Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh không để lại những trước tác lý luận bàn riêng chủ đề về hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, Người để lại di sản tư tưởng rất sâu sắc và đặc biệt có giá trị đối với những người làm công tác xây dựng, thực thi pháp luật, thể hiện trong nhiều bài nói, bài viết và trong hành động thực tiễn cách mạng trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959, trong 24 năm chỉ đạo xây dựng nhà nước kiểu mới - Nhà nước của nhân dân lao động, Nhà nước của giai cấp cần lao chính thức được thiết lập ở nước ta kể từ ngày Quốc khánh 2-9-1945.
Nghiên cứu những tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng quá trình chỉ đạo cách mạng, xây dựng bộ máy nhà nước, xây dựng hệ thống pháp luật, có thể thấy rõ những tư tưởng lớn của Người về tầm nhìn, nội dung, yêu cầu và cả cách tư duy trong thiết kế và thực thi pháp luật:
Thứ nhất, hệ thống pháp luật Việt Nam cần xây dựng là hệ thống pháp luật chứa đựng những giá trị công bằng, nhân văn, chính nghĩa, vì nhân dân lao động và vì con người.
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng cứu nước, cứu dân của mình, sống, nghiên cứu và trải nghiệm ở hơn 30 quốc gia, khắp năm châu, với bao khó khăn, gian khổ, bằng nhãn quan chính trị và trí tuệ thiên tài, hiểu sâu sắc bản chất vô nhân đạo và phi nghĩa của chế độ thực dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh, với lòng yêu nước thương dân vô hạn, mong muốn xây dựng hệ thống pháp luật vì nhân dân lao động, vì con người sau khi đã giành được chính quyền.
Trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 chính thức khai sinh chế độ mới, khai sinh nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn những bản tuyên ngôn bất hủ trên thế giới để khẳng định “những lẽ phải không ai chối cãi được”, mang giá trị “nhân đạo và chính nghĩa”; phê phán chế độ thực dân, phong kiến có thứ “luật pháp dã man”. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Người chỉ rõ: “Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ”(2). Trong thực tế, chính Người đã chỉ đạo soạn thảo Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 với những nội dung thể hiện đậm nét tính dân chủ, vì con người.
Hệ thống pháp luật mà Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn xây dựng là sản phẩm của chế độ có một “mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người… đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy”(3). Trong bài phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Tư pháp toàn quốc năm 1950, Người chỉ rõ: “Pháp luật của ta hiện nay bảo vệ quyền lợi cho hàng triệu người lao động… Pháp luật của ta là pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động”(4).
Thứ hai, hệ thống pháp luật Việt Nam cần xây dựng là hệ thống pháp luật dựa trên nền tảng Hiến pháp dân chủ và các đạo luật.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ý thức rất sớm tầm quan trọng của Hiến pháp và các đạo luật trong quản lý nhà nước và xã hội. Ngay từ năm 1919, trong bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi tới Hội nghị Versaile, Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu phải “thay thế chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”. Bản yêu sách ngắn gọn, súc tích đã tập trung vào các nội dung đòi tự do, dân chủ cho nhân dân các nước thuộc địa, thể hiện rõ ý thức đề cao, khẳng định vị trí, tầm quan trọng của các đạo luật trong đời sống của một dân tộc, một xã hội(5). Năm 1922, Nguyễn Ái Quốc đã truyền bá rộng rãi trong kiều bào và chuyển về nước bản “Việt Nam yêu cầu ca”, chuyển thể nội dung bản yêu sách thành những vần ca dao dễ đọc, dễ nhớ và yêu sách thứ 7 đã chuyển thành 2 câu thơ lục bát: “Bảy xin Hiến pháp ban hành. Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”. Như vậy, ngay từ năm 1922, Nguyễn Ái Quốc, đã nêu “ban hành Hiến pháp” phải trở thành một yêu cầu, một đòi hỏi, một yêu sách của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Hơn nữa, Người yêu cầu pháp quyền đối với “trăm đều” - tức là mọi thứ, là toàn xã hội(6). Khi đã giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, Việt Nam “phải có một hiến pháp dân chủ” để nhân dân được quyền tự do, dân chủ. Trong Thể lệ tổng tuyển cử(7), tại Điều thứ 2 đã quy định: “Tất cả những công dân Việt Nam 18 tuổi trở lên không phân biệt nam nữ đều có quyền bầu cử và ứng cử”.
Trong thực tiễn, dưới sự lãnh đạo của Người, sau một thời gian soạn thảo và xin ý kiến nhân dân, ngày 9-11-1946, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên trong lịch sử nước nhà. Bản Hiến pháp trang trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều thứ nhất), đồng thời “thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” (Lời nói đầu). Do chiến tranh, việc cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1946 thành các đạo luật không có điều kiện được thực hiện đầy đủ, nhưng dựa trên các quy định của Hiến pháp năm 1946, Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật quan trọng để tổ chức các cơ quan trong chính quyền và thực hiện huy động lực lượng của nhân dân cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, đưa tới sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp vào năm 1954. Sau kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, để bảo đảm phù hợp với điều kiện chính trị, lịch sử cụ thể của thời gian đó, dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng và soạn thảo, Hiến pháp năm 1959 đã được Quốc hội ban hành. Trên cơ sở đó, Quốc hội cũng ban hành một số đạo luật quan trọng, tạo cơ sở pháp lý để chính quyền các cấp tổ chức bộ máy và tổ chức đời sống của nhân dân, xây dựng miền Bắc vững mạnh và làm cơ sở cho cuộc đấu tranh giành lại hòa bình, thống nhất đất nước ở miền Nam.

Thứ ba, pháp luật là công cụ cần thiết “giữ gìn quyền lợi của nhân dân”(8) và duy trì trật tự xã hội.
Trong tư tưởng của Người, một xã hội không thể thiếu pháp luật. Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trước khi có Hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 47/SL, ngày 10-10-1945, giữ lại mọi luật lệ của chế độ cũ chỉ trừ những điều luật trái với nền độc lập, tự do(9). Trong điều kiện chưa thể ban hành ngay hệ thống pháp luật, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho ban hành hàng loạt các sắc lệnh để đưa vào thi hành các quyền tự do, dân chủ của công dân, như: Ngày 6-9-1945, Sắc lệnh số 11 bãi bỏ thuế thân và cam kết các sắc thuế muốn được ấn định thì phải có sắc lệnh quy định; ngày 8-9-1945, ban hành Sắc lệnh về việc lập ra bình dân học vụ để thực hiện chủ trương diệt giặc dốt và Sắc lệnh số 14 mở ra cuộc tổng tuyển cử để bầu Quốc dân đại hội…
Như vậy, trong những giờ phút khẩn trương, bộn bề công việc, chuẩn bị công cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dồn không ít sự quan tâm cho việc xây dựng pháp luật, ban hành chính sách, củng cố bộ máy chính quyền.
Sau này, khi hòa bình lập lại ở miền Bắc sau năm 1954, hoạt động xây dựng pháp luật ở nước ta đã được coi trọng hơn. Quốc hội đã ban hành nhiều đạo luật quan trọng liên quan trực tiếp đền quyền tự do của người dân, như: Luật quy định quyền lập hội ngày 20-5-1957, Luật quy định quyền tự do hội họp ngày 20-5-1957, Luật bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân ngày 20-5-1957, Sắc luật về quyền tự do xuất bản ngày 18-6-1957, Luật Công đoàn ngày 5-11-1957(10)…
Thứ tư, hệ thống pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ cần được đặc biệt coi trọng để thiết lập và vận hành Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm tới việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước, về quản lý đội ngũ cán bộ và phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bảo đảm bản chất “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” của chính quyền cách mạng. Cụ thể, ngày 22-11-1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số 63-SL về tổ chức các hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính (áp dụng cho chính quyền ở nông thôn); ngày 21-12-1945, ban hành Sắc lệnh số 77-SL về tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố. Đối với hệ thống tòa án nhân dân, ngày 24-1-1946, ban hành Sắc lệnh số 13-SL tổ chức các tòa án và ngạch thẩm phán… Tiếp đó, Hiến pháp năm 1946 được ban hành quy định hệ thống tổ chức chính quyền gồm: Nghị viện nhân dân, Chính phủ, hội đồng nhân dân (ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã) và ủy ban hành chính (ở tất cả các đơn vị hành chính), cơ quan tư pháp (gồm Tòa án tối cao, tòa án phúc thẩm, các tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp). Ngày 22-5-1950, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Sắc lệnh số 85-SL cải cách bộ máy tư pháp và Luật Tố tụng - có thể coi đây là cuộc cải cách tư pháp đầu tiên kể từ khi chế độ mới được thiết lập năm 1945, nhằm bảo đảm tốt hơn tính nhân dân của nền tư pháp mới.
Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc vào năm 1954 cho tới năm 1969, Quốc hội đã ban hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 1958, Hiến pháp năm 1959, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1959, Luật Tổ chức Quốc hội năm 1960, Luật Tổ chức Hội đồng Chính phủ năm 1960, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1960, Luật Tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính các cấp năm 1962…
Thứ năm, bảo đảm dân chủ trong quá trình xây dựng pháp luật.
Trong việc xây dựng hệ thống pháp luật, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng tính nhân văn, dân chủ, vì con người. Muốn có được hệ thống pháp luật như vậy, sự tham gia của nhân dân trong quá trình xây dựng pháp luật là điều kiện tiên quyết. Một trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước ngay sau khi Chính phủ lâm thời được thành lập năm 1945 đó là tổng tuyển cử và lập hiến(11); muốn có Hiến pháp thì phải tổ chức tổng tuyển cử để nhân dân bầu ra Quốc hội và Quốc hội sẽ chịu trách nhiệm đại diện cho nhân dân soạn thảo ra Hiến pháp. Quốc hội được bầu ngày 6-1-1946 chính là Quốc hội lập hiến(12). Như vậy, tư tưởng dân chủ trong lập hiến, lập pháp của Người thể hiện rất rõ ở việc xác định tham gia xây dựng Hiến pháp, pháp luật là quyền của nhân dân. Việc xây dựng pháp luật phải xuất phát từ sáng kiến của nhân dân, có sự tham gia đóng góp ý kiến của các cơ quan đoàn thể và mọi tầng lớp nhân dân. Trong quá trình xây dựng Hiến pháp năm 1959, việc bảo đảm sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân vào xây dựng pháp luật đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Để bảo đảm pháp luật thực sự của nhân dân, trong quá trình xây dựng Hiến pháp, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Bản Hiến pháp của chúng ta sẽ thảo ra… phải tiêu biểu được các nguyện vọng của nhân dân… Sau khi thảo xong chúng ta cần phải trưng cầu ý kiến của nhân dân cả nước một cách thật rộng rãi. Có như thế bản Hiến pháp của chúng ta mới thật sự là bản Hiến pháp của nhân dân, của chế độ dân chủ”(13).
Như vậy, trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, pháp luật sinh ra không vì cái gì khác hơn là vì dân. Pháp luật dân chủ, tiến bộ là mục tiêu hướng tới của quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Người nhấn mạnh, tư tưởng của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân phải được “quán triệt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng cấu trúc thượng tầng của chế độ và thể chế của nhà nước ta”(14). Người luôn căn dặn: “Chính phủ và Đảng chỉ mưu giải phóng cho nhân dân, vì thế, bất kỳ việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân”(15), nhất là “sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”(16).
Thứ sáu, bảo đảm tính khách quan của pháp luật.
Trong bài viết “Xây dựng những con người của chủ nghĩa xã hội”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chớ đem chủ quan của mình thay cho điều kiện thực tế. Phải chống bệnh chủ quan, tác phong quan liêu, đại khái. Phải xây dựng tác phong điều tra, nghiên cứu trong mọi công tác cũng như trong khi định ra mọi chính sách của Đảng và của Nhà nước”(17). Điều này có nghĩa rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng nguyên tắc khách quan trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Lý do là, pháp luật là một hiện tượng khách quan, pháp luật sinh ra do nhu cầu của xã hội, phản ánh trình độ phát triển, thực tiễn cuộc sống. Do vậy, xây dựng và hoàn thiện pháp luật phải bảo đảm phản ánh được những nhu cầu khách quan về sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với những quan hệ xã hội nhất định. Nội dung của pháp luật phải phù hợp với các quy luật khách quan, bảo đảm phát huy vai trò tích cực của pháp luật đối với đời sống. Để bảo đảm tính khách quan quá trình xây dựng pháp luật cần coi trọng quá trình nghiên cứu thực tiễn xã hội, thực tiễn phát triển kinh tế, chính trị, đặc điểm văn hóa, dân cư, nhu cầu của các đối tượng liên quan… Các thông tin này sẽ là những cơ sở để xây dựng các quy phạm pháp luật phù hợp.
bài rất hay
Trả lờiXóa