Thứ Hai, 19 tháng 9, 2022

45 năm Việt Nam tham gia Liên hợp quốc: Vị thế mới, thời cơ mới

 

45 năm trước, Việt Nam vừa chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình, thống nhất đất nước. Khi ấy, Việt Nam là biểu tượng của phong trào giải phóng dân tộc, giành được rất nhiều tình cảm của nhân loại.Tuy nhiên, bên cạnh niềm vui độc lập và thống nhất đất nước, Việt Nam lúc đó đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, khi vừa bước ra khỏi chiến tranh, cùng với nền kinh tế, kỹ thuật lạc hậu. Về mặt đối ngoại, nước ta đang còn bị bao vây, cấm vận của nhiều nước.

Bởi vậy, câu chuyện Liên hợp quốc (LHQ) chính thức kết nạp Việt Nam là thành viên có ý nghĩa rất lớn. Nhìn lại 45 năm qua, kể từ khi Việt Nam tham gia LHQ năm 1977, có thể rút ra một số điểm có ý nghĩa sau:

Thứ nhất, đó là việc công nhận một Việt Nam mới, hòa bình, thống nhất, độc lập và tham gia vào các cơ chế quốc tế, dù khi đó vẫn đang còn bị cấm vận. Đó cũng là kết quả của cả quá trình hình thành và phát triển phong trào rộng rãi các nước ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của Việt Nam. Việc chính thức gia nhập tổ chức toàn cầu lớn nhất này đã mở ra chương mới trong quan hệ của Việt Nam với thế giới, từ đó tạo điều kiện cho Việt Nam không chỉ tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế cho tái thiết đất nước, mà còn ngày càng tham gia, đóng góp sâu rộng hơn vào các công việc chung của LHQ và của thế giới. 

Ngay sau khi nghị quyết chấp thuận Việt Nam trở thành thành viên của LHQ, tổ chức này đã ra nghị quyết kêu gọi, giúp đỡ, hỗ trợ Việt Nam tái thiết đất nước sau chiến tranh, xóa đói giảm nghèo. Đây là bước khởi đầu lớn, tạo cơ sở được công nhận bởi LHQ trong việc vận động quốc tế giúp đỡ Việt Nam. Trong những năm Việt Nam còn bị cấm vận, từ 1977 cho đến cuối những năm 80 của thế kỷ 20, LHQ là tổ chức giúp đỡ Việt Nam nhiều nhất, từ việc khắc phục hậu quả chiến tranh đến xóa đói giảm nghèo, phát triển và nhiều sự trợ giúp khác. Vào những năm 90 của thế kỷ 20, LHQ là một trong những tổ chức đi đầu giúp đỡ Việt Nam hoạch định các chính sách và chương trình hành động về đổi mới, cải cách kinh tế, cải cách hệ thống pháp luật, hỗ trợ Việt Nam thúc đẩy phát triển và hội nhập quốc tế.hứ hai, cùng với các thành tựu về đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế, Việt Nam đồng hành và đóng góp ngày càng hiệu quả vào các công việc chung của LHQ và thế giới. Điển hình nhất là việc Việt Nam tham gia vào hoạch định và thực hiện các Chương trình mục tiêu Thiên niên kỷ và Phát triển bền vững tới 2030 của LHQ, trở thành điển hình về hợp tác và thực hiện hiệu quả các chương trình hành động của LHQ.

Theo đó, chúng ta cũng tích cực tham gia vào các chương trình hợp tác của LHQ về môi trường, biến đổi khí hậu, phòng, chống dịch bệnh hay xóa đói giảm nghèo và giúp đỡ những người bị yếu thế. Việt Nam cũng đã tích cực phối hợp cùng LHQ triển khai các sáng kiến về hợp tác 3 bên giúp đỡ các nước ở châu Phi như về nông nghiệp, lương thực, giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo. Đây là quá trình hai bên cùng hợp tác và thúc đẩy vì những mục tiêu chung.

Thứ ba, Việt Nam luôn đề cao và tích cực đóng góp vào việc tăng cường các nguyên tắc của Hiến chương LHQ và Luật pháp quốc tế, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển chung của các dân tộc. Đây cũng là nguyên tắc nhất quán trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Chúng ta ủng hộ mạnh mẽ các nỗ lực của LHQ về vấn đề này như: Đề cao hợp tác, đối thoại, giải quyết hòa bình các tranh chấp, giải trừ vũ khí hạt nhân, hay ủng hộ và đề cao văn hóa hòa bình trong quan hệ quốc tế.

Khi tham gia Hội đồng Bảo an LHQ, Việt Nam đã đưa ra nhiều sáng kiến quan trọng như: Về đề cao Hiến chương LHQ và chủ nghĩa đa phương, về giúp đỡ tháo gỡ bom mìn, về bảo vệ phụ nữ, trẻ em hay bảo vệ các cơ sở dân sự thiết yếu trong chiến tranh, được sự ủng hộ và nhất trí cao của các nước thành viên LHQ nói chung. Việt Nam cũng đã và đang tích cực tham gia vào hoạt động gìn giữ hòa bình của LHQ, như hoạt động ở châu Phi, được LHQ và các nước đánh giá cao.

Thứ tư, Việt Nam từng bước tham gia và ngày càng phát huy vai trò tại các cơ quan lãnh đạo của LHQ. Từ nửa sau những năm 90, Việt Nam đã tham gia vào một số cơ quan lãnh đạo của Chương trình phát triển LHQ (UNDP), Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICEF), rồi đến Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa LHQ (UNESCO), Cơ quan Nguyên tử năng lượng quốc tế (IAEA) hay Hội đồng Nhân quyền.

Việt Nam đã hai lần tham gia làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an, cơ quan chịu trách nhiệm chính về hòa bình an ninh của LHQ (các nhiệm kỳ 2008-2009 và 2020-2021). Với những vai trò này, Việt Nam vừa tích cực đóng góp vào công việc chung, đồng thời góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam tại LHQ và trên trường quốc tế.

Thứ năm, trong quá trình tham gia LHQ, chúng ta đồng thời đề cao các nguyên tắc Hiến chương và các văn kiện quan trọng của LHQ như công ước Luật Biển (UNCLOS) 1982 nhằm đóng góp cho hòa bình, an ninh, hợp tác phát triển ở khu vực. Theo đó, Việt Nam đã tích cực thúc đẩy việc hợp tác giữa LHQ và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), trên các lĩnh vực, từ hòa bình an ninh, hợp tác phát triển, đến ứng phó với các thách thức mang tính toàn cầu như môi trường, biến đổi khí hậu, dịch bệnh.

Về Biển Đông, Việt Nam luôn nhấn mạnh việc tôn trọng luật pháp quốc tế và UNCLOS, nhằm bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia ven biển, giải quyết hòa bình các tranh chấp và không làm phức tạp thêm tình hình. Đây cũng là quan điểm và nguyên tắc chung của ASEAN.

Thứ sáu, nhìn lại 45 năm, có thể thấy, Việt Nam đã luôn kết hợp hài hòa giữa bảo đảm lợi ích quốc gia với việc đóng góp một cách tích cực và trách nhiệm vào các công việc chung của LHQ. Đó là một bộ phận trong chính sách đối ngoại nhất quán của Việt Nam về độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, là bạn và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đó là bài học trong quá trình tham gia LHQ, cũng như hội nhập quốc tế và khu vực của Việt Nam. 

Theo đó, chúng ta vừa kết hợp giữa độc lập, tự chủ, tự cường với tranh thủ sự ủng hộ, nguồn lực từ bên ngoài, cùng với đóng góp vào công việc chung với tinh thần không chỉ chủ động, tích cực, mà còn có trách nhiệm cao. Điều này đã góp phần tăng cường uy tín, tạo nên vị thế mới cho Việt Nam, được bạn bè quốc tế tin cậy và đánh giá cao. 

Tại LHQ, Việt Nam đã tham gia đóng góp vào công việc chung với tinh thần trách nhiệm cao; tham gia hoạch định những chương trình nghị sự quốc tế dựa trên không chỉ lợi ích quốc gia mà còn với những nguyên tắc của luật pháp quốc tế để tạo ra sân chơi bình đẳng giữa nước lớn, nước nhỏ, vì hòa bình, an ninh và phát triển dựa trên luật pháp quốc tế. Thứ bảy, trong thời gian tới, với điều kiện và vị thế mới, Việt Nam càng phải phát huy hơn nữa sự tham gia và đóng góp của mình tại LHQ và trên bình diện quốc tế. Theo đó, chúng ta càng cần tiếp tục phát huy các nguyên tắc đối ngoại nêu trên, để vừa phục vụ cho khát vọng phát triển của Việt Nam hướng tới năm 2030 và 2045, trong khi tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa vai trò chủ động trong các công việc chung của thế giới, vì hòa bình, an ninh, hợp tác phát triển và xử lý các thách thức toàn cầu.

Việt Nam cần tiếp tục đề cao vai trò của LHQ, đa phương, hợp tác quốc tế và việc thượng tôn pháp luật quốc tế; cũng như chủ động đóng góp xây dựng các chương trình nghị sự của thế giới, các nguyên tắc quốc tế, khung hợp tác với các quốc gia, trong khuôn khổ LHQ và thông qua các cơ chế khu vực. Điều này sẽ giúp Việt Nam có đóng góp thực chất và hiệu quả trong hợp tác quốc tế, bảo đảm luật pháp quốc tế, từ đó đóng góp vào việc định hình các quy định và luật chơi của quốc tế và LHQ.

Cuối cùng, như Đại hội XIII của Đảng nêu rõ, nhiệm vụ trọng tâm của đối ngoại Việt Nam là đảm bảo cao cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi; trong đó chỉ rõ vai trò tiên phong của đối ngoại “trong tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”.

Để hoàn thành được trọng trách đó, chúng ta phải kết hợp được nền ngoại giao toàn diện, hiện đại trên tất cả các kênh: Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân. Cùng với đó, tiếp tục tham gia hội nhập sâu rộng và toàn diện trên các lĩnh vực, trong đó chú ý tới các lĩnh vực Việt Nam có lợi ích và khả năng tham gia, từ đó, vừa tranh thủ cho môi trường quốc tế thuận lợi cho hòa bình, an ninh và phát triển của Việt Nam, vừa phát huy sự đóng góp vào xây dựng các chương trình nghị sự và các lĩnh vực hợp tác chung của quốc tế và khu vực.

Để mối quan hệ của Việt Nam đi sâu, thực chất với các nước, đem lại hiệu quả phục vụ công cuộc phát triển đất nước, cần bám sát chủ trương đối ngoại của Đảng tại Đại hội XIII, đồng thời hướng tới mục tiêu là hội nhập ở chất lượng cao hơn nhằm phục vụ tốt hơn cho mục tiêu phát triển kinh tế trong giai đoạn mới, đặc biệt là tranh thủ chất xám khoa học công nghệ, các chuỗi cung ứng và phân công lao động chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế.

Phát triển quan hệ của Việt Nam với thế giới, Việt Nam cũng tiếp tục phát triển các khuôn khổ hợp tác hiện nay, thành những khuôn khổ hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế ngày càng ổn định, lâu dài, đi vào thực chất, hiệu quả, cùng có lợi. Để làm được điều này, cần phối hợp tốt hơn nữa các kênh đối ngoại ở tất cả các lĩnh vực. Không chỉ Bộ Ngoại giao, mà tất cả các bộ, ngành đều phải tham gia vào quá trình này.

Cùng với đó, công tác dự báo chiến lược và công tác cán bộ là hai việc hết sức quan trọng. Trong bối cảnh thế giới đang chuyển động sâu rộng và phức tạp, thách thức và cơ hội đan xen, càng đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của dự báo, để có thể làm tốt việc tham mưu và kiến nghị các đối sách, cũng như trong xử lý thách thức nhưng không bỏ lỡ cơ hội. Đội ngũ cán bộ cũng cần được nâng tầm cả về tri thức, bản lĩnh, chiến lược, cũng như về các kỹ năng đối ngoại và cập nhật về công nghệ.

Đại sứ PHẠM QUANG VINH (Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao)

CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN “MỀM” TRONG CHỐNG PHÁ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

 

Sau nhiều biện pháp tuyên truyền trắng trợn, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách công khai, nhằm chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta không mang lại kết quả, các thế lực thù địch quay sang sử dụng thủ đoạn đoạn “mềm”, bằng cách triệt để tận dụng xu thế toàn cầu hóa và chủ trương hội nhập quốc tế của Việt Nam.

SỰ SỤP ĐỔ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HIỆN THỰC Ở LIÊN XÔ VÀ ĐÔNG ÂU KHÔNG PHẢI LÀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TRƯỚC SAU VẪN KHÔNG PHẢI LÀ MẪU HÌNH HƯỚNG TỚI CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

 

Đối với chúng ta, sự đổ vỡ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là một sự thật đau đớn, một tổn thất lớn lao của phong trào cộng sản và các lực lượng yêu chuộng hòa bình, cách mạng và tiến bộ trên thế giới. Sự kiện đó buộc chúng ta phải nghiêm túc suy nghĩ, bình tĩnh, sáng suốt đánh giá đúng đắn đối với chủ nghĩa xã hội hiện thực với tất cả thành công lẫn sai lầm, khuyết điểm để rút ra những kết luận xác đáng. Sau khi Liên Xô tan rã, chúng ta càng có thêm những bằng chứng chứng tỏ nguyên nhân sâu xa của sự đổ vỡ đó là những sai lầm nghiêm trọng về đường lối và quá trình thực hiện đường lối cải tổ cùng với những thủ đoạn chống phá vô cùng tinh vi, thâm hiểm của các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội. Sự đổ vỡ của hệ thống xã hội chủ nghĩa  không phải xuất phát từ  bản chất chủ nghĩa xã hội, mà chính là việc từ bỏ lý tưởng, mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội để chuyển hướng, đổi màu chế độ theo chủ nghĩa tư bản.

THẤM NHUẦN LỜI DẠY CỦA BÁC VỀ ĐỨC VÀ TÀI, "HỒNG" VÀ "CHUYÊN" CỦA NGƯỜI CÁN BỘ

 

Cứ đến dịp 19 tháng 5, mỗi người dân Việt Nam lại nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh – Lãnh tụ kính yêu, vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Dù Bác đã đi xa, nhưng đạo đức, phong cách, tư tưởng của Người vẫn luôn gần gũi với mỗi người dân Việt Nam; định hướng, soi đường cho mỗi cán bộ đảng viên. Đức và Tài, “Hồng” và “Chuyên” là một trong những tư tưởng như vậy.

QUAN ĐIỂM ĐÒI “ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, ĐA ĐẢNG” Ở VIỆT NAM

 

Sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử. Chế độ dân chủ XHCN ở Việt Nam được xây dựng nhằm thực hiện quyền làm chủ của con người một cách đầy đủ, toàn diện và triệt để.

NGHĨA VỤ TRÁCH NHIỆM VÀ QUYỀN LỢI

 

Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân. Công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú phải thực hiện nghĩa vụ quân sự. 

Bác Hồ vẫn học ngoại ngữ khi đã ngoài 70 tuổi

 


Nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan kể, ai cũng biết Bác Hồ rất giỏi ngoại giữ và biết 9 thứ tiếng. Vào những năm đầu 1960, và khi đó Bác cũng đã cao tuổi nhưng vẫn chăm chỉ học ngoại ngữ. Ông Vũ Khoan nói cả đời ông chưa thấy ai chăm học ngoại ngữ như Bác.

“Có lần tôi đến dịch cho Bác, trong khi chờ khách đến, tôi thấy Bác mở hộp thuốc lá ra, trong hộp có một mảnh giấy, Bác lẩm nhẩm đọc. Khi ấy tôi không dám hỏi, nhưng nghe thì thấy Bác lẩm nhẩm tiếng Nga. Tôi mới hỏi: ‘Bác vẫn học ạ?’ Bác trả lời vì ít dùng tiếng Nga nên Bác quên mất”, ông Vũ Khoan kể.

Nguyên Phó thủ tướng cho hay, Bác thường để một mảnh giấy trong hộp thuốc, mỗi mảnh giấy ghi 10 từ tiếng Nga. Mỗi lần mở hộp lấy thuốc Bác lại lẩm nhẩm học từ. Mỗi ngày 10 từ, cứ cho là rơi rụng đi thì mỗi ngày Bác cũng học được 5-7 từ.

Theo ông Vũ Khoan, Bác Hồ hiểu tiếng Nga rất sâu, nhưng vẫn ôn luyện hàng ngày dù ít dùng. “Bác học hàng ngày… Bây giờ chúng ta cứ nói học theo gương Bác Hồ, nhưng tôi chưa thấy ai học chăm như Bác”, ông nói.

Cũng theo nguyên Phó thủ tướng, Bác Hồ rất giỏi tiếng Anh. “Mới đầu nghe nói Bác biết tiếng Anh, tôi nghĩ chắc Bác cũng biết chứ không thạo lắm. Nhưng lần lên dịch ở Phủ chủ tịch, có nhiều đoàn nước ngoài đến, quay sang đoàn nào Bác nói tiếng nước đó. Khi nghe Bác nói tiếng Anh, tôi mới thấy Bác nói giỏi quá, hay quá”, ông kể.
Sau đó, đọc lại những lá thư Bác Hồ viết cho Quốc tế cộng sản viết bằng tiếng Anh, ông Vũ Khoan thấy đúng là chữ Bác thật, viết rất chuẩn. Hóa ra tiếng Anh của Bác rất giỏi chứ không như người ta nghĩ Bác chỉ giỏi tiếng Pháp.

Nguyên Phó thủ tướng còn cho biết, Bác Hồ nói tiếng Trung Quốc giọng không hay lắm, nhưng Bác lại rất am hiểu ngôn ngữ này do rất thạo tiếng Nho, tiếng Hán. “Bác nói giọng không hay thôi chứ Cụ hiểu lắm, có cần phiên dịch đâu”, ông Khoan kể.

Theo ông Vũ Khoan, tri thức của Bác rất rộng một phần là nhờ vốn ngoại ngữ. Bác biết nhiều ngoại ngữ, đến nước nào là học ngôn ngữ của nước đó: đến Italia học tiếng Italia, đến Đức học tiếng Đức, đến Anh và Mỹ học tiếng Anh.

Người có thể nói được rất nhiều thứ tiếng chính là nhờ vào sự rèn luyện không ngừng bằng việc tự học với một tinh thần cầu tiến, cộng với sự khắc khổ và phương pháp đúng, Người đã thành công!

 

Bác Hồ học ngoại ngữ

 

 Trong bản lý lịch đại biểu dự Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ 7, Bác Hồ đã ghi: “Biết các thứ tiếng: Pháp, Anh, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga”. Nhưng trên thực tế, dựa vào những lần Bác đi thăm nước ngoài, cũng như những lần đón tiếp các phái đoàn ngoại giao tới thăm Việt Nam, chúng ta còn được biết vốn ngoại ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh không dừng lại ở đó. Ngoài các ngoại ngữ phổ biến như Pháp, Anh, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga, Bác Hồ còn thông thạo khá nhiều ngoại ngữ khác như: tiếng Thái, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ả Rập, tiếng nhiều dân tộc thiểu số Việt Nam… Vốn ngoại ngữ đó của Bác tất cả đều xuất phát từ sự khổ công luyện tập. Vậy Người đã học ngôn ngữ nước ngoài bằng các phương pháp nào?

Giáo sư Hoàng Chí Bảo từng xác nhận rằng bác nói được 29 thứ tiếng, chưa kể tiếng đồng bào dân tộc nước Việt.

Học tiếng Pháp từ người Pháp

Ngày 5/6/1911, tại bến cảng nhà Rồng, Người sang Pháp để tìm ra con đường cứu nước, cứu dân cần phải biết sử dụng thành thạo tiếng Pháp. Vì thế, Bác đặt ra quyết tâm: “Nhất định phải học cho kỳ được”. Dù trong hoàn cảnh khó khăn, Người vẫn tìm ra phương pháp học ngôn ngữ nước ngoài này. Trên chuyến tàu đó, mỗi lúc rảnh rỗi, Bác đều tìm đến hai người lính trẻ được giải ngũ đi cùng chuyến tàu để học đọc và viết tiếng Pháp. Họ cho Bác mượn những quyển sách nhỏ in tiếng Pháp. Từ đây, Bác đã học từ những thực tiễn trong cuộc sống hằng ngày như những câu hỏi cái này là gì? đồ vật kia là gì? Bác hỏi họ để được giải thích về ngôn ngữ. Sau đó Bác viết vào một mẩu giấy, dán vào chỗ hay để ý nhất để tranh thủ vừa làm, vừa học. Có khi Bác viết hẳn vào cánh tay. Tối tối sau khi đi làm về, Bác rửa tay, rồi lại ghi những từ mới vào. Học được chữ nào, Bác ghép chúng lại thành câu thực hành ngay.

Học tiếng Pháp từ nghề viết báo
Ban đầu, Bác tập ghép một vài từ, sau ghép thành đoạn, dần dần Người tập viết thành bài dài. Một thời gian sau, Bác tìm đến các tờ báo của Pháp để xin được viết bài đăng báo. Sau mỗi bài báo viết bằng tiếng Pháp, Bác đều chép thành 2 bản. Một bản Người lưu giữ lại, còn bản kia gửi cho Toà soạn.

Bác nói với mọi người trong Tòa soạn rằng: “Tôi rất sung sướng nếu bài viết này của tôi được đăng, nhưng dù thế nào cũng xin các đồng chí sửa lỗi tiếng Pháp cho tôi”. Sau mỗi lần bài viết của Bác được đăng báo, Bác vui mừng khôn xiết. Bên cạnh đó, Người lại cẩn thận xem lại từng câu từng chữ, xem bài viết của mình đúng sai chỗ nào, Toà soạn báo đã sửa lại cho mình như thế nào. Theo chỉ dẫn của những chủ bút, Bác tập viết đi viết lại, khi thì viết diễn giải ra cho dài, khi lại viết ngắn lại cho súc tích…

Học tiếng Pháp từ thú vui đọc sách

Sau mỗi ngày làm việc, Bác lại tranh thủ đọc vài trang tiểu thuyết. Điều đó giúp Bác vừa giải trí, thư giãn đầu óc lại vừa là tự trau dồi kiến thức. Bác thường tìm đọc những tác phẩm của Tônxtôi để học tập cách viết, cách lập luận. Sau đó Người tập viết những bài phóng sự. Sáng nào Bác cũng viết từ 5 giờ đến 6 giờ rưỡi, tới 7 giờ Bác lại bắt tay vào công việc. Dù trời nóng hay rét Bác cũng không nản chí.

Năm 1922, Bác đã trở thành chủ bút của tờ báo “Người cùng khổ” viết bằng 3 thứ tiếng. Tên báo bằng tiếng Pháp đặt ở giữa. Chữ Ả Rập bên trái và bên phải là chữ Hán. Tất cả đều do Bác viết. Do Toà soạn báo không có Ban biên tập thường xuyên, nên nhiều khi Bác phải “cáng đáng” mọi việc từ khâu sửa chữa, biên tập bài vở, tới khâu bán báo.

Bác Hồ đã học Tiếng Anh như thế nào?

Biết tiếng Pháp rồi, Bác đã tìm sang đất nước Anh. Đặt chân lên đất nước Anh Bác đã tìm ngay cho mình một công việc để làm.

Thường ngày Bác phải làm từ 8 giờ sáng tới 12 giờ, chiều từ 5 giờ tới 10 giờ đêm. Bác dành dụm để có chút tiền mua sách vở. Phương tiện học duy nhất của Người cũng chỉ có vài quyển vở và một cây bút chì.

 

 

Mỗi điểm đến đều là một trường Đại Học

Sớm chiều Bác ra Vườn hoa Haydơ, nơi có nhiều cây to, cột đèn xưa để tự học. Bác thường ra đó để học “vì ở đó thời tiết thường rất lạnh, nên khi học sẽ không thể buồn ngủ được”. Dành dụm tất cả số tiền kiếm được Bác cùng với vị Giáo sư người Ý học thêm tiếng Anh vào buổi cuối tuần. Bác đã tận dụng mọi nơi, mọi lúc có thể để học tiếng Anh. Rơ-nê-Đi-pét đã viết về Bác trên tờ báo “Phong trào” rằng: “Trên đường đi tìm hiểu thế giới, ở mỗi nơi tàu dừng lại, đối với anh Ba đều là một trường Đại học. Ở đó, anh đã trực tiếp thu lượm được những hiểu biết.”


Học tiếng Anh qua lịch sử đất nước

Trong thời gian ở London, Bác đã làm nhiều nghề khác nhau để có tiền ăn học. Bác đã dành nhiều thời giờ để nghiên cứu lịch sử thế giới. Bác học tiếng Anh và suy nghĩ về tương lai của các dân tộc thuộc địa. Người thường tìm hiểu nền văn hoá và lịch sử nước Anh, Mỹ. Riêng tài liệu nói về Mỹ của Bác đã lên đến hàng mấy trăm bài. Trong đó có các thể loại khác nhau, đề cập toàn diện và sâu sắc đến nước Mỹ. Với Bác, việc đọc nhiều sách báo của Mỹ, học tiếng Anh để hiểu tường tận hơn thế giới và để lãnh đạo cách mạng một cách khoa học hơn…

Học tiếng Nga trên hành trình tìm đường cứu nước
Năm 1923, Bác rời Pháp sang Nga. Hai ngày sau đó, Bác đã chào hỏi những câu thông thường bằng tiếng Nga. Liền sau đó, Người học tiếng Nga ngay lập tức. Người vừa làm, vừa học. Tranh thủ mọi cơ hội để học, Người đã tiến bộ không ngừng. Thời kỳ ở Nga (từ năm 1933 đến năm 1938) là thời kỳ Bác có điều kiện trau dồi tiếng Nga hơn cả. Bác vào học trường bổ túc các lãnh tụ do Quốc tế Cộng sản mở. Bác lấy tên là Linốp, giống với tên gọi Nga. Khi viết bài bằng tiếng Pháp để gửi về nước, Bác lại lấy tên là Lin cho hợp với tên gọi Pháp. Bác cũng làm việc ở Viện Nghiên cứu lịch sử phương Đông của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Bác đã đi nhiều nơi ở nước Nga, đến đâu cũng nói một ít tiếng Nga. Riêng trường "Ngoại ngữ Hồ Chí Minh" ở Iếckút, Bác đã đến thăm mấy lần. Đây là một học viện dạy tiếng nước ngoài của Liên Xô mang tên Bác vào cuối năm 1969 và là trường kết nghĩa với Trường đại học Ngoại ngữ Hà Nội. Nhà trường còn giữ lại nhiều kỷ niệm đẹp về Bác. Các đồng chí Liên Xô vẫn còn nhắc lại với lòng xúc động về những buổi gặp Bác xưa kia. Chính tiếng nước ngoài mà Bác đã dùng làm tăng thêm bầu không khí ấm cúng trong tình đoàn kết quốc tế đó.

CÂU CHUYỆN NHỎ VÀ BÀI HỌC LỚN

 

Trong một bài hồi tưởng về cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đồng chí Việt Phương kể lại một câu chuyện sau đây:

Vào một buổi sáng của năm 196… nào đó, Bác Hồ đi từ ngôi nhà sàn của Người sang Phủ Thủ tướng tìm đồng chí Phạm Văn Đồng để trao đổi về một vấn đề quan trọng. Lúc đó, đồng chí Phạm Văn Đồng đang làm việc tại Văn phòng, tuy cũng nằm trong khu Phủ Chủ tịch nhưng cách xa Phủ Thủ tướng tới vài trăm mét. Một đồng chí bảo vệ vội vã đạp xe ra báo với Thủ tướng. Vội quá, Thủ tướng dùng ngay chiếc xe đạp của đồng chí bảo vệ phóng về gặp Bác. Đồng chí bảo vệ không thể để Thủ tướng rời xa mình, mà lại không có thời gian tìm chiếc xe đạp khác, nên anh đành lập tức chạy bộ theo sau Thủ tướng. Bác Hồ đứng sẵn ở sân chờ đồng chí Phạm Văn Đồng. Khi Thủ tướng vừa xuống xe, chưa kịp chào hỏi gì, Bác đã nói ngay:

– Sao chú không đèo chú bảo vệ đằng sau xe để cùng về, lại để chú ấy chạy bộ?

Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc đó như chợt nhận ra, vội đáp:

– Xin lỗi Bác.

Đáp vậy, nhưng sau đó đồng chí Phạm Văn Đồng đã suy nghĩ rất kỹ về lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà nghiêm khắc của Bác Hồ. Sáng hôm sau, trong lúc làm việc với một số đồng chí cấp dưới, ông kể lại câu chuyện trên cho mọi người cùng nghe, rồi nói:

– Tôi đã nghĩ về lời của Bác. Lòng nhân ái, thương yêu và kính trọng con người, phải chân thực từ trong tâm của ta, rồi tự nhiên bật ra thành thái độ và hành động, chẳng phải suy nghĩ gì, như là từ bản năng.

Câu chuyện trên đây gợi cho chúng ta một số bài học lớn, có ý nghĩa sâu sắc.

Thứ nhất, ngay cả những nhà lãnh đạo cao cấp nhất cũng luôn luôn cần trau dồi đạo đức, bồi bổ nhân cách và rèn luyện phong cách ứng xử sao cho thực sự nhân ái, xứng tầm. Ai cũng biết Thủ tướng Phạm Văn đồng là một trong những nhà lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, Nhà nước và dân tộc ta. Ông không những được nhân dân ta rất kính trọng, yêu mến mà còn được cộng đồng thế giới thừa nhận như một nhà lãnh đạo thông tuệ, hào hoa, lịch thiệp, giỏi giang bậc nhất. Thế mà, tuy ông đã làm tới chức Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn không ngần ngại nhắc nhở, phê bình để giúp đồng chí Phạm Văn Đồng ứng xử cho đúng, tu tâm, dưỡng tính cho thuần hậu, nhân ái, sao cho trở thành “bản năng” của nhà lãnh đạo.

Ở đây ta thấy nét rất đẹp của Bác Hồ trong vai trò của người Thầy, và Thủ tướng Phạm Văn Đồng với tư cách người học trò. Thầy không ngần ngại chỉnh sửa, chỉ bảo học trò theo một cách vừa nhân hậu, nhẹ nhàng, nhưng cũng đủ nghiêm khắc để trò nhận thức được điều Thầy cần chỉ bảo. Về phía mình, học trò là người thực sự cầu thị, thành thực, nghiêm túc tiếp thu sự chỉ bảo của Thầy, suy ngẫm kỹ càng, không hời hợt qua loa mà ghi tâm, khắc cốt, qua đó mà hoàn thiện nhân cách của mình.

Ngày xửa, ngày xưa, Đức Phật Tổ và Đức Khổng Tử cũng dùng phương pháp này để rèn dạy, trao truyền tâm ấn cho học trò. Ngày nay thiết tưởng vẫn cần, rất cần những sự chỉ dẫn – học hỏi như vậy, nhất là đối với các bậc, các cấp lãnh đạo, nếu như họ không muốn trở thành những người “vác mặt quan cách mạng” – như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cảnh báo.

Thứ hai, là bài học về lòng nhân ái. Bài học này Thủ tướng Phạm Văn Đồng suy ngẫm và rút ra từ câu chuyện nói trên. Theo Thủ tướng thì lòng nhân ái, thương yêu và kính trọng con người không phải là cái gì có thể nguỵ tạo theo kiểu “giả nhân giả nghĩa” để mị dân, mà phải chân thực từ trong tâm của ta, rồi tự nhiên bật ra thành thái độ và hành động, chẳng phải suy nghĩ gì, như là từ bản năng. Đây là một nhận thức rất sâu sắc về đạo đức cách mạng. Lòng nhân ái phải thực sự trở thành cái cốt lõi, thành điểm tựa cho nhân cách của một nhà lãnh đạo chân chính. Chỉ khi đó tình thương yêu và kính trọng con người mới phát từ trong tâm mà ra, hoà quyện vào trong ứng xử hàng ngày của nhà lãnh đạo một cách hết sức tự nhiên, như một bản năng vậy. Như vậy thì lòng nhân ái không thể là cái gì có thể “chế tác”, ngụy tạo một cách giản đơn và chỉ có lòng nhân ái chân thực mới tạo nên uy tín, tạo nên sức thu hút quần chúng và nâng cao tầm của nhà lãnh đạo. Ngược lại, nhà lãnh đạo phải đạt tới tầm nào đó rồi mới hiểu thấu đáo được cội rễ của lòng nhân ái, mới biết yêu thương và kính trọng con người như một bản năng.

Thứ ba, là bài học về mối quan hệ giữa lãnh tụ với nhân dân. Đây chính là điều mà Bác Hồ đã quán triệt cho các học trò của Người ngay từ những ngày đầu của sự nghiệp Dựng Đảng – Cứu Quốc, rằng “công nông là gốc kách mệnh”. Đặc biệt là từ sau khi Đảng ta trở thành một “đảng cầm quyền” thì Người càng đặc biệt chú trọng đến việc giáo dục cho cán bộ, đảng viên, trí thức ý thức gần dân, thực sự thương yêu và kính trọng nhân dân. Ngay trong tháng đầu tiên của chính quyền cách mạng Hồ Chí Minh đã nhận thấy cán bộ các cấp phạm vào một loạt các sai phạm như: trái phép, cậy thế, hủ hoá, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Vì vậy, ngày 17 tháng 10 năm 1945 Người đã viết Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, huyện và làng yêu cầu cán bộ ta khẩn trương, nghiêm túc rút kinh nghiệm, gột rửa những sai phạm nói trên. Hai năm sau, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang trải qua giai đoạn rất khốc liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian biên soạn cuốn sách “Sửa đổi lối làm việc” để nghiêm khắc vạch ra những sai phạm trong đạo đức và phong cách lãnh đạo, làm việc của cán bộ các cấp, đồng thời chỉ ra những phương hướng và biện pháp cụ thể để khắc phục. Người cho rằng đạo đức của một người cán bộ, đảng viên phải gồm đủ cả Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm; rằng “sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”, nhưng “tuyệt đối không theo đuôi quần chúng”.

Có thể nói tác phẩm trên đây là những chỉ dẫn sâu sắc và mẫu mực của Hồ Chí Minh về đạo đức và phong cách lãnh đạo, ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.

Bác Hồ dạy đạo làm tướng

 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm giáo dục, rèn luyện các vị tướng và coi đó là một nội dung quan trọng để quân đội thực sự là đội quân cách mạng “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”. Những mẩu chuyện sau đây là những ví dụ cụ thể...

“Dĩ công vi thượng”

Nhân dịp Hội thảo kỷ niệm lần thứ 115 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (năm 2005), Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kể lại một hồi ức về lời dạy của Bác đối với Đại tướng.

Đó là một buổi tối mùa đông lạnh lẽo, trong hang Pác Bó (Cao Bằng), Bác Hồ giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp nhiệm vụ tổ chức “Ðội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân”. Hang nhỏ nằm sâu trong khe núi. Trong hang tối, không khí ẩm và lạnh. Đồng chí Võ Nguyên Giáp nhặt những cành củi khô nhóm một ngọn lửa sưởi ấm cho Bác. Khói bốc cay sè, củi nổ tí tách. Nằm bên Bác trên một chiếc giường lát bằng cành cây, đồng chí Võ Nguyên Giáp lắng nghe tiếng Người nói nhỏ nhẹ đều đều, giọng xứ Nghệ ấm áp. Câu chuyện đến quá nửa đêm, bàn về vấn đề chuẩn bị phát động vũ trang khởi nghĩa. Bỗng nhiên Bác dừng lại nói: “Chú Văn ạ, làm cách mạng là phải dĩ công vi thượng”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại: “Bác chỉ nói ngắn bốn chữ như vậy thôi mà tôi nhớ mãi và phấn đấu làm theo lời Bác suốt đời cho đến tận ngày nay. Dĩ công vi thượng là cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích chung lên trên hết, tất cả vì nước vì dân, đặt lợi ích của dân, của nước, của Ðảng lên trên hết, đem lòng chí công vô tư mà đối xử với người, với việc, không mảy may có chút chủ nghĩa cá nhân”.

Sau đó, ngày 28-5-1948, tại lễ thụ phong quân hàm Đại tướng đối với đồng chí Võ Nguyên Giáp-Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ý nghĩa của việc phong quân hàm: “Hôm nay việc phong tướng cho chú Giáp và các chú khác cũng là kết quả của bao nhiêu hy sinh, chiến đấu của đồng bào, đồng chí”.

Lời nhắn nhủ của Bác trong lễ phong tướng đã đi theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp suốt cuộc đời. Sau này, rất nhiều báo chí nước ngoài tung hô ông là “vị tướng huyền thoại”, “thiên tài quân sự”... nhưng ông đã khiêm nhường trả lời: “Vị tướng tài nhất là Nhân dân Việt Nam”. Trong một cuộc hội thảo, Đại tướng cho rằng, ở Việt Nam, danh hiệu vẻ vang nhất là danh hiệu đảng viên và nhấn mạnh: “Chúng ta nhớ tới biết bao đảng viên ưu tú đã một lòng vì nước vì dân, nêu cao tinh thần gương mẫu trong cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc 10.000 ngày, không quản gian khổ hy sinh, sẵn sàng xả thân để giành chiến thắng. Tại mặt trận, trước tình huống khó khăn, gay go, quyết liệt đã vang lên tiếng thét: “Các đảng viên cộng sản tiến lên!”, “Ai là người theo Ðảng hãy tiến lên!”. Hai tiếng đảng viên thiêng liêng và hành động tiên phong gương mẫu của đảng viên đã có sức mạnh cổ vũ đồng đội xông lên tiêu diệt kẻ thù, giành thắng lợi”. Từ đó, Đại tướng cho rằng: “Cán bộ cấp càng cao thì tác dụng gương mẫu càng quan trọng. Các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Ðảng, Nhà nước, quân đội, các đoàn thể, ở Trung ương và địa phương, thủ trưởng các ban, ngành, các đơn vị sản xuất và chiến đấu hãy nêu cao vai trò gương mẫu về đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Dĩ công vi thượng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.

“Suốt đời phục vụ nhân dân”

Ngày 31-8-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 36/SL phong quân hàm cấp tướng cho 16 sĩ quan quân đội. Dự lễ phong quân hàm ngày 1-9-1959, Bác Hồ căn dặn: “Dù ở cương vị nào chúng ta cũng đều phải cố gắng để xứng đáng là người đầy tớ trung thành và tận tụy của nhân dân”. Thay mặt những đồng chí được phong quân hàm cấp tướng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã phát biểu và trân trọng hứa: “Luôn luôn làm đúng lời căn dặn của Bác, giữ vững lập trường trọn đời phục vụ nhân dân”.

Thực hiện lời hứa với Bác, suốt cuộc đời mình, bao giờ Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cũng giữ vững nguyên tắc lời nói đi đôi với việc làm. Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 70 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã có bài viết “Học tập tinh thần phục vụ nhân dân vô điều kiện của Hồ Chủ tịch” đăng trên Báo Quân đội nhân dân số 737 ngày 19-5-1960, trong đó khẳng định: “Cảnh nước mất nhà tan đã thôi thúc Hồ Chủ tịch ra đi làm cách mạng với tinh thần phục vụ nhân dân vô điều kiện làm tiêu chuẩn hành động và chiến đấu của mình. Cả cuộc đời của Hồ Chủ tịch gắn liền với đời sống vật chất, tinh thần, năng lực, trí tuệ tình cảm của nhân dân... Người chỉ và chỉ nghĩ đến việc phục vụ nhân dân, sống như nhân dân, nói và viết như nhân dân và vì nhân dân”. Đây là một trong những bài viết quan trọng, như một lời hứa của lực lượng vũ trang đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Còn với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, cuộc đời “sáng trong như ngọc một con người” của ông chính là minh chứng sống động nhất về thực hiện lời hứa của một vị tướng với Bác Hồ.

“Cần nhiều nhân tướng”

Thượng tướng Đàm Quang Trung kể lại một kỷ niệm sâu sắc về một lần được Bác dặn dò khi ông nhận lệnh lên đường vào miền Nam chiến đấu: “Rồi tôi nhận lệnh vào miền Nam chiến đấu. Trước khi đi, Bác gọi tôi lên gặp để Bác dặn dò. Bác hỏi thăm tình hình gia đình tôi và hỏi chú có gặp khó khăn gì không. Tôi thưa với Bác là tôi đã chuẩn bị sẵn sàng... Trong phòng lúc ấy chỉ có hai Bác cháu. Tự nhiên tôi bỗng cảm thấy bùi ngùi. Ngày mai xa Bác, gần một năm được sống bên Bác, được Bác chăm sóc yêu thương, ân cần dạy dỗ. Thời gian một năm được sống gần Bác, tôi như được qua một trường huấn luyện đặc biệt hiếm có”.

Bác dạy đồng chí Đàm Quang Trung về đạo làm tướng: “Chú lên đường đi chiến trường xa xôi. Bác nói với chú về nhân cách một người làm tướng. Trong tướng có nhiều loại:  Mãnh tướng như Trương Phi, dũng tướng như Quan Vân Trường, hổ tướng như Triệu Tử Long. Các loại tướng như thế đều tốt. Nhưng theo Bác, cuộc chiến đấu của chúng ta cần nhiều nhân tướng, vì đây là cuộc chiến đấu vì con người. Nhân tướng là người tướng hiểu con người, biết quý con người, biết dùng người và được mọi người yêu quý. Chỉ có những vị tướng như thế mới trăm trận trăm thắng được”.

Không nên nóng nảy với cấp dưới

Năm 2007, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản sách “Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Trong đó có chuyện Thượng tướng Phùng Thế Tài được Bác rèn luyện, nhắc nhở sửa chữa tính nóng nảy với cấp dưới. Đồng chí Phùng Thế Tài vốn là chiến sĩ bảo vệ Bác trong thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Buổi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, đồng chí Phùng Thế Tài lúc này đã trở thành chỉ huy một đơn vị lớn, nhưng đôi khi, ông hay quát mắng, thậm chí bợp tai cấp dưới (bản tính ông ngay thẳng, tuy đôi lúc nóng nảy nhưng được cán bộ, chiến sĩ dưới quyền yêu quý-TG). Được nghe “dư luận” về Phùng Thế Tài, một hôm, Bác cho gọi lên Việt Bắc. Bác dặn Trạm đón tiếp khu ATK, dù có đến sớm, cũng giữa trưa mới cho ông vào gặp Bác.

Trời mùa hè, nắng chang chang, đi bộ giữa trưa, đồng chí Phùng Thế Tài vã cả mồ hôi, người như bốc lửa. Đến nơi, Bác đã chờ sẵn. Trên bàn đã đặt hai cốc nước, một cốc nước sôi có ý chừng vừa như mới rót, bốc hơi nghi ngút, còn cốc kia là nước lạnh. Sau khi chào hỏi xong, Bác chỉ vào cốc nước nóng nói: “Chú uống đi”. Đồng chí Phùng Thế Tài kêu lên: “Trời nắng thế này mà Bác lại cho nước nóng làm sao cháu uống được”. Bác mỉm cười: “Đấy nhé, nước nóng, cả chú và tôi đều không uống được. Khi chú nóng, cả chiến sĩ của chú và cả tôi cũng không tiếp thu được. Hòa nhã, điềm đạm cũng như cốc nước nguội dễ uống, dễ tiếp thu hơn”. Hiểu ra lời dạy của Bác, đồng chí Phùng Thế Tài nhận lỗi, hứa sẽ sửa chữa…

“Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung”

“Đạo làm tướng” đầy đủ nhất theo tư tưởng Hồ Chí Minh, được Người đưa ra tại Hội nghị Quân sự lần thứ V (tháng 8-1948), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dạy mỗi tướng lĩnh phải: “Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung”.

Theo quan điểm của Bác: Làm tướng không phải để hưởng lợi cá nhân, mà phải tuyệt đối trung thành, phụng sự sự nghiệp cách mạng của Đảng, Tổ quốc và nhân dân được tốt hơn. Vinh dự thật to lớn nhưng trách nhiệm hết sức nặng nề. Mỗi sĩ quan cấp tướng phải thực sự tiêu biểu về trí tuệ, bản lĩnh và nhân cách, tuân thủ kỷ luật, Hiến pháp, pháp luật. Người làm tướng phải có tri thức, đạo lý, nhân cách, có dũng khí, sống nhân văn, liêm chính, chí công vô tư, thực sự là chỗ dựa đặc biệt tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Dưới con mắt của nhân dân, người làm tướng cũng phải thực sự là hình mẫu tiêu biểu của sự khiêm nhường, cầu thị, trọng dân, gần dân, vì nhân dân phục vụ, có khả năng dẫn dắt cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

MỘT NHÂN CÁCH LỚN - MỘT TẤM GƯƠNG SÁNG TRONG VIỆC HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

 

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - một nhà lãnh đạo có tâm, có tầm, luôn toàn tâm, toàn ý hy sinh cống hiến cho lợi ích chung của nước, của dân, của Đảng mà không hề màng quyền lực, bổng lộc, vun vén lợi ích cá nhân. Có thể nói người đứng đầu Đảng ta là điểm hội những tinh hoa của đất nước và con người Việt Nam trong hòa bình, hội nhập. Chỉ những con người như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - một người luôn biết yêu mảnh đất này, Tổ quốc này thì mới biết buồn nỗi buồn của dân, biết lo nỗi lo của dân và luôn đau đáu tìm tòi, sáng tạo, phấn đấu làm sao để giúp nhân dân mình, đất nước mình sớm thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, sánh vai với các cường quốc năm châu. Tình yêu Tổ quốc cao quý, thiêng liêng lắm và chính nó cùng với ý chí, nghị lực được tôi luyện trong những thăng trầm của lịch sử đất nước đã tạo nên nhân cách con người Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Những gì mà đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước nói và làm đã chiếm trọn niềm tin yêu, kính trọng của nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế. Sự ngưỡng mộ, lòng kính trọng, biết ơn sâu sắc đối với đồng chí Tổng Bí thư của người dân Việt Nam trong và ngoài nước được tỏ bày qua nhiều bài viết, lời thơ. Những bài viết, bài thơ ấy không chỉ là thể hiện tấm lòng, tình cảm của cá nhân mình mà họ đã nói hộ tình cảm, tấm lòng của nhân dân Việt Nam dành cho người đứng đầu Đảng ta.

Lịch sử dân tộc Việt Nam thời nào cũng thế, mỗi khi đất nước đứng trước những thử thách lớn lao thì bao giờ cũng xuất hiện những anh hùng hào kiệt. Trong thời bình, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi đất nước ta đứng trước nhiều nguy cơ, khó khăn, thách thức. Nếu như thời chiến tranh cả dân tộc dồn tâm, dốc sức cho một mục tiêu là chống giặc ngoại xâm, giải phóng đất nước, giữ gìn và bảo vệ giang sơn, bờ cõi thì nay trong điều kiện hòa bình chúng ta phải làm nhiều nhiệm vụ, thực hiện nhiều mục tiêu, đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức, trong đó nguy hiểm nhất sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đặc biệt là tệ tham nhũng, tiêu cực. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xem tham nhũng, tiêu cực là thứ “giặc nội xâm”. Cuộc đấu tranh phòng, chống loại giặc nguy hiểm này vô cùng khó khăn, phức tạp bởi nó ở ngay trong chính nội bộ ta.

Sau bao năm tưởng chừng như chúng ta bất lực trước sự hoành hành của loại giặc này thì ở vào thời điểm khó khăn, phức tạp nhất đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xuất hiện. Những gì mà người đứng đầu Đảng ta đã làm và những kết quả quan trọng đạt được trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua đã khẳng định tinh thần chiến đấu kiên quyết, kiên trì, không ngừng, không nghỉ trong phòng, chống “giặc nội xâm” vì sự trong sạch vững mạnh của Đảng, của hệ thống chính trị, vì sự tồn vong của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa và vị thế của dân tộc Việt Nam.

Tinh thần của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng chính là tinh thần của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và của toàn dân, của cả dân tộc Việt Nam. Từ những việc đã làm và kết quả đã đạt được, nhân dân ta đặt trọn niềm tin tuyệt đối vào người lãnh đạo cao nhất của Đảng ta - người đã trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo kiên trì, chắc chắn, kiên quyết và cũng rất nhân văn cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tinh thần của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng chính là kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong điều kiện mới, với đối tượng mới đó là chống “giặc nội xâm”.

Nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước đặt trọn niềm tin yêu ở đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mà cao hơn thế bạn bè quốc tế đặt trọn niềm tin và lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cả dân tộc Việt Nam, đặt trọn niềm tin ở công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang dày công xây dựng. Với những gì mà đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã làm và những thành tựu đã đạt được, bạn bè quốc tế tin tưởng rằng công cuộc đổi mới của nhân dân ta sẽ tiếp tục gặt hái thêm nhiều thành công mới, vị thế, uy tín của Việt Nam sẽ ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

KHI BÁO CHÍ QUAY LƯNG LẠI VỚI LỊCH SỬ DÂN TỘC

 

Nhìn lại, 20/07/2022, vào 68 năm về trước, Hiệp định Genève được kí kết giữa Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Đây là kết quả của biết bao nhiêu nỗ lực, máu xương, mồ hôi, nước mắt… của người dân Việt Nam nói riêng và cả khối Đông Dương nói chung nhằm chấm dứt sự đô hộ của Thực dân Pháp. Cũng vào ngày này năm ấy, hơn 20 quốc gia châu Phi và nhiều quốc gia khác ở Nam Mỹ đã cùng tổ chức “Ngày Việt Nam” nhằm ủng hộ Việt Nam độc lập, tự do và mở ra phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa… Nhưng sự kiện này "lạc trôi" đi đâu mất và im lìm không được mấy quan tâm.

Lướt qua báo chí, chúng ta thấy gì? Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Dân Trí, Người Lao Động… đồng loạt đăng bài ca tụng tưởng nhớ Tô Văn Lai - sáng lập ra Thúy Nga Paris, người tạo ra những Đan Nguyên, Khánh Ly, Nguyễn Ngọc Ngạn… và những chương trình chống phá đất nước cực kỳ dữ dội trước năm 2010. Trong thời gian ở Paris, Tô Văn Lai được cho là có liên kết với Bùi Tín, quyên góp tiền cho Việt Tân, từng ủng hộ rất nhiều các “Chính phủ lâm thời Việt Nam hải ngoại”, đưa tin truyền thông cho bạo loạn FULRO ở Tây Nguyên… Trong khoảng ít năm trở lại đây, Tô Văn Lai lặng im và không tham gia bày tỏ quan điểm chính trị để Thúy Nga Paris ít bị ảnh hưởng và có cơ hội trở lại hoạt động ở quê nhà Việt Nam.

Một người như vậy, được xuất hiện đường hoàng trên trang nhất của những tờ báo lớn nhất Việt Nam. Người ta sử dụng những mỹ từ như “giáo sư Tô Văn Lai và những cống hiến cao đẹp”, “một người thầy của showbiz Việt” (?), “một người nghệ sĩ vì người hâm mộ”... Có cảm tưởng như người ta đang mô tả một vĩ nhân, một người nổi tiếng có ảnh hưởng trọng đại đến dân tộc, một người có công lao vô cùng to lớn đến Tổ Quốc…

Mình nhớ đến những ngày 22/12 năm ngoái, nhạc sĩ hải ngoại Lâm Phương mất và báo chí đồng loạt lên bài ca tụng, chúc mừng, thương tiếc... Và những tin tức về vị nhạc sĩ này còn lên tận trang chủ của nhiều tờ báo, mặc cho ngày 22/12 là ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và hôm đó cũng là dịp kỉ niệm 110 năm ngày sinh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Báo chí lại đi tẩy trắng cho những người đã chống đối đất nước quyết liệt? Những người thậm chí còn không đường hoàng nói lời xin lỗi và hòa hợp dân tộc. Báo chí lại đi ca tụng một người vượt biên về ghi những thước phim chống phá đất nước và bị bắt rồi trục xuất khỏi đất nước?

Báo chí phải chăng là đang phản cách mạng?

Hãy nhìn báo chí Trung Quốc, Hàn Quốc nói gì về những con người quay lưng lại Tổ Quốc? Hãy nhìn cách họ đã và đang làm gì để bảo vệ lịch sử dân tộc.

Báo chí phải chăng là đang quay lưng lại với lịch sử? Báo chí phải chăng là là một kẻ thù ở ngay đằng sau?

PHÉP DỤNG BINH CỦA TRẦN HƯNG ĐẠO

 

Về quyết tâm đánh giặc và thắng giặc: "Bệ hạ muốn hàng, trước hết hãy chém đầu thần đi đã”.

Về nguồn gốc làm nên sức mạnh đánh giặc: “Lấy khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”.

Về đoàn kết nội bộ: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà chung sức", "quân cốt tinh không cốt đông, trên dưới một dạ như cha con…”.

Về tư duy quân sự lấy nhỏ thắng lớn, đem đoản binh chống trường trận: “Tiêu dân thanh dã, đoản binh phục hậu”, "dĩ đoản chế trường”..

Về tầm nhìn chiến lược và đánh giá địch ta: “Người giỏi thắng không cần thắng nhiều lần, mà cần toàn thắng, đảm bảo thắng”, "Năm nay thế nước đánh giặc nhàn”,

Về thế trận chiến tranh nhân dân: “Hình dáng trận như chữ nhân, tiến cũng là chữ nhân, thoái cũng là chứ nhân, họp lại cộng làm một người, tan ra cũng làm một người, một người làm một trận, nghìn muôn người hợp làm một trận, nghìn muôn người động làm một trận”.

ĐẠO LÀM TƯỚNG

(Trích Binh thư yếu lược - Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn)

Khí lượng của tướng lớn nhỏ khác nhau.

Tướng mà che điều gian, giấu điều họa, không nghĩ đến điều quân dân oán ghét - tướng ấy chỉ huy mười người.

Tướng mà sớm dậy khuya nằm, lời lẽ kín đáo - tướng ấy chỉ huy được trăm người.

Tướng thẳng mà biết lo, mạnh mà giỏi đánh - đó là tướng chỉ huy được nghìn người.

Tướng mà ngoài mặt hăm hở, trong lòng ân cần, biết người khó nhọc, thương kẻ đói rét - đó là tướng chỉ huy được vạn người.

Tướng mà gần người, tiến người tài, ngày thường cẩn thận, thành thực rộng rãi, giỏi việc dẹp loạn - đó là tướng chỉ huy được mười vạn người.

Tướng mà dùng nhân ái đối với kẻ dưới, lấy tín nghĩa để phục nước láng giềng, trên biết thiên văn, dưới biết địa lý, giữa biết việc người, coi bốn biển như một nhà - đó là tướng chỉ huy được cả thiên hạ không ai địch nổi.

NGHĨ VỀ PHƯƠNG PHÁP XEM NGƯỜI CHỌN TƯỚNG CỦA HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN

 

Đức Thánh Trần nêu ra 8 điểm với lời lẽ rất cụ thể, dung dị nhưng bao quát được mọi vấn đề của cái đạo làm tướng mà hôm nay chúng ta có thể học để chọn người làm quan chức.

Trong 8 điểm ấy, hai cách đầu tiên có thể hình dung là một thử thách theo kiểu “trực quan sinh động”:

1-    Hỏi bằng lời nói xem trả lời có rõ ràng không.

2-    Gạn cũng bằng lời lẽ xem có biến hóa không.

Phàm đã là người làm tướng (hay chuẩn bị bổ nhiệm làm quan chức) thì phải am hiểu lĩnh vực mà mình phụ trách. Đó phải là tiêu chí đầu tiên khi xem xét đến các tiêu chí khác. Không những thế, phải dự kiến cả những phương án hóa giải khó khăn, thử thách nếu gặp phải để bảo toàn lực lượng (nếu là người làm tướng), để giữ vững sự ổn định và phát triển của ngành, đơn vị, địa phương mà mình lãnh đạo (nếu là quan chức).

Hai cách tiếp theo đã được nâng lên một cấp độ cao hơn:

          3- Cho gián điệp thử để xem có trung thành không.

4- Hỏi rõ ràng tường tận xem đức hạnh thế nào.

Với người làm tướng (hay quan chức), mọi việc làm, quyết định của họ có ảnh hưởng lớn đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Vì vậy sự trung thành và lòng yêu nước phải được thử thách, kiểm chứng và bản thân họ phải chứng tỏ được tài năng, đức độ, có tấm lòng nhân hậu, bao dung.

Muốn chọn được tướng giỏi (hay chọn quan chức có năng lực) thì 4 điểm nêu trên mới chỉ là điều kiện cần mà chưa đủ. Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn tiếp tục đưa ra những yêu cầu mới, cao hơn, nghiệt ngã hơn để thử thách người làm tướng:

5- Lấy của để mà thử xem có thanh liêm không.

6- Lấy sắc đẹp mà thử xem có đứng đắn không.

Có thể nói, đây là một thử thách thực sự phải vượt qua nếu muốn trở thành người làm tướng (hay quan chức) có tài, có đức. Từ cổ chí kim đã cho chúng ta thấy, nhiều bậc quân vương, nhiều công hầu khanh tướng cũng tài ba lỗi lạc, cũng muốn vì lợi ích quốc gia, dân tộc nhưng lại không đủ bản lĩnh vượt qua cái bẫy “tiền tài” và “gái đẹp”, trở thành bạo chúa, hại nước, hại dân để lại tiếng nhơ muôn đời.

Hai điểm cuối cùng mà Đức Thánh Trần đề ra để chọn tướng cho thấy yêu cầu vô cùng khắt khe trước khi quyết định giao sinh mệnh ba quân cho một con người:
          7- Lấy việc khó khăn mà thử xem có dũng cảm không.

8- Cho uống rượu say mà thử xem có giữ được thái độ không.

Phàm đã là người làm tướng phải xông pha trận mạc (cũng như người làm quan chức phải biết đứng mũi chịu sào) nếu không có lòng dũng cảm, ngại khó khăn thì dễ nản chí, không có được những quyết định sáng suốt, kịp thời, xử lý tình huống những hoàn cảnh tưởng chừng như bế tắc thì thiệt hại do họ gây ra sẽ vô cùng lớn. Phải có bản lĩnh, làm chủ được mình, nếu để men rượu điều khiển hành vi thì hậu quả sẽ khó lường.

Chuyện thời Tam Quốc có Trương Phi tính tình nóng nảy, trong khi say rượu thường hung hăng đánh đập quân sĩ. Vì không nghe lời dặn của Lưu Bị, trước khi mang quân đi đánh Ngô, Trương Phi lại say rượu đánh đập Phạm Cương và Trương Đạt là hai tướng dưới trướng để đến nỗi bị Phạm, Trương giết chết, rồi bọn chúng cắt đầu Trương Phi sang hàng Đông Ngô. Người làm tướng như Trương Phi không chết oanh liệt ở sa trường mà chết vì bị rượu điều khiển làm điều xằng bậy. Cái chết đó chẳng những thiệt thân mà còn góp phần khiến cho sự nghiệp của Lưu Bị sớm bị bại vong. Đó há chẳng phải là lời cảnh tỉnh nhãn tiền sao?

Đọc xong 8 điểm trong phương pháp xem người chọn tướng của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, thử nhắm mắt lại hình dung, ta thấy được nhãn quan của một vĩ nhân suốt cuộc đời quên lợi ích riêng tư, toàn tâm toàn ý vì muôn dân và đất nước. Và phương pháp ấy đã chọn lọc cho nhà Trần những người hiền tài, đồng lòng dốc sức tạo nên một sức mạnh vô biên của nước Đại Việt ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông – một đạo quân tưởng chừng như bách chiến bách thắng, chiếm gần trọn cả châu Á, châu Âu vẫn phải chịu thảm bại, khuất phục trước hào khí Đông A.

Một số nhiệm vụ trọng tâm giúp thực hiện tốt đạo làm người

 


Những năm gần đây, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp, chạy theo lợi ích cá nhân, thực dụng, quan liêu, tham nhũng, hối lộ; có lối sống thực dụng, vụ lợi, vị kỷ, đã và đang làm băng hoại đạo đức xã hội, băng hoại truyền thống nhân văn của dân tộc; trở thành thách thức lớn đối với công cuộc đổi mới đất nước và là nguy cơ đe dọa sự sống còn của chế độ. Tình trạng này có nhiều nguyên nhân, trong đó, yếu kém trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Để khắc phục thực trạng trên và góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, thực hiện tốt nội dung về đạo làm người trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Thứ nhất, phát huy vai trò chủ động, tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trong việc rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống để có bản lĩnh chính trị và lập trường tư tưởng vững vàng, nhãn quan chính trị đúng đắn, kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đặc biệt chú trọng giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ và coi đó là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài. Trước hết, cấp ủy và người đứng đầu cần tạo điều kiện tối đa cho thế hệ trẻ học tập, lao động, cống hiến và kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.

Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách thiết thực, gắn với công việc, sự rèn luyện, tu dưỡng hằng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; nâng cao chất lượng, triển khai theo chiều sâu và lồng ghép các nội dung của việc học tập và làm theo với các nhiệm vụ chính trị, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đơn vị; duy trì thường xuyên trong sinh hoạt đảng và hoạt động của đơn vị, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện, làm theo gương Bác sâu rộng trong toàn xã hội nhằm đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội.

Thứ ba, thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, tăng cường cơ chế giám sát, phản biện xã hội của các đoàn thể chính trị, xã hội đối với hoạt động của cán bộ, đảng viên và của hệ thống chính trị; đẩy mạnh kiểm tra, giám sát đối với những lĩnh vực, vị trí công việc dễ phát sinh tham ô, tham nhũng, vi phạm đạo đức lối sống; quản lý chặt chẽ, thường xuyên đối với cán bộ, đảng viên cả ở cơ quan, đơn vị công tác và nơi cư trú. Đồng thời tiếp thu các ý kiến đóng góp đối với cán bộ, đảng viên nhằm kịp thời phát hiện sai lầm, khuyết điểm và có biện pháp đấu tranh, xử lý hiệu quả; kiên quyết xử lý các vi phạm, làm tốt việc nêu gương người tốt, việc tốt nhằm khuyến khích cán bộ, đảng viên tự giác học tập, rèn luyện, gương mẫu trong đạo đức và lối sống để nhân dân noi theo. Việc phát huy dân chủ phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống phải gắn với việc cải thiện điều kiện vật chất, tinh thần cho cán bộ, đảng viên, giúp cho họ yên tâm, gắn bó với công việc, được thể hiện quyền và trách nhiệm của mình đối với công việc.

Có thể nói, đạo làm người trong tư tưởng Hồ Chí Minh về là nền tảng để xây dựng, hình thành nên con người có nhân cách, đạo đức hoàn thiện; là thành tố quan trọng tạo nên sự đoàn kết, gắn bó "lòng dân, ý Đảng, phép nước làm một". Đó cũng là sức mạnh nội sinh quan trọng, đảm bảo sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước trước bất kỳ hoàn cảnh khó khăn, hay bất kỳ thách thức nào.