Quan điểm, thái độ của Đảng và nhân dân ta trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước các chiêu bài, luận điệu tuyên truyền đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập
Những luận điệu, quan điểm sai trái, thù địch rất đa dạng, tinh vi. Các luận điệu xuyên tạc thường hướng đến âm mưu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng. Chúng ta cần khẳng định dứt khoát rằng các luận điệu tuyên truyền đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam là hoàn toàn sai trái, phản động, phản khoa học, phi lịch sử. Đấu tranh bác bỏ luận điệu xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ phải được thực hiện thường xuyên, kiên quyết, kiên trì; vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là tất yếu của lịch sử. Từ khi đất nước bị thực dân Pháp xâm lược (năm 1858), nhiều phong trào yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc theo các khuynh hướng, lập trường, quan điểm khác nhau đã xuất hiện, tuy nhiên các phong trào ấy đều không thành công bởi vì không phù hợp với bối cảnh lịch sử của dân tộc và xu thế phát triển của thời đại. Xuất phát từ thực tiễn cách mạng của đất nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tìm đến chủ nghĩa Mác - Lênin, truyền bá lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam. Nhờ đó, phong trào công nhân và phong trào yêu nước có điều kiện phát triển mạnh mẽ và dẫn tới sự hình thành các tổ chức cộng sản.
Sự xuất hiện của ba tổ chức cộng sản (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn), một mặt giúp thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển, nhưng mặt khác cũng đặt ra yêu cầu bức thiết, đó là cần phải hợp nhất ba tổ chức ở ba miền thành một tổ chức đảng thống nhất để đáp ứng nhiệm vụ và yêu cầu của cách mạng Việt Nam. Chính vì vậy, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930 dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là một dấu mốc lịch sử quan trọng mang tính tất yếu của cách mạng Việt Nam dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, mở ra một thời đại mới cho chặng đường phát triển tiếp theo của đất nước.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử, thể hiện ý chí và nguyện vọng của toàn thể nhân dân. Trong điều kiện cầm quyền đó, Đảng đại diện cho “trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại”.
Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong Diễn văn tại Lễ kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 3-2-2020), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Đảng Cộng sản Việt Nam chưa bao giờ và không bao giờ tự cho mình quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội mà đó là trọng trách, nhiệm vụ cao cả mà nhân dân Việt Nam tin tưởng giao phó, là sự lựa chọn của lịch sử. Từ khi thành lập đến nay, Đảng luôn là đội tiên phong, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, trung thành với lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.
Nhìn lại lịch sử, theo đề xuất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và được sự nhất trí của Đảng, chúng ta đã thành lập thêm các đảng chính trị mới. Đảng Dân chủ Việt Nam (thành lập ngày 30-6-1944) và Đảng Xã hội Việt Nam (thành lập ngày 22-7-1946) được ra đời với mục đích tập hợp lực lượng toàn thể các giai tầng yêu nước tham gia cách mạng, bao gồm những trí thức, thương gia, kỹ sư, viên chức yêu nước của chế độ cũ. Đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược nhằm mở rộng thành phần của Mặt trận dân tộc thống nhất, huy động sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Trong quá trình thành lập và hoạt động, Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam là những tổ chức yêu nước chân chính, thành viên của Mặt trận dân tộc thống nhất, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội chưa bao giờ là lực lượng đối lập, mà trái lại, luôn là đồng chí chân thành của Đảng Cộng sản Việt Nam, tuân thủ đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, hai đảng này không đủ tầm ảnh hưởng chính trị để nhân dân giao sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng. Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, căn cứ vào lý do và mục đích tồn tại không còn phù hợp, không phát triển thêm được đảng viên mới, vì vậy hai đảng này đã tự giải tán vào năm 1988.
Năm 1946, để phù hợp với điều kiện thực tiễn của cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuyên bố tự giải tán và mở rộng Chính phủ dân tộc do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, với sự tham gia của nhiều đảng phái đối lập, như: Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân Đảng); Việt Cách (Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội),… Nhưng trong dòng chảy cách mạng, những tổ chức, đảng phái này không có chỗ đứng trong lòng dân tộc, không thể hiện là tổ chức chính trị đại diện cho ý chí, lợi ích của giai tầng nào trong xã hội. Chính vì thế, khi lực lượng quân đội Trung Hoa Dân quốc rút về nước, họ cũng rời bỏ đất nước.
Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, một lần nữa, lịch sử và nhân dân lại lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức chính trị có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đất nước tạm thời chia làm hai miền, ở miền Nam, đế quốc Mỹ thay chân Pháp đặt ách cai trị thực dân mới, lập nên chính phủ ngụy quyền tay sai, nhiều đảng phái chính trị tư sản đã thành lập. Mục đích chính trị của những đảng phái này là phá hoại tổng tuyển cử tự do, phá hoại sự nghiệp thống nhất nước nhà, đi ngược lại với lợi ích của toàn dân tộc nên nhân dân ta đã đoàn kết đấu tranh để loại bỏ những đảng phái chính trị đó.
Từ năm 1975 đến nay, chế độ chính trị nhất nguyên với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng được củng cố và phát triển toàn diện, khẳng định tính tất yếu khách quan trong sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, xứng đáng với vị trí lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, “nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
Thực tiễn cách mạng đã cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử, thể hiện ý nguyện của toàn thể nhân dân, các tầng lớp nhân dân mong muốn Đảng luôn giữ vững vai trò lãnh đạo, không chấp nhận chế độ đa đảng trong chính trị. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo dân tộc giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống lại thực dân, đế quốc xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế, đưa đất nước đi lên CNXH.
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 17-12-1998 của Bộ Chính trị về Chiến lược an ninh quốc gia khẳng định: Bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; không chấp nhận đa nguyên chính trị; không để hình thành tổ chức chính trị đối lập, đối trọng với Đảng và Nhà nước; Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 14-10-2006 của Bộ Chính trị về Tăng cường công tác lãnh đạo bảo đảm an ninh quốc gia trong tình hình mới nhấn mạnh: Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Không để xảy ra khủng bố, phá hoại, bạo loạn chính trị, biểu tình, gây rối an ninh, trật tự; kiên quyết không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập trong nội địa; không để kẻ xấu lợi dụng tự do báo chí để vu khống, bôi đen Đảng và Nhà nước ta. Điều này chứng tỏ, quan điểm nhất quán của Đảng và nhân dân ta là không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là phù hợp với thực tiễn xã hội và hoàn toàn hợp hiến và hợp pháp. Các bản Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam”. Điều lệ Đảng quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền… Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy”. Những căn cứ trên chứng tỏ vai trò lãnh đạo của Đảng được xây dựng trên cơ sở pháp lý đồng bộ và có sự đồng thuận của các tổ chức liên quan, không chỉ có Cương lĩnh, Điều lệ Đảng “đơn phương” quy định. Đây là yếu tố quan trọng để khẳng định tính chính danh đầy đủ được quy định tại Hiến pháp và Điều lệ Đảng về vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thể chế nhất nguyên chính trị hoàn toàn không đồng nghĩa với việc “mất dân chủ”, “triệt tiêu dân chủ” như luận điệu của các thế lực thù địch xuyên tạc. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, mọi đường lối, chủ trương của Đảng đều có sự tham gia đóng góp ý kiến của nhân dân theo cơ chế phát huy dân chủ rộng rãi. Đường lối, chủ trương của Đảng được xây dựng trên cơ sở tiếp thu, lắng nghe ý kiến của nhân dân thông qua các tổ chức chính trị - xã hội và các đoàn thể nhân dân.
Năm 2010, khi trả lời câu hỏi của phóng viên báo Express Ấn Độ về việc liệu đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có một hệ thống đa đảng hay chưa, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Và cũng không nhất thiết cứ kinh tế thị trường thì phải đa đảng và ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng”
Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”. Những thành tựu này tiếp tục chứng minh chặng đường từ khi có Đảng lãnh đạo là chặng đường vinh quang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và xây dựng cơ đồ đất nước. Đảng đã khẳng định vai trò lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc và sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng XHCN, xây dựng CNXH, mang lại cho nhân dân cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, dân chủ, công bằng và văn minh. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nghiêm khắc và có trách nhiệm cao với sứ mệnh lãnh đạo của mình, gắn vận mệnh của mình với vận mệnh của dân tộc. Đảng không độc đoán, bảo thủ, chuyên quyền, không xa rời những nguyên lý và nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động. Trong quá trình lãnh đạo, Đảng luôn thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân.
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về thực hiện nhất nguyên chính trị, một đảng lãnh đạo là phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và thực tiễn của đất nước. Vì sự ổn định và phát triển của đất nước, Việt Nam không thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Chúng ta phải luôn kiên định với nền tảng tư tưởng của Đảng, “Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào cũng phải luôn kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, coi đó là nền tảng tư tưởng của Đảng, là kim chỉ nam cho mọi hành động”; “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay, để mô hình một đảng lãnh đạo phát huy hết giá trị, Đảng phải tự mình thường xuyên đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo, phải “đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa”, để xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh; để Đảng ta mãi mãi trường tồn, giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với đất nước, dân tộc.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét