VIỆT NAM ĐẠT NHIỀU
TIẾN BỘ QUAN TRỌNG TRONG THÚC ĐẨY QUYỀN
CHO NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
Việt Nam đã
đạt được các tiến bộ quan trọng trong thúc đẩy quyền cho người dân tộc thiểu số
(DTTS), đặc biệt là với các quyền như: quyền tham gia các hoạt động quản lý nhà
nước, quản lý xã hội, người DTTS được tham gia vào các hoạt động quản lý nhà nước,
quản lý xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua đại diện theo những quy định cụ
thể, rõ ràng, nhất là hành lang “quy chế dân chủ”.
Đây là khẳng định
của do ông Y Thông, Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc khi trình bày Báo
cáo quốc gia định kỳ lần thứ 15 – 17 tính từ năm 2013 đến năm 2019 theo hướng dẫn
của Ủy ban Công ước CERD. Ông Y Thông đang dẫn đầu đoàn Việt Nam tham dự Kỳ họp
thứ 111 của Ủy ban Công ước CERD ở Geneve (Thuỵ Sĩ) kéo dài 2 ngày 29 và 30/11.
Trong khuôn khổ
chương trình, Ủy ban CERD đối thoại với 6 quốc gia gồm: Bolivia, Bulgari, Đức, Morroco,
Nam Phi và Việt Nam. Việc đối thoại giúp cho Ủy ban hiểu rõ hơn về tình hình thực
hiện trách nhiệm quyền con người của các nước thành viên CERD, từ đó có
thêm thông tin, cơ sở để đưa ra khuyến nghị kết luận của ủy ban. Đây cũng là cơ
hội để các nước thành viên nhận được tư vấn chuyên môn của các chuyên gia.
Báo cáo quốc
gia định kỳ tiếp tục khẳng định chủ trương, đường lối nhất quán của Đảng,
Chính phủ Việt Nam về các dân tộc thiểu số như đã được ghi rõ trong Điều 5, Hiến
pháp năm 2013 hoàn toàn phù hợp với định nghĩa về chống phân biệt chủng tại Điều
1 Công ước CERD; đồng thời chia sẻ những thành tựu Việt Nam đã đạt được trong
công tác dân tộc giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2023.
Ông Y Thông
cũng khẳng định cam kết của Việt Nam trong thực hiện quyền và nghĩa vụ của quốc
gia thành viên công ước qua những thành tựu Việt Nam đã đạt được trong công tác
hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam phù hợp với các quy chuẩn, tiêu chuẩn
quốc tế và bảo vệ giá trị phổ quát về quyền con người nói chung, và những nỗ lực
của Việt Nam trong việc góp phần xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, phân
biệt đối xử nói riêng.
Theo đó, từ
năm 2013 đến nay, hệ thống pháp luật Việt Nam liên tục được xây dựng và hoàn
thiện tương đối đồng bộ, đáp ứng về cơ bản quyền con người trong đó có việc bảo
đảm các quyền và lợi ích chính đáng của đồng bào DTTS. Trong mười năm qua, Quốc
hội Việt Nam đã ban hành 125 luật trong đó có 352 điều khoản luật trực tiếp
liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các DTTS.
“Việt Nam khẳng
định lập trường kiên quyết phản đối và chống chia rẽ, kích động hận thù giữa
các dân tộc, chủng tộc. Những hành vi phân biệt chủng tộc hoặc hỗ trợ các hoạt
động gây chia rẽ, kỳ thị và phân biệt chủng tộc đều bị pháp luật Việt Nam
nghiêm cấm, trừng trị nghiêm khắc. Trên bình diện quốc tế, Việt Nam tích cực
tham gia các diễn đàn, hội nghị về quyền con người, chống phân biệt chủng tộc.
Việt Nam luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Việt
Nam cam kết tuân thủ các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Điều này
được thể hiện rõ tại Hiến pháp, Luật Điều ước quốc tế năm 2016 và Luật ban hành
văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Trong công tác xây dựng pháp luật, việc
xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong nước không được cản trở việc
thực hiện điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam đảm nhiệm
cương vị ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020
– 2021, thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023 – 2025”, ông Y Thông nhấn
mạnh.
Kể từ lần rà
soát trước, Việt Nam đã phê chuẩn thêm 2 công ước về quyền con người: Công ước
về quyền của người khuyết tật và Công ước Chống tra tấn và các hình
thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người. Như vậy,
hiện nay Việt Nam đã tham gia 7/9 CƯQT của LHQ về quyền con người. Chưa hết, Việt
Nam cũng tham gia tích cực các phiên đối thoại với các uỷ ban công ước và
nghiêm túc xem xét các khuyến nghị, nghiên cứu, xây dựng kế hoạch triển khai
tăng cường thực thi các Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Và để bảo đảm
quyền cho người lao động, kể từ khi là thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế
(ILO) năm 1992, Việt Nam đã gia nhập 25 công ước của ILO, bao gồm 7/8 công ước
cơ bản, trong đó có liên quan đến các lĩnh vực thương lượng tập thể, phòng chống
phân biệt đối xử, lao động trẻ em và lao động cưỡng bức.
Ở cấp độ song
phương, Việt Nam hiện có cơ chế Đối thoại nhân quyền chính thức với ba nước/đối
tác, bao gồm Mỹ, EU và Australia. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng có nhiều kênh trao
đổi không chính thức về các vấn đề quyền con người, tham gia nhiều diễn đàn
liên quan đến các khía cạnh khác nhau của quyền con người. Nhìn chung, trong
các hoạt động hợp tác song phương cũng như tại các diễn đàn đa phương về quyền
con người, Việt Nam luôn tích cực, chủ động và có những đóng góp thiết thực nhằm
thúc đẩy nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực quyền con người trên
tinh thần đối thoại, tăng cường hiểu biết lẫn nhau.
Việc soạn thảo
và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chính sách phát triển kinh tế - xã hội
đều phải tham khảo ý kiến của đối tượng bị tác động. Đối với chính sách pháp luật
liên quan đến đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa nơi có nhiều đồng bào dân tộc cư
trú đều phải lấy ý kiến trực tiếp của họ hoặc thông qua ý kiến của tổ chức
chính quyền địa phương. Bên cạnh đó, vai trò phản biện xã hội của các cơ quan
báo chí, truyền thông và các đoàn thể nhân dân, mở rộng đối thoại với các tổ chức
xã hội trong giám sát việc bảo đảm và thúc đẩy quyền cho đồng bào DTTS luôn được
khuyến khích và tăng cường.
Trong giai đoạn
báo cáo quốc gia (2013-2019), các quyền dân sự chính trị của người DTTS được đảm
bảo và thúc đẩy. Việt Nam đã đạt được các tiến bộ quan trọng trong thúc đẩy quyền
cho người DTTS đặc biệt là với các quyền như quyền tham gia các hoạt động quản
lý nhà nước, quản lý xã hội, người DTTS được tham gia vào các hoạt động quản lý
nhà nước, quản lý xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua đại diện theo những
quy định cụ thể, rõ ràng, nhất là hành lang “quy chế dân chủ”. Nhiều nội dung,
quy định luật, văn bản chính sách đều quy định rõ việc tham gia của người dân,
bao gồm người DTTS, vào hoạt động quản lý kinh tế - xã hội ở cơ sở trên nguyên
tắc “dân biết – dân bàn – dân làm – dân kiểm tra – dân giám sát – dân thụ hưởng”.
“Người DTTS Việt
Nam được tạo điều kiện đảm bảo bình đẳng các quyền con người của mình như quyền
bình đẳng trong hôn nhân và gia đình, quyền được bảo vệ bởi cơ quan tài phán độc
lập, quyền có quốc tịch, quyền tự do đi lại trong lãnh thổ quốc gia, quyền xuất,
nhập cảnh, quyền tự do ngôn luận báo chí, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo… Các
quyền dân sự chính trị này của người DTTS được Nhà nước bảo đảm bình đẳng như mọi
công dân của nước CHXHCN Việt Nam. Việt Nam đã đưa ra các chỉ tiêu thực hiện
các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, Mục tiêu phát triển bền vững đối với đồng
bào DTTS đến năm 2030. Để đảm bảo quyền phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội,
Việt Nam đã ban hành rất nhiều chương trình, chính sách triển khai thực hiện ở
vùng DTTS&MN và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ”, ông Y Thông cho
biết thêm.
Mục tiêu của
Việt Nam là củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Các dân tộc có quyền dùng tiếng
nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống
và văn hóa tốt đẹp của mình cùng nhau xây dựng một quốc gia độc lập, thống nhất,
dân chủ, tự do và giàu mạnh. Việc pháp luật Việt Nam khẳng định và chống mọi
hành vi xâm phạm quyền bình đẳng dân tộc, gây thù hằn, kỳ thị, chia rẽ dân tộc
và thực hiện các biện pháp hỗ trợ, ưu đãi cho DTTS là hoàn toàn phù hợp với định
nghĩa về chống phân biệt chủng tộc tại điểm 4, Điều 1 Công ước CERD.
“Việt Nam luôn
tôn trọng và bảo đảm các quyền cho người DTTS và người nước ngoài tại Việt Nam
đặc biệt là từ khi Việt Nam gia nhập Công ước CERD vào năm 1982. Hệ thống văn bản
pháp luật của Việt Nam được xây dựng và phù hợp với các quy định trong luật
pháp quốc tế. Việt Nam tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, các cơ chế,
chính sách, huy động nguồn lực phát triển bảo đảm bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết,
giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo
chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng đồng bào
DTTS. Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và xây
dựng đội ngũ cán bộ người DTTS đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh
mới”, ông Y Thông khẳng định.
Bùi Đình Tạo CH32, hệ SĐH
Việt Nam rất quan tâm đến dân tộc thiểu số
Trả lờiXóa