nhiều cái to đến nhiều cái nhỏ, vì nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to, không hoang phí, không bừa phô trương, hình thức. Tiết kiệm là để tích trữ vốn, mở rộng sản xuất, không phải là keo kiệt, bủn xỉn. “Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc lợi ích cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm…Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm”(11).
Liêm là trong sạch, “luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân”(12), “không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân”(13), “không tham địa vị, không tham tiền tài... Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa...”(14).
Chính là ngay thẳng, đúng đắn, chính trực. Đối với mình không tự cao, tự đại; đối với người không nịnh trên, khinh dưới, không dối trá, lừa lọc, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết. Đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà.
Chí công là rất mực công bằng công tâm; vô tư là không được có lòng riêng, thiên vị. Muốn “chí công vô tư” phải chiến thắng chủ nghĩa cá nhân, phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là dày xéo lên lợi ích cá nhân, mà phải giải quyết hài hòa quan hệ chung riêng, cần ưu tiên lợi ích chung.
Tinh thần quốc tế trong sáng.
Đây là phẩm chất đạo đức được Hồ Chí Minh thể hiện trong mối quan hệ quốc tế ngay từ những ngày Người bôn ba tìm đường cứu nước. Đó là tình hữu ái với những người lao động, những người vô sản các nước với tinh thần “Bốn phương vô sản đều là anh em”; là tình đoàn kết chiến đấu với những người yêu nước ở các nước thuộc địa và những người cộng sản trong phong trào cộng sản quốc tế; tình hữu nghị với nhân dân các nước, đặc biệt nhân dân Pháp, Liên Xô, Trung Quốc; ủng hộ sự nghiệp cách mạng của mỗi nước và bằng sự giúp đỡ chí tình với tinh thần “giúp bạn cũng là tự giúp mình”.
Đạo đức Hồ Chí Minh về đại đoàn kết quốc tế là sự mở rộng những quan niệm đạo đức, nhân đạo, nhân văn của Người ra phạm vi toàn nhân loại, vì Người là “Người Việt Nam nhất”, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới./.
Yêu nước ST.

bài rất thiết thực
Trả lờiXóa