Theo
Chủ tịch Hồ Chí Minh, một Đảng cách mạng chân chính phải luôn nêu cao
khát vọng mang lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho Tổ quốc, cho nhân dân;
tuyệt đối trung thành với lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Tháng 7/1920,
khi đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc
và vấn đề thuộc địa”, Người đã quyết định đi theo con đường của V.I.Lênin,
gia nhập Quốc tế Cộng sản, bởi: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có
con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Suốt cuộc đời mình, Người đã
tận tâm cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp
phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ và
tiến bộ xã hội.
Để
hiện thực hóa ham muốn, khát vọng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột
bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn
tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”, Người đã
vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận Mác - Lênin phù hợp với thực
tiễn cách mạng Việt Nam. Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày
03/02/1930 là minh chứng khẳng định tầm nhìn, bản lĩnh, trí tuệ của Hồ Chí Minh
trong việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thành lập Đảng cách mạng
chân chính để lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người nhấn mạnh: Quan điểm, đường
lối của Đảng phải xuất phát từ thực tiễn, không “nghe người ta nói
giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà
không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”. Người
chỉ rõ: “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác -
Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác -
Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách
đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có
thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam,
định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của
cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta”.
Bản
lĩnh chính trị của Đảng còn biểu hiện trong việc luôn nắm vững nguyên tắc
cách mạng; đồng thời, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; kiên quyết
giữ vững nền độc lập, vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí
Minh từng căn dặn: “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, thể hiện quan điểm kết hợp nhuần
nhuyễn giữa nguyên tắc, mục tiêu chiến lược với tính uyển chuyển, linh hoạt của
sách lược; giữa chiến lược, đường lối lãnh đạo của Đảng và sách lược cách mạng.
Thực tiễn cho thấy, bằng bản lĩnh của người cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Đảng ta đã nhận thức thấu đáo, giải quyết uyển chuyển, sáng tạo mối quan hệ
giữa “bất biến” và “vạn biến” trong các giai đoạn lịch sử cách mạng, phù hợp
với thực tiễn đất nước để đi đến thắng lợi.
Trong
quá trình lãnh đạo cách mạng, không thể tránh khỏi những sai lầm, khuyết điểm,
song với bản lĩnh chính trị của một đảng cách mạng chân chính, Đảng ta đã
thẳng thắn thừa nhận sai lầm, khuyết điểm với thái độ nghiêm túc,
cầu thị và quyết tâm sửa chữa; xây dựng đoàn kết, thống nhất trong Đảng,
không ngừng củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng. Tại kỳ họp thứ 6,
Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng, Chính phủ thẳng thắn nhận
khuyết điểm và xin lỗi nhân dân về những sai lầm trong cải cách ruộng đất và
quyết tâm sửa sai. Người nói: “... một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm
của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm
của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét
rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa
chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc
chắn, chân chính”. Cùng với đó, Người luôn quan tâm đến công tác xây dựng
Đảng trong sạch, vững mạnh và sớm nhận thấy nguy cơ dẫn đến sự suy yếu của Đảng
khởi phát từ căn bệnh của quyền lực, chủ nghĩa cá nhân nên đã nghiêm khắc phê
bình và yêu cầu sửa chữa. Năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm
“Sửa đổi lối làm việc” và tác phẩm “Đời sống mới” nhằm giáo dục, rèn luyện
đội ngũ cán bộ, đảng viên về phương pháp, phong cách lãnh đạo trên cơ sở
thực hành đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Theo
Người, kịp thời “sửa đổi” tức là “đổi mới” cách nghĩ, cách làm để mỗi cán bộ,
đảng viên luôn xứng đáng là người đại biểu của nhân dân, của dân tộc. Lịch sử
đã chứng minh, nhờ có những cán bộ, đảng viên trung thành, tận tụy, ngay thẳng,
dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám nhận trách nhiệm trước sai lầm, không vì lợi
ích cá nhân mà Đảng ngày một lớn mạnh, được nhân dân tin yêu, gọi tên trìu mến:
“Đảng ta”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét