Thứ Hai, 10 tháng 4, 2023

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch như thế nào?

 


- Trước hết, cần có sự hiểu biết khoa học, thấu đáo về lý luận và lịch sử chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Muốn vậy phải nghiên cứu công phu, có hệ thống, trên quan điểm thực tiễn, quan điểm lịch sử - cụ thể, quan điểm phát triển, kết hợp các phương pháp khoa học chuyên ngành và liên ngành để nắm được bản chất, đặc điểm và các giá trị bền vững trong di sản kinh điển mácxít.

Riêng với tư tưởng và di sản Hồ Chí Minh cũng phải nghiên cứu các văn phẩm lý luận và hoạt động thực tiễn vô cùng phong phú của Người trong hơn sáu thập kỷ hoạt động với tư cách một nhà tư tưởng mácxít sáng tạo ở tầm vóc một nhà kinh điển của cách mạng Việt Nam.

Cống hiến vô giá của Hồ Chí Minh đối với lịch sử là ở chỗ, Người không chỉ vận dụng sáng tạo mà còn phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam. Những phát hiện mang tầm vóc thời đại của Hồ Chí Minh chẳng những làm sáng tỏ quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, đặc biệt là quy luật ra đời và phát triển của Đảng ta, lý luận và phương pháp xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền ở Việt Nam; lý luận về chiến tranh nhân dân, đặt nền móng cho khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh; lý luận về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa của Việt Nam; lý luận (ở tầm học thuyết) về giải phóng và phát triển Việt Nam mà hạt nhân là lý luận về sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong tiến trình cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hồ Chí Minh còn đề ra lý luận về đạo đức cách mạng và thực hành đạo đức cách mạng trong Đảng, trong dân như một mẫu mực.

Người còn dày công xây dựng đường lối chính trị, tìm ra bí quyết của mọi thành công của cách mạng. Người có tầm nhìn chiến lược về con người và văn hóa, về đổi mới và hội nhập để hiện đại hóa đất nước, để thực hiện hoài bão và khát vọng phát triển. Bằng những đóng góp đó, Hồ Chí Minh với thiên tài tư tưởng và tổ chức, chẳng những đã tìm đường, chọn đường, nhận đường, trở thành người dẫn đường của cách mạng Việt Nam mà còn làm phong phú, sâu sắc, mới mẻ và hiện đại chủ nghĩa Mác - Lênin từ thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới. Người xứng đáng được thừa nhận là một tác gia kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nhiều luận điểm của Người mang tầm kinh điển với phong cách và bản lĩnh đặc sắc riêng có của Người. Không hàn lâm bác học, giản dị mà sâu sắc, “chạm” vào chân lý, trở thành chân lý, quy luật của muôn đời. Không giáo điều, không biệt phái, tư duy khoáng đạt, cởi mở, kết hợp nhuần nhuyễn tinh hoa dân tộc với tinh hoa văn hóa nhân loại thông qua tiếp biến để phát triển, trung thành một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin để làm giàu sức sống chủ nghĩa đó trong thời đại mới, trong thế giới hiện đại ngày nay. Đó là đặc điểm tạo nên chân giá trị và tầm ảnh hưởng của tư tưởng, của di sản Hồ Chí Minh ở trong nước và trên thế giới. Làm rõ những vấn đề cốt lõi lý luận đó, chứng minh được giá trị, sức sống và ý nghĩa từ những cống hiến đó của Người trong thực tiễn cách mạng thế kỷ XX, hiện nay cũng như sau này. Đó là hướng đích của chúng ta trong việc bảo vệ sự sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, triển vọng và sức sống của chủ nghĩa xã hội, là cách bảo vệ tốt nhất nền tảng tư tưởng của Đảng, là thái độ và phương pháp đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình hiện nay.

Điều đó có nghĩa là, thấm nhuần, tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử, nắm vững thế giới quan cách mạng và khoa học, phép biện chứng duy vật, tuân theo chỉ dẫn của V.I.Lênin “phân tích cụ thể, một tình hình cụ thể, đó là bản chất, linh hồn sống của chủ nghĩa Mác”. Muốn bảo vệ giá trị, sức sống của chủ nghĩa Mác thì những người mácxit phải không ngừng bổ sung, phát triển lý luận đó nếu không muốn trở thành lạc hậu so với sự phát triển, biến đổi không ngừng của thực tiễn. Sức sống của chủ nghĩa Mác phải được chứng minh bằng thực tiễn cách mạng, sáng tạo trong nhận thức và cải tạo thế giới đúng quy luật, phải vượt lên chủ nghĩa kinh nghiệm thực dụng, phải khắc phục triệt để bệnh giáo điều, sao chép máy móc hoặc chủ quan duy ý chí, làm cho chủ nghĩa Mác bị sơ cứng, không phát triển, trở nên lạc hậu, ngưng đọng, xa lạ với bản chất của nó. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, thống nhất giữa lý luận với thực tiễn là bản chất, là nguyên tắc tối cao của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng ta cho rằng, “chân lý là cụ thể nên cách mạng phải sáng tạo”. Độc lập sáng tạo trong tiếp thu, vận dụng lý luận, phương pháp Mác - Lênin thì cách mạng sẽ phát triển thuận lợi và thành công, ngược lại giáo điều, máy móc thì cách mạng sẽ thất bại.

- Cho nên, để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thì phải nghiên cứu, nắm vững, làm chủ lý luận tiên phong, chống bệnh chủ quan, máy móc, chống giáo điều, chống hẹp hòi, biệt phái, chống chủ nghĩa kinh nghiệm, đổi mới tư duy lý luận, nắm vững thực chất, tinh thần và phương pháp Mác - Lênin như Hồ Chí Minh nói để độc lập tìm ra những vấn đề của chính mình và giải quyết nó trong thực tiễn bằng quan điểm và giải pháp khoa học.

- Có nắm vững những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin mới có cơ sở khoa học để bảo vệ và phát triển nó, để nhận diện đúng những sự xuyên tạc, những quan điểm sai trái, thù địch từ động cơ, mục đích đến các thủ đoạn tinh vi, thâm độc, cả những thủ thuật tầm thường, lừa bịp, mỵ dân, kích động mà kẻ thù của cách mạng thường tạo dựng, khai thác để hạ thấp chủ nghĩa Mác - Lênin, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh hòng làm lung lay, suy giảm niềm tin của chúng ta đối với ý thức hệ của Đảng ta và của mỗi chúng ta.

- Phải bảo vệ cái đúng, cái chân lý, cái bản chất của chủ nghĩa, học thuyết mà chúng ta tin theo. Phải phê phán, bác bỏ cái sai, cái xấu độc hại mà kẻ thù gieo rắc, tấn công vào niềm tin của chúng ta, lung lạc tư tưởng, làm suy yếu tinh thần và làm lệch lạc phương hướng của cách mạng. Kẻ thù cũng thường nhân danh cái khách quan - khoa học, nhân danh cách mạng và đổi mới để làm lẫn lộn thật - giả, chính - tà, bản chất - hiện tượng, đối lập giả tạo và khiên cưỡng giữa C.Mác -Ph.Ăngghen với V.I.Lênin, đối lập V.I.Lênin với Hồ Chí Minh, kích động chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan, đồng nhất sự sụp đổ mô hình, thể chế lạc hậu đã bị thực tiễn vượt qua ở Liên Xô, Đông Âu với chủ nghĩa xã hội, coi chủ nghĩa Mác - Lênin đã hết vai trò lịch sử và chủ nghĩa xã hội đã cáo chung, tuyên truyền về địa vị và sức mạnh của chủ nghĩa tư bản hiện đại, rằng chỉ có chủ nghĩa tư bản mới là sự lựa chọn đúng và có triển vọng. Chúng bác bỏ vô cớ sự lựa chọn chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí xúc phạm cả đạo đức, lối sống, đời tư của Hồ Chí Minh, gây hoang mang, chia rẽ trong các tầng lớp nhân dân, mưu toan đầu độc tinh thần của lớp trẻ để cuối cùng lật đổ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta, thay đổi chế độ ở Việt Nam. Những sự xuyên tạc, sai trái, thù địch đó trên thực tế đã lừa bịp, lôi kéo được một số người nhẹ dạ, thiếu hiểu biết hoặc có động cơ không trong sáng, hoặc thiếu bản lĩnh mà ngả nghiêng dao động, từ bỏ lý tưởng, niềm tin, trở nên chống đối gây phương hại tới sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

Sinh thời, C.Mác từng làm rõ những “giả tượng” (biểu tượng giả) xuyên tạc, đánh lừa bản chất. V.I.Lênin với thái độ cách mạng và khoa học, kiên quyết bảo vệ chủ nghĩa Mác đã từng vạch rõ, trên thực tế, những kẻ phê phán, phỉ báng và chống đối Mác quyết liệt nhất, lại là những kẻ hiểu biết về Mác tồi nhất.

- Những người cách mạng, Đảng cách mạng trong những thời điểm thử thách, bước ngoặt mà rơi vào tình trạng dao động, mất phương hướng thì sẽ đưa cả sự nghiệp và phong trào tới thất bại, tổn thất khôn lường, coi như một hành vi tự sát.

Điều đó thức tỉnh mọi người rằng, không một kẻ thù nào, thế lực nào có thể phá hoại được sự nghiệp của chúng ta, trừ khi chúng ta tự phá hủy sự nghiệp của chúng ta. Lời cảnh báo đó vẫn không mất đi tính thời sự của nó. Hồ Chí Minh thường gắn liền khoa học với chính trị và đạo đức. Người thường xuyên nhấn mạnh, chủ nghĩa cá nhân là “giặc nội xâm” nguy hiểm nhất, nó phá từ trong phá ra. Xét đến cùng, muốn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, muốn đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch thì phải kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân tinh vi, thâm độc trong mỗi con người, nhất là trong cán bộ, đảng viên, trong đội ngũ những người làm lý luận, làm công tác tư tưởng của Đảng.

- Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cần tập trung nỗ lực, sinh lực của chúng ta vào việc nâng cao nhận thức khoa học và bác bỏ những gì phản khoa học, giả danh khoa học trên các vấn đề cốt yếu sau đây:

·         Một là, luận chứng và khẳng định bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Từ đó bác bỏ luận điệu của kẻ thù rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là lỗi thời, là phá sản, là đã cáo chung cùng với sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh là “bản sao” của chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự lựa chọn con đường của Hồ Chí Minh là sai lầm, là sự nhầm đường của Việt Nam, phải theo một lý luận khác, con đường khác mà thực chất là đưa Việt Nam vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Đây là điều tệ hại, nguy hiểm nhất mà chúng ta phải vạch trần và phê phán, để giữ vững niềm tin vào lý tưởng.

·         Hai là, luận chứng và khẳng định sứ mệnh và trách nhiệm lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với dân tộc và nhân dân chống lại sự xuyên tạc thâm độc của kẻ thù muốn hạ thấp và phủ nhận vai trò của Đảng, tấn công vào địa vị duy nhất cầm quyền của Đảng, coi Đảng là có tham vọng quyền lực, độc đoán, chuyên chế, độc tài, kìm hãm tự do, dân chủ, cản trở phát triển Việt Nam tới văn minh, hiện đại theo trào lưu thế giới tiên tiến mà Mỹ và hệ giá trị Mỹ là tiêu biểu. Đây là sự cố tình xuyên tạc sự thật lịch sử, kích động và mị dân, nhất là tiêm nhiễm nọc độc vào lớp trẻ, trong thanh niên sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ trẻ. Chúng cố tình che giấu sự thật về Đảng lãnh đạo, cầm quyền là chính danh, chính đáng và xứng đáng theo sự ủy thác của dân tộc và nhân dân, là hợp hiến, hợp pháp. Chúng thổi phồng những khuyết điểm, xuyên tạc nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây là mắt xích xung yếu trong nhận thức và hành động của chúng ta hiện nay.

·         Ba là, phải luận chứng khoa học để làm sáng tỏ lý luận chủ nghĩa xã hội Việt Nam, lý luận đổi mới, hội nhập, phát triển, hiện đại hóa Việt Nam trong thế kỷ XXI. Từ đó củng cố niềm tin khoa học trong Đảng, trong dân về tính tất yếu lịch sử, bản chất ưu việt, triển vọng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, chủ động tiến công, bác bỏ mọi âm mưu thâm độc của kẻ thù muốn Đảng ta, nhân dân ta từ bỏ lý tưởng, mục tiêu chủ nghĩa xã hội, đi theo chủ nghĩa tư bản phương Tây theo các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây. Chúng ta cần đặc biệt khai thác giá trị, sức sống, ý nghĩa tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về chủ đề quan trọng này. Các tác phẩm lý luận của Tổng Bí thư gần đây cung cấp cho chúng ta những luận cứ quan trọng đó cần chú trọng nhận thức và truyền bá sâu rộng.

·         Bốn là, vạch trần và bác bỏ những sự ngụy tạo, giả dối mà kẻ thù rêu rao hiện nay, muốn phủ nhận các giá trị văn hóa tinh thần, truyền thống đạo đức, cho rằng, trong thời đại chuyển đổi số, Cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ, thông tin là tất cả, tối ưu, không cần hệ tư tưởng, giải thể ý thức hệ để hòa nhập, hội nhập, không có rào cản. Đây lại là một thủ đoạn thâm độc khác và vô cùng nguy hiểm, rất dễ thâm nhập vào lớp trẻ và trong nhiều giai tầng xã hội. Đề cao lợi ích vật chất, tuyên truyền lối sống hưởng thụ, khuynh hướng kỹ trị, cuối cùng vẫn là phủ nhận chủ nghĩa xã hội. Phải khẳng định các giá trị tinh thần, phải coi trọng đạo đức và văn hóa, phải giữ vững niềm tin để xã hội, con người không chệch hướng, ngăn chặn sự phát triển xấu, hoang dã, bản năng, phản phát triển.

·         Năm là, vạch trần thủ đoạn ly gián giữa Đảng với nhân dân và Quân đội, sự xuyên tạc tình hình phát triển của xã hội trong bối cảnh đại dịch Covid-19 vừa qua. Chính là chủ nghĩa yêu nước, truyền thống nhân nghĩa của dân tộc ta, phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam đã là sức mạnh và động lực giúp cho Việt Nam vượt qua thảm họa, tất cả vì cuộc sống hạnh phúc của nhân dân, tạo nên sức sống, đà tăng trưởng khởi sắc của Việt Nam. Đó là năm vấn đề cốt yếu phải quan tâm để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.

V3.

 

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi công dân Việt Nam

 


Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề nguyên tắc, là một trong những quan điểm cơ bản, trọng yếu, xuyên suốt và bao trùm trong hệ thống quan điểm lý luận của Đảng, liên quan trực tiếp đến hệ tư tưởng của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta. Vai trò, tầm quan trọng của tư tưởng, lý luận đã được Hồ Chí Minh và Đảng ta khẳng định từ đầu trong tiến trình lịch sử của cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Ngay từ khi Đảng còn chưa ra đời, năm 1927, trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc đã nhấn mạnh, “phải giữ chủ nghĩa cho vững”, “Đảng phải có chủ nghĩa làm cốt” và chủ nghĩa chân chính, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa Mác - Lênin”. Không giữ vững chủ nghĩa thì không thể có phương hướng chính trị đúng, không thể vạch rõ đường lối và phương pháp cách mạng, chiến lược và sách lược cách mạng để tập hợp lực lượng, gây dựng phong trào, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và quần chúng trong đấu tranh thực hiện lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản ở nước ta. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề hệ trọng đầu tiên để giữ vững bản chất của một Đảng cách mạng chân chính, liên quan trực tiếp, quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.

Cách đây hơn 35 năm, khi khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới tại Đại hội VI (1986), Đảng ta đã xác định: Đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là đổi mới có nguyên tắc, là kiên định con đường đã lựa chọn - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đảng ta nêu rõ, nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam hành động của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Phải ra sức bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh kiên quyết, phản bác sự xuyên tạc, truyền bá các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực chống đối và phản động ở trong và ngoài nước nhằm phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân ta. Phải kiên trì lý tưởng và mục tiêu, kiên định con đường đã lựa chọn, giữ vững vai trò lãnh đạo và địa vị cầm quyền của Đảng Cộng sản, bất luận trong hoàn cảnh và tình huống nào.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là hai mặt không tách rời của cùng một vấn đề mục tiêu: giữ vững niềm tin khoa học, tiếp tục đổi mới sáng tạo, bảo vệ Đảng, chế độ và nhân dân, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì Độc lập - Tự do - Hạnh phúc của nhân dân. Muốn thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc, cường thịnh, trường tồn thì phải ra sức tăng cường tiềm lực tư tưởng, trí tuệ của Đảng, sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng và trong dân, nêu cao quyết tâm, tín tâm và đồng tâm từ trong Đảng đến ngoài xã hội, “cách mạng phải có sức mạnh tự bảo vệ” (V.I.Lênin), “cách mạng lấy sức mạnh từ trong nhân dân” (Hồ Chí Minh). Bảo vệ được nền tảng tư tưởng của Đảng thì tự nó đã có đủ sức mạnh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch để giữ vững niềm tin, củng cố đức tin, thúc đẩy hành động sáng tạo vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đấu tranh có hiệu quả để vạch trần và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là thái độ và hành động tích cực, chủ động để khẳng định giá trị, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thiết thực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Theo phương châm của Hồ Chí Minh, xây đi liền với chống. Tác phẩm lý luận quan trọng của Bác vào lúc cuối đời “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” có ý nghĩa sâu xa là vì vậy. Muốn bảo vệ thì phải trung thành, muốn trung thành thì phải vận dụng đúng và phát triển sáng tạo học thuyết, chủ nghĩa mà chúng ta theo đuổi. Cuộc đấu tranh trong lĩnh vực tư tưởng đòi hỏi Đảng, mọi cán bộ đảng viên, chiến sĩ và nhân dân không chỉ nâng cao nhận thức khoa học, trau dồi lập trường quan điểm chính trị và bản lĩnh chính trị vững vàng “không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động” như Đảng ta đã nhấn mạnh mà còn rất cần đến phẩm chất đạo đức trong sáng của mỗi người.

Từ nhận thức phải dẫn đến hành động, từ giác ngộ lý luận phải dẫn đến thực hành lý luận, lý luận gắn liền với thực tiễn. Cùng với sức mạnh của khoa học, chính kết quả của hành động cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, biến khát vọng thành hiện thực, làm cho nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, một nước phát triển, có thu nhập cao vào giữa thế kỷ này, làm cho Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, cả nước đồng lòng, nhân dân tin tưởng, gắn bó mật thiết với Đảng, với chế độ và Quân đội ta “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” như Bác Hồ chỉ dẫn… thì đó là sức mạnh tổng hợp để mọi quan điểm sai trái, thù địch không còn có thể nhiễm độc trong đời sống tinh thần của con người và xã hội. Cho nên, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Sự nghiệp của Đảng, của dân càng thu được những thành tựu to lớn, chính trị - xã hội ổn định, kinh tế phồn vinh, nhân dân hạnh phúc, uy tín quốc tế của Việt Nam được nâng cao thì đó sẽ là minh chứng thực tiễn có sức thuyết phục lớn nhất, bền vững nhất về bản chất khoa học - cách mạng - nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

          V3.

Mọi công dân đều bình đẳng về chính trị, bình đẳng trong các lĩnh vực.

 


Thành tựu lớn nhất trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước đến nay là: Tất cả mọi công dân không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, giới đều bình đẳng về chính trị, bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống và bình đẳng trước pháp luật. Đại đoàn kết toàn dân tộc ngừng được củng cố, tang cường. các dân tộc tôn trọng, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng phát triển, cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Đồng bào các dân tộc thiểu số được hưởng các quyền bình đẳng với dân tộc Kinh, tham kiến về chính trị ngày càng tăng. Trong những năm qua, số lượng đại biểu là người dân tộc thiểu số trong các khoá quốc hội luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với người dân tộc thiểu số của cả nước (Quốc hội khóa XIV, có 86 đại biểu là người dân tộc thiểu số, chiếm 17,4% đại biểu quốc hội cả nước. Quốc hội khóa XV có 89 đại biểu là người dân tộc thiểu số, chiếm 17,83% đại biểu quốc hội cả nước; đại biểu hội đồng nhân dân các cấp các khóa gần đây, người dân tộc thiểu số chiếm 18 đến 20% đại biểu hội đồng nhân dân cả nước trong khi dân tộc thiểu số chỉ chiếm 14,7% dân số cả nước. Nhiều người dân tộc thiểu số đã và đang giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan lãnh đạo, các cơ quan quyền lực của đất nước, như: Tổng bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, ban bí thư, ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng, Bí thư, Chủ tịch tỉnh, ...

Bảo vệ chủ quyền biển đảo: Trách nhiệm không của riêng ai!

 


Từ lâu Biển Đông đã gắn bó với đất nước Việt Nam như một hữu thể không tách rời. Cuộc sống của bao thế hệ người dân Việt gắn liền với biển, gắn liền với những con thuyền lênh đênh sóng nước đề từ đó đánh dấu chủ quyền thiêng liêng của mình lên những “bãi cát vàng” lịch sử. 1.Hàng nghìn năm con cháu đất Việt luôn gắn bó với Biển Đông Chủ quyền ấy đã được lịch sử chứng minh với những luận cứ không thể chối cãi qua nhiều chứng cứ xác thật. 3 Đất nước Việt Nam với hình chữ S, có bờ biển dài khoảng 3.260km từ Bắc xuống Nam và vùng biển rộng hơn 1 triệu km2 với hơn 4.000 hòn đảo lớn nhỏ và 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong 63 tỉnh, thành phố của Việt Nam có 28 tỉnh, thành phố giáp biển. Từ xa xưa, biển đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Các hải đảo và quần đảo cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời của dân tộc ta. Hàng nghìn những bằng chứng lịch sử đã cho thấy nhà nước Việt Nam là nhà nước đầu tiên trong lịch sử, ít nhất là từ thế kỷ XVII, đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền của mình đối với quần dảo Hoàng Sa và Trường Sa khi chúng còn là vùng đất vô chủ. Việc khẳng định và thực thi chủ quyền này là thực sự, rõ ràng, liên tục, hòa bình và phù hợp với các qui định quốc tế. Có thể thấy, trong lịch sử thời Tây Sơn, sách Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông ghi rõ: “Thời gian từ năm 1771 đến 1801, Nhà Tây Sơn luôn tiếp tục việc gìn giữ chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Việc thực thi chủ quyền của Việt Nam dưới thời kỳ Pháp làm đại diện diễn ra liên tục và thực sự. Người Pháp đã thay Việt Nam xây dựng nhiều công trình ghi dấu ấn chủ quyền, như: bia chủ quyền, trạm khí tượng, hải đăng và tiếp tục bảo vệ, quản lý, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những tư liệu quý báu của nhà bác học Lê Quý Đôn ghi chép trong Phủ biên tạp lục là những cứ liệu lịch sử đáng tin cậy với những trích dẫn văn bản mang tính pháp lý còn lưu lại của Nhà nước phong kiến thời bấy giờ về Hoàng Sa, Trường Sa là của người Việt, có ý nghĩa về mặt lịch sử, ngoại giao và chủ quyền về biển đảo rất rõ nét. Dù đứng trước sự đe dọa xâm lấn, vẫn kiên định lập trường Thời gian gần đây, Trung Quốc nhiều lần có hành động xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Điển hình như: Ngày 1/5/2014 Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào khu vực biển Đông gần quần đảo Hoàng Sa dẫn tới việc Việt Nam phải đưa ra tuyên bố phản đối, tàu thuyền của hai quốc gia đã có một số va chạm; Trong năm 2015 Trung Quốc tăng cường các hoạt động quân sự như huấn luyện, tuần tiễu trinh sát, diễn tập trên biển nhằm phô trương lực lượng, răn đe uy hiếp các nước có tranh chấp biển đảo với Trung Quốc; Đầu tháng 1/2016, Trung Quốc đưa máy bay ra các đảo nhân tạo mà không hề thông báo cho Cơ quan quản lý bay khu vực FIR-Hồ Chí Minh, vi phạm nghiêm trọng quy định về an toàn bay của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (ICAO), đe dọa an ninh và an toàn hàng không trong khu vực… Trước bối cảnh đó, Việt Nam đã có những phản ứng mạnh mẽ theo đường ngoại giao, cùng tiếng nói rất đúng, kịp thời, cần thiết, không né tránh một số vấn đề mà trước đây thường cho là nhạy cảm của các nhà khoa học, sử học, luật sư và báo chí trong nước 4 đã nâng cao nhận thức, khơi dậy lòng yêu nước của nhân dân; đồng thời, qua đó các cơ quan báo chí, thông tấn lớn trên thế giới đưa tin nhiều về vấn đề này khiến dư luận quốc tế hiểu hơn về cơ sở pháp lý, lịch sử, lập trường của Việt Nam trong giải quyết tranh chấp trên Biển Đông. Điều đáng mừng là, qua thông tin rộng rãi trên báo chí Việt Nam và nước ngoài, nhiều chính khách, học giả trên thế giới, dư luận quốc tế đã lên tiếng đồng thuận, ủng hộ lập trường chính nghĩa, lẽ phải của Việt Nam. Đáng chú ý,ngày 13/07/2016, Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tổ chức Lễ phát động Cuộc thi viết “Thanh niên, sinh viên Việt Nam ở nước ngoài với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Đồng thời, tăng cường giáo dục truyền thống cách mạng, lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc đối với thanh niên, sinh viên Việt Nam ở nước ngoài. Bên cạnh đó, Việt Nam đã kiên trì giải quyết tranh chấp biển, đảo bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Là thành viên của Hiến chương Liên hợp quốc,của UNCLOS cũng như Tuyên bố của các bên về cách ứng xử ở Biển Đông (DOC),Việt Nam luôn tuân thủ các qui định của luật pháp quốc tế, kiên trì con đường giải quyết các vấn đề phát sinh bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau; trong đó, biện pháp chủ yếu là thông qua đàm phán, thương lượng, nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan, vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, vì hòa bình, ổn định ở khu vực và quốc tế. Theo tinh thần đó, những vấn đề còn đang bất đồng, tranh chấp song phương thì giải quyết theo hướng song phương; còn những vấn đề tranh chấp liên quan đến nhiều bên thì giải quyết đa phương và phải hết sức công khai, minh bạch giữa các nước liên quan. Có thể thấy, ngay cả trong những thời gian căng thẳng nhất về tranh chấp tại Biển Đông, thì không chỉ những chiến sĩ, bộ đội, hải quân, cảnh sát biển ngày đêm làm nhiệm vụ, mà ngay cả những ngư dân cũng như người dân cả nước đã luôn hướng về Biển Đông như một phần máu thịt của chính mình.

V3.

Việt Nam rất trú trọng thực hiện chính sách dân tộc

 


Chính sách dân tộc là những quyết sách tác động trực tiếp đến các dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc để phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa- xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo quốc phòng, an ninh ở vùng dân tộc thiểu số nhằm nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, hướng tới mục tiêu bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các vùng, các dân tộc ở Việt Nam. Hệ thống chính sách dân tộc của chúng ta, thời gan qua được xây dựng mang tính toàn diện, đồng bộ, kịp thời, liên kết, minh bạch, bảo đảm tính công bằng, hiệu quả. Riêng từ năm 2010 đến nay, Chính phủ đã xây dựng ban hành 118 văn bản chính sách; 54 đề án chính sách dân tộc trực tiếp hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong đó có các nhóm chính sách về giảm nghèo bền vững; giáo dục, đào tạo; y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân; bồi dưỡng đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số, miền núi và nhóm chính sách, cơ chế đặc thù về truyền thông và tuyên truyền vận động, phổ biến giáo dục pháp luật.v.v. Đặc biệt tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV đã thông qua nghị quyết số 88/2019/QH14, ngày 18-11-2019 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế- xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021- 2030. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, ngày 14-10-2021, Thủ tương Chính phủ đã ký quyết định số 1719/QĐ-TTg và phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế- xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021- 2030. Điều đó thể hiện sự nhất quán, quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với đồng bào dân tộc thiểu số, không có phân biệt đối xử như các thế lực thù địch đã xuyên tạc.

 

 

Bảo vệ chủ quyền biển đảo trong tình hình mới.

 


Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Biển không chỉ chứa đựng tiềm năng kinh tế to lớn, cửa ngõ mở rộng quan hệ giao thương với quốc tế mà còn đóng vai trò quan trọng bảo đảm an ninh, quốc phòng đồng thời là địa bàn chiến lược trọng yếu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc không chỉ thể hiện tư duy của Đảng ta trong các nghị quyết đại hội mà còn trở thành một trong những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài đối với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”. Khẳng định của Người không chỉ thôi thúc cả dân tộc quyết tâm đánh bại đế quốc và tay sai, giải phóng dân tộc mà còn đặt trách nhiệm cho các thế hệ người Việt Nam phải biết chăm lo phát huy lợi thế và bảo vệ vững chắc vùng trời, biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Vì vậy, trong suốt tiến trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung, lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay nói riêng, Đảng ta luôn quan tâm đến việc phát huy lợi thế của đất nước về biển, kết hợp với phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam, coi đó là một trong những động lực cơ bản cho sự phát triển bền vững của đất nước. Đảng ta xác định “Trong khi không một phút lơi lỏng nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta và nhân dân ta phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội”2 . Đại hội lần thứ VII của Đảng còn chỉ rõ: Từng bước khai thác toàn diện các tiềm năng to lớn của kinh tế biển, phát triển kinh tế ở hải đảo, làm chủ lãnh hải và thềm lục địa, thực hiện chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế. Đến Đại hội lần thứ VIII của Đảng tiếp tục xác định: “Vùng biển và ven biển là địa bàn chiến lược về kinh tế và an ninh, quốc phòng, có nhiều lợi thế phát triển và là cửa mở lớn của cả nước để đẩy mạnh giao lưu quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài. Khai thác tối đa tiềm năng và các lợi thế của vùng biển, ven biển, kết hợp với an ninh, quốc phòng, tạo thế và lực để phát triển mạnh kinh tế - xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc”3 . Hiện nay mật độ dân cư trên biển, đảo và quần đảo thấp, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội các vùng ven biển, trên biển và trên các đảo còn chưa hoàn thiện; khả năng bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia còn nhiều hạn chế... Do đó, cần phải đầu tư một cách thích đáng về mọi mặt, bảo đảm cho phát triển kinh tế và tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển; kết hợp chặt chẽ các yếu tố: Kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự, tạo sự liên kết giữa biển, đảo và bờ nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Vì vậy, Đại hội IX của Đảng chủ trương: “Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo, phát huy thế mạnh đặc thù của hơn 1 triệu kilômét vuông thềm lục địa. Tăng cường điều tra cơ bản làm cơ sở cho các quy hoạch, kế hoạch phát 2 triển kinh tế biển. Xây dựng căn cứ hậu cần ở một số đảo để tiến ra biển khơi. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh trên biển”.

V3.

Mỗi quân nhân tích cực thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước

 


Đất nước ta đang đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dan ta đang đạt được những thành tựu quan trọng. Vị thế của Việt Nam đang vững bước trên trường đài thế giới. Với bản chất hiếu chiến và tính cố hữu xâm lược của kẻ thù, chủ nghĩa Đế quốc và các thế lực thù địch sẽ không bao giờ từ bỏ sự chống phá điên cuồng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị, mà cao hơn cả là muốn xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Vì vậy Đảng, Nhà nước, Hệ thống chính trị, mỗi người dân Việt Nam, hơn bao giờ hết cần nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của công cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ thành quả mà cha ông ta đã đạt được, với tinh thần đó, bản thân tôi thực hiện tốt một số  yêu cầu, biện pháp sau:

          Trước hết, là người quân nhân trong quân đội phải có bản lĩnh trị vững vàng, luôn kiên định với mọi khó khăn, tác động, giữ vững lập trường tư tưởng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng

          Thứ hai, nhận thức sâu sắc về chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, nhất là những quan điểm, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng, Nhà nước ta; trên cơ sở đó tích cực tuyên truyền, giáo dục, động viên đồng bào, đồng bào dân tộc thiểu số nhận thức sâu sắc về quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dan tộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số; nhận thức sâu sắc về bản chất, âm mưu, thủ đoạn và các hoạt động lợi dụng dân tộc của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta; trên cơ sở đó đồng bào tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch chống phá Đảng, chống phá chế độ

Ba là, Tích cực học tập, nghiên cứu, không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt, nhất là quan điểm mác xít; tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để có trình độ năng lực, bản lĩnh, phong cách tác phong người quân nhân cách mạng, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; tích cực tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Quân đội, đơn vị xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo,. tổ chức thực hiện công tác dân tộc đạt hiệu quả, đồng thời đấu tranh chống địch lợi dụng về dân tộc có hiệu quả

Bốn là, Nhận diện và đánh giá chính xác, kịp thời mọi âm mưu, thủ đoạn của địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền chống phá cách mạng nước ta. Trên cương vị công tác tích cực viết bài, comen đăng trên các báo, tạp chí, trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần xây dựng đơn vị, cơ quan, vững mạnh toàn diện.

 

 

BÀI THƠ ĐỘC ĐÁO VỀ ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

 BÀI THƠ ĐỘC ĐÁO VỀ ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP 

ĐẠI  trí, đại nhân, thật vẹn đầy

TƯỚNG  tài kiệt xuất hiếm xưa nay

VÕ  công hiển hách lừng vang dội

NGUYÊN  là nhà giáo đất rồng bay

GIÁP  cốt dường như từ thiên tạo

NGƯỜI  như đại thụ vút trời mây

ANH  minh trung nghĩa lòng bác ái

CẢ  nước ghi ân đức cao dày

CỦA  báu địa linh - Phong Nha động

QUÂN  tướng tình thâm: Sáng danh thầy

ĐỘI  ngũ kiên cường theo chân Bác

TA  về mừng thọ thỏa lòng thay!

Sưu tầm.#Trường Tồn

SỨ SỞ “NHÂN QUYỀN”

 


Tyre Nichols bị 5 cảnh sát Mỹ đánh chết, sự việc xảy ra tại quận Shelby, bang Tennessee - Mỹ. Có thể nói, câu chuyện về nhân quyền ở đây và tại đây. Tại sao lại là người da màu mà không phải da trắng (không phân biệt nhưng hoài nghi). Chỉ đơn giản đặt một câu hỏi đó thôi. Trong đại dịch Covid-19 vừa qua cũng thế, những người da màu đặc biệt là “màu vàng” của Châu Á bị những người Mỹ tấn công vì học cho rằng người da màu là nguyên nhân của bệnh tật.


Giờ thì sao, một việc công khai, ngang nhiên như thế. Những “chuyên za nhân quyền” đâu, hãy vào cuộc đi nào. Thay vì những hành vi chống phá xấu xa đất nước mình bằng những luận điệu vô căn cứ thì đây, những vụ việc gây phẫn nộ cộng đồng quốc tế xảy ra ngay trong lòng nước Mẽo – Thiên đường của những “anh chị nhân quyền trú ngụ” hãy giải thích giúp cộng đồng xem nào. 


Nếu như văn hóa tôn trọng nhân quyền thì chắc không có chuyện công khai và ngang nhiên như vậy. Ít nhất đứng trước những giây phút mong manh, quằn quại của con người, người ta đã không thờ ơ như vậy cho dù tức đến mức nào và cỡ nào đi nữa.

<Trạng Tí>#ST. Trường Tồn 

Quan điểm, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển.

 


Việt Nam là một quốc gia thống nhất đa dân tộc, đa tín ngưỡng tôn giáo, trên nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong tất cả các văn kiện Đại hội Đảng, nhất là thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn xác định: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển”[1]. Đảng ta xác định không có dân tộc nào là dân tộc bản địa; 54 dân tộc chỉ có dân tộc Kinh là dân tộc đa số, 53 dân tộc còn lại là dân tộc thiểu số. Quan điểm về sự bình đẳng giữa các dân tộc còn được thể hiện nhất quán trong Hiến pháp của nhà nước ta. Điều 5, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 khẳng định rõ:.1. “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. 2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. 4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.

Nhằm làm cơ sở cho thực hiện tốt chính sách dân tộc, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, (khóa IX) đã ban hành nghị quyết riêng (Nghị quyết số 24 ngày 12-3-2003 về công tác dân tộc. Cùng với đó Quốc Hội đã ban hành các luật khung và luật chuyên ngành nhằm góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền cũng như chính sách hỗ trợ phát triển cho đồng bào dân tộc thiểu số.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H.2021, tr170

Việt Nam thực hiện tốt chính sách tín ngưỡng, tôn giáo

 


Trên cơ sở đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi mới thành lập đã xác định đường lối tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương giáo để giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trong cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, chính sách “Tín ngưỡng, tự do, lương giáo đoàn kết” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Đế quốc Mỹ, đường lối đại đoàn kết toàn dân, tự do tín ngưỡng đã động viên hàng chục vạn tín đồ các tôn giáo tham gia cuộc đấu tranh giành và bảo vệ đất nước, đã có hàng vạn bộ đội thanh niên xung phong; hàng ngàn liệt sỹ, thương binh, hàng trăm bà mẹ Việt Nam anh hùng là tín đồ các tôn giáo. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh, Đảng ta đã quan tâm đến công tác tôn giáo. Năm 1990 Bộ Chính trị khóa VI đã ra nghị quyết 24 về công tác tôn giáo. Các Đại hội Đảng VII, VIII tiếp tục khẳng định quan điểm đó. Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành chỉ thị 37 - CT/TW về “Công tác tôn giáo trong tình hình mới”. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng tiếp tục thực hiện quan điểm đó bằng Nghị quyết trung ương 7, khóa IX, với 5 quan điểm cơ bản. Từ quan điểm của Đảng, Nhà nước đã thể chế hóa bằng pháp luật đối với các hoạt động tôn giáo. Hướng dẫn giúp đỡ các tôn giáo xây dựng đường hướng hành đạo tiến bộ, gắn bó với dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, sống “tốt đời, đẹp đạo”. Điều đó, được ghi nhận trong hiến pháp đầu tiên năm 1946. Trong Điều 10 quy định “Công dân Việt Nam có quyền…tự do tín ngưỡng”; Hiến pháp năm 1959, Điều 26 quy định “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Hiến pháp 1980, Điều 68 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Hiến pháp năm 1992, Điều 70 “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật…không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo năm 2004, Điều 1 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Công dân có tín ngưỡng tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau”; hiến pháp năm 2013, xác định “tôn giáo là quyền con người”

Việt Nam thực hiện tốt quyền con người

 


Với chế độ chính trị ưu việt như vậy, hơn 35 đổi mới Việt Nam đã đạt được nhiều thành tưu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật: Kinh tế năng động, tăng trưởng khá cao (khoảng 6%/năm). Chính trị xã hội ổn định, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Các lĩnh vực an sinh xã hội, y tế giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường, phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam, v.v. có nhiều chuyển biến tích cực, có mặt khá nổi bật (Xin đơn cử một số thành tựu vì con người ở Việt nam như sau: Trên lĩnh vực kinh tế: Với nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, người dân được công hữu về tư liệu sản xuất, được khỏa sức phát triển kinh tế nhiều thành phần. Kinh tế tư nhân phát triển, chiếm 40% thành phần kinh tế, đóng góp 60% DGP cả nước. Trên lĩnh vực chính trị: Đất nước độc lập, hòa bình, con người được tự do, trật tự an ninh, an toàn xã hội tốt. Đất nước không có khủng bố, biểu tình, xung đột dân tộc, sắc tộc. (người nước ngoài, nhất là các nguyên thủ quốc gia đến Việt nam có thể đi bộ ở công viên, đường phố mà không sợ mất an toàn). Trên lĩnh vực xã hội: Với quan điểm: “Không có ai bị bỏ lại phía sau; sức khỏe, tính mạng, niềm hạnh phúc của con người là trước hết, trên hết”, nên phát triển kinh tế luôn gắn với xã hội và là phát triển bền vững. Thời gian qua chỉ số phát triển con người ở Việt Nam ngày càng cao (tuổi thọ trung bình người dân: 73,6 tuổi (năm 2019); trình độ dân trí ngày càng cao (tốp 40 hàng đầu thế giới về giáo dục- đào tạo); DGP 3500 USD/ người/năm (trước năm 1980 có 180USD/người/năm). Bình đẳng giới luôn được trú trọng (đứng tốp 16 thế giới). Hôn nhân lành mạnh, cơ bản 1 vợ, 1 chồng, xây dựng gia đình “no ấm”, “tiến bộ”, “hạnh phú”, “văn minh”. Các dân tộc: Dân tộc kinh- dân tộc đa số, 53 dân tộc- dân tộc thiểu số bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển. Tôn giáo, tín ngưỡng được tự do (Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016: Tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của mọi người). Thực hiện tốt giảm nghèo. Hiện nay tỷ lệ nghèo đa chiều còn dưới 3%. Bảo hiểm y tế được trú trọng: Bảo đảm khám, chữa bệnh, dịch vụ y tế cho 100% đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, người có công với cách mạng, người yếu thế. Bảo hiểm xã hội được trú trọng, nhất là những người neo đơn, không nơi lương tựa. Người dân ngày càng được tiếp cận chất lượng các dịch vụ: điện, đường, trường, trạm, khu vui chơi, nước sạch, thực phẩm an toàn. Nhà ở xã hội (người có thu nhập thấp) được trú trọng, phấn đấu đến năm 2030 về cơ bản giải quyết xong nhà ở xã hội. Chống dịch luôn được trú trọng (Với đại dịch Covid-19: Chống dịch như chống giặc, đã kịp thời khống chế, cơ bản kiểm soát, ngăn chặn được sự lây lan của đại dịch Covid-19 trong cộng đồng- là điểm sang của thế giới trong chống dịch Covid-19). Thực hiện tốt chính sách người có công với cách mạng: 100% các bà mẹ Việt Nam anh hung được các tập thể, cá nhân phụng dưỡng; 90 % người có công với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của người dân nơi cư trú; 98,5% xã , phường làm tốt công tác thương binh liệt sỹ. Trên lĩnh vực văn hóa: xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội. Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh: người dân được cống hiến trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, được bảo vệ tính mạng, tài sản theo hiến pháp, pháp luật.

Việt Nam có nền dân chủ ưu việt

 


Từ thể chế và thiết chế chính trị trên, nên ở Việt Nam có chế độ chính trị rất tốt đẹp, với một nền dân chủ ưu việt: mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”[1], với mục tiêu cách mạng là vì sự nghiệp giải phóng con người, tất cả vì con người. “Lấy con người là trung tâm và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển kinh tế. Phát huy giá trị văn hóa con người Việt Nam và sức mạnh toàn dân tộc, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển và sức mạnh của nhân dân”[2]



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H.2021.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập II, Nxb CTQGST, H.2021.

 

 

Kỉ niệm 50 năm ngày kí kết Hiệp định Pari

 Kỉ niệm 50 năm ngày kí kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh ở Việt nam xin đăng bài thơ VIỆT NAM MÁU VÀ HOA của Tố Hữu viết ngày 28/1/1973.( xin thứ lỗi nếu có những câu từ chưa chính xác, bởi bài thơ này tôi học từ năm lớp 10- 1974)


Khao khát trăm năm mãi đợi chờ

Hôm nay vui đến ngỡ trong mơ

Một trời êm ả xanh không tưởng

Mặt đất bình yên giấc trẻ thơ


Đây cuộc hồi sinh buổi hóa thân

Mùa Đông thế kỉ chuyển sang Xuân

Ôi Việt nam từ trong biển máu

Người vươn lên như một thiên thần


Thế này chăng thuở xưa hoang dã

Chàng Sơn Tinh thắng giặc Thủy Tinh

Càng dâng nước, càng cao ngọn núi

Chân Trường sơn đạp sóng Thái bình


Chúng muốn đốt ta thành tro bụi

Ta hóa vàng nhân phẩm lương tâm

Chúng muốn ta bán mình ô nhục

Ta làm sen thơm ngát giữa đầm


Ta sẵn sàng xé trái tim ta

Cho Tổ quốc và cho tất cả

Lá cờ này là máu là da

Của ta của con người vô giá


Trắng khăn tang em chẳng khóc đâu

Hỡi em gái mất cha mất mẹ

Nước mắt rơi làm nhòa mặt quân thù

Em phải bắn trúng đầu giặc Mỹ


Tình thương lớn mạnh hơn lửa thép

Trận địa đây xây giữa lòng người

Dẫu mưa nắng trái đất tròn vẫn đẹp

Đời yêu ta ta phải thắng cho đời


Cút sạch đi bầy sói hôi tanh

Đã đến buổi cuối cùng phán quyết

Trả về ta đất rộng trời xanh

Cho bay những hố bom làm huyệt


Lịch sử muốn bay cúi đầu tội lỗi

Dưới gươm thiêng hùng khí thủ đô

Cả bốn biển hoan hô Hà nội

Pháo đài bay rụng đỏ mặt hồ


Ngọc Hà em lộng lẫy hoa tươi

Xin thơm ngát miền Nam miền Bắc

Chắc Bác Hồ vui xin kính dâng Người

Và tặng cả anh em cùng ta đánh giặc


Không nỗi đau nào của riêng ai

Của chung nhân loại chiến công này

Việt nam ơi máu và hoa ấy

Sẽ đủ mai sau thắm những ngày


Chưa dễ lành đâu những vết thương

Nửa mình còn nhức nhối hỡi quê hương

Song mùa vui đã mang xuân tới

Đã tắt hôm nay lửa chiến trường


Rừng núi đã xanh màu giải phóng

Hãy trào lên ơi sóng Cửu long

Quét phăng những rác bùn ứ đọng

Những thép gai ngăn mặt cắt lòng


Ta lại về ta những đứa con

Máu hòa trong máu đỏ như son

Sài gòn ơi Huế ơi xin đợi

Tái hợp huy hoàng cả nước non


       TỐ HỮU - 28/01/1973

LUẬN CỨ PHÊ PHÁN “Ở VIỆT NAM TÔN GIÁO BỊ NGĂN CẤM, KHÔNG ĐƯỢC HOẠT ĐỘNG TỰ DO” (!)

 


Thời gian gần đây, các thế lực thù địch thường tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng là: “Ở Việt Nam các tôn giáo bị ngăn cấm, không được hoạt động tự do”(!). Đây là luận điệu hoàn toàn bịa đặt, vu khống, đi ngược lại truyền thống đạo lý dân tộc và bản chất chế độ ta; hoàn toàn bịa đặt sai sự thật những quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo.

Như chúng ta đã biết tôn giáo là những vấn đề phức tạp có liên quan chặt chẽ với nhau không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Lịch sử thế giới cho thấy, khi nào vấn đề tôn giáo đ­­ược giải quyết thành công thì xã hội mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến xung đột, làm mất ổn định xã hội. Đảng, Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm thực hiện tốt công tác tôn giáo, tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong những năm vừa qua.

           Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, ra đời và phát triển từ hàng ngàn năm nay. Quá trình tồn tại và phát triển của tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán của nhiều dân tộc, quốc gia. Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Với vị trí nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa, các tôn giáo trên thế giới. Về mặt dân cư, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc. Mỗi dân tộc đều lưu giữ các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo riêng của mình. Người Việt có các hình thức dân gian như thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ những người có công với cộng đồng, dân tộc, thờ thần, thờ thánh, nhất là tục thờ Mẫu của cư dân nông nghiệp lúa nước. Đồng bào các dân tộc thiểu số với hình thức tín ngưỡng nguyên thủy (còn gọi là tín ngưỡng sơ khai) như Tô tem giáo, Bái vật giáo, Sa man giáo. Ở Việt Nam có những tôn giáo có nguồn gốc từ phương Đông như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo; có tôn giáo có nguồn gốc từ phương Tây như Thiên chúa giáo, Tin Lành; có tôn giáo sinh ra tại Việt Nam như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo; có tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghị và tổ chức giáo hội), có những hình thức tôn giáo sơ khai. Có tôn giáo đã phát triển và hoạt động ổn định; có tôn giáo chưa ổn định, đang trong quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phù hợp. Ước tính đến nay ở Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Tín ngưỡng ở Việt Nam rất đa dạng, bao gồm: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; tín ngưỡng thờ Thành hoàng; tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc; tín ngưỡng thờ Mẫu. Về tôn giáo, ở Việt Nam hiện nay có 43 tổ chức, hệ phái tôn giáo thuộc 16 tôn giáo, với trên 24 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số cả nước; hiện có 6 tôn giáo lớn, trong đó có 2 tôn giáo nội sinh là Phật giáo Hoà hảo và Đạo Cao đài. Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo nói trên, người ta thường ví Việt Nam như bảo tàng tôn giáo của thế giới. Về khía cạnh văn hóa, sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng tôn giáo đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú và đặc sắc. Tuy nhiên đó là những khó khăn đặt ra trong việc thực hiện chủ trương, chính sách đối với tôn giáo nói chung và đối với từng tôn giáo cụ thể.

Ở Việt Nam, không có chiến tranh tôn giáo, chỉ có các lực lượng chính trị lợi dụng vấn đề tôn giáo để hòng chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam, nhưng chúng đều thất bại. Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có tính dung hợp, đan xen, hòa đồng, dễ chấp nhận sự hiện diện của các vị thần, thánh của các tôn giáo khác. Những người theo tôn giáo khác nhau không xa lánh người mình thờ phụng; có thể sống chung trong một làng, một dòng họ, thậm chí một gia đình.

Đa số tín đồ các tôn giáo là người lao động, trong đó chủ yếu là nông dân. Từ lối sống mang đậm nét tiểu nông, nên nhiều tín đồ tôn giáo ở Việt Nam tuy khá sùng đạo nhưng lại không hiểu rõ giáo lý, thậm chí ra nhập đạo chỉ do sự lan truyền tâm lý, do sự lôi kéo. Đối với bộ phận khá lớn cư dân Việt nam, tôn giáo thuần tuý là lĩnh vực tình cảm, tâm lý, nó như cái gì bình thường tự nhiên, đây cũng là một nguyên nhân khiến người Việt Nam có thái độ dung hoà, cởi mở khi tiếp nhận các tôn giáo. Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam có nhu cầu cao trong sinh hoạt tôn giáo, nhất là những sinh hoạt tôn giáo mang tính chất lễ hội. Một bộ phận tín đồ của một số tôn giáo vẫn còn mê tín dị đoan, thậm trí cuồng tín dễ bị các phần từ thù địch lôi kéo.

VĂN HÓA TRONG XÃ HỘI VĂN MINH

 

Văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc di.ệ.t vo.ng. Đó là chân lý với mọi quốc gia, dân tộc. Đứngtrước sứ mệnh đó và những đổi thay như vũ bão thời gian qua với cả mặt tích cực và tiêu cực thì đây đang là bài toán không dễ gì có lời giải. Những ngày qua, Bảo tàng Văn học việt nam đã đầu tư, sáng tạo và cho ra đời tour du lịch văn học với chủ đề “Chữ Tâm, chữ Tài”. Tour du lịch văn học “chữ Tâm, chữ Tài” mang đến cho du khách những cảm nhận về sự đặc sắc của văn học Việt Nam qua các thời kỳ, bằng cách tiếp cận mới lạ, hấp dẫn.


Trên thực tế thì, khi tham gia tour du lịch văn học, du khách sẽ được sống mình trong thời đại nhiều chuyên gia văn hóa cho rằng là thời ký vàng son của văn học nước nhà, ở đó, du khách sẽ được khám phá khu vường tượng với 20 danh nhân văn học Việt Nam, Ngôi đền Văn chương, không gian văn học Việt Nam thời kỳ cổ, trung đại và không gian hiện thực phê phán. Tại đây, du khách sẽ được chiêm ngưỡng Bản Tuyên ngôn độc lập: Nam Quốc Sơn Hà – Lý Thường Kiệt; Bình Ngô Đại Cáo – Nguyễn Trãi; tham quan không gian thơ ca của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đặc biệt là sau khi kết thúc tour, du khách sẽ được trải nghiệm như giải ô chữ, viết thư pháp, thưởng thức trà đạo, đây hứa hẹn là những điểm hẹn văn hóa lý thú với những người dành sự quan tâm với lịch sử và văn hóa, văn học, nghệ thuật nước nhà dân tộc.


Chúng ta có bề dày văn hóa nói chung và văn học nói riêng, chúng ta có nhiều tiềm năng nhưng khai thác và phát huy thế nào để “dân tộc thực sự trường tồn và tỏa sáng nhờ văn hóa” thì lại là điều rất cần sự đầu tư tâm huyết, trí tuệ và cách làm đột phá trong xã hội hôm nay. Hoan nghênh Thủ đô với những những điểm tựa văn hóa thời gian qua.

<Trạng Tí>#ST. Trường Tồn 

BÀ PHẠM CHI LAN TRỞ CỜ RẤT THÔ THIỄN

 

Ý sâu xa của bà Lan là phải: "Theo tư bản, Việt Nam phải đa đảng và chế độ xương máu cha ông thống nhất đất nước phải bỏ đi. Theo Mỹ, nhờ Mỹ, Mỹ giàu là Việt Nam giàu..."


⚡️Giải thích👇:


Việt Nam là một quốc gia độc lập chẳng theo và phải chịu chi phối bất kỳ quốc gia nào. Bài học nhà Nguyễn theo Pháp là chứng minh gần nhất, sau đó các nhà tri thức cấp tiến (thếkỷ 20) theo Anh, Nhật, Pháp (các chế độ đa đảng) để muốn dành độc lập dan tộc nhưng bị thất bại). Chỉ đến việc áp dụng 1 đảng tiên phong lãnh đạo thì Đảng CSVN đã chứng minh rất rõ cả về yếu tố lịch sử, cả về vai trò lãnh đạo đã đưa dân tộc Việt Nam "từ thắng lợi này đến thắng lợi khác": Dành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng XH phát triển phồn vinh. (Thực tế sau 48 năm thống nhất đất nước, trong đó 20 năm Mỹ cấm vận, đến nay Việt Nam trở thành nền kinh tế tự chủ với tổng Sản phẩm Quốc nội sau chiến tranh chỉ 58 nghìn tỷ USD đến nay là 12.000 tỷ USD), đứng thứ 37 thế giới (2020) thứ 33 thế giới (2022) là minh chứng không chối cãi về phát triển KTXH Việt Nam dưới sự lđ của Đảng CSVN.


Thế thì những quan điểm của bà Lan phát biểu trên có phải vì theo một đám phản động, trở cờ: Chu Hảo, Nguyễn Quang A và cái "câu lạc bộ Hiếu Đẳng" kia chống lại dân tộc không?


Không chống được thì tự nhục đó là cách của bọn phản động!. Xã hội cũng như 1 gia đình: Chẳng có gia đình nào 1 vợ hai chồng, về chính trị nó khác phương Tây chỗ đó, không thể đa nguyên (Ta còn phải xét cả truyền thống, bản sắc VH dân tộc với vai trò củ ĐCSVN nữa). Và khi anh, chị tri thức cấp tiến không tuyên truyền được chế độ đa nguyên, họ thường bỉ bôi thành quả dân tộc do Đảng CSVN lãnh đạo dù họ là đảng viên), mà Phạm Chi Lan, từng giữ chức Trưởng phòng CN &TM Việt Nam, cố vấn cho TT Chính phủ, khi về hưu, không đạt được mục đích cá nhân, bà ấy trở cờ phủ nhận thành quả của Đảng là rất dễ hiểu thôi. 


Chủ nghĩa cá nhân ăn sâu vào ai thì khó sửa lắm! Bà Phạm Chi Lan là một ví dụ! Cần nhận diện đấu tranh loại bỏ!

#ST. Trường Tồn 

Việt Nam có thiết chế chính trị ưu việt

 


Tương ứng với nền tảng chính trị, tư tưởng trên, ở Việt Nam duy nhất có Đảng Cộng sản Việt Nam- đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam- Người lãnh đạo và là đầy tớ trung thành của nhân dân. Đảng có đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa “hồng”  vừa “chuyên”, thay mặt nhân dân xây dựng và thực hiện công tác quản lý xã hội theo chức năng của Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa- nhà nước của dân do dân và vì dân.

Việt Nam có thể chế chính trị ưu việt

 


Một xã hội, một quốc gia dân tộc có môi trường sống (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng- an ninh) tốt hay không phải dựa vào đường lối chính trị của xã hội, quốc gia, dân tộc đó (đường lối đó phục vụ cho ai, giai cấp nào, lực lượng nào cho xã hội). Đường lối chính trị phụ thuộc vào 2 yếu tố: Thể chế chính trị và thiết chế xã hội. Thể chế chính trị ở Việt Nam được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin (học thuyết khoa học, tiến bộ, vì sự giảỉ phóng loài người thoát cảnh bị bóc lột, bất công, cùng cực trở thành những người chủ của đất nước, xã hội); dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh - danh nhân văn hóa thế giới, với những tư tưởng được vận dụng sáng tạo học thuyết Mác- Lênin, kinh nghiệm truyền thống cha ông, tinh hoa văn hóa thế giới; dựa trên bài học kinh nghiệm quý báu trong quản trị đất nước của các nước trên thế giới.

Việt Nam quan niệm về dân tộc thiểu số

 


Đảng ta, trên quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tiêu chí phân định tộc người trên thế giới, trong những năm 70 của thế kỷ XX, Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) và Ủy ban Dân tộc đã thống nhất xác định các dân tộc, xây dựng Bảng Danh mục thành phần các dân tộc ở nước ta trình Hồi đồng Chính phủ đã ủy quyền cho Tổng cục Thống kê chính thức công bố Bảng Danh mục thành phần các dân tộc nước ta gồm 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh là dân tộc đa số, 53 dân tộc còn lại là dân tộc thiểu số (chúng ta không có dân tộc nào là dân tộc bản địa).

Việc xác định thành phần dân tộc Việt Nam là căn cứ để thực hiện các cuộc Tổng điều tra dân số, phục vụ việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn văn hóa truyền thống của các dân tộc, bảo đảm nguyên tắc các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết vấn đề dân tộc

 


Ở Việt Nam, trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết”[1]. Để thực hiện tốt tư tưởng trên, Người chỉ ra con đường, biện pháp giải quyết vấn đề dân tộc là. Trước hết, các dân tộc đoàn kết, bình đẳng, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta có nhiều dân tộc, đấy là điểm tốt”[2]. “Đồng bào kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”[3]. Do vậy, tất cả các dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn Tổ quốc và để ủng hộ chính phủ. Thứ hai, để các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, theo Người, phải quan tâm phát triển kinh tế- xã hội vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Đảng và Chính phủ phải có các kế hoạch ngắn, và dài hạn để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội miền núi, đồng bào miền xuôi phải giúp đỡ đồng bào miền ngược. Thứ ba, phải đào tạo đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số. Hồ Chí Minh cho rằng, việc xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc có vai trò to lớn nhằm củng cố sự lãnh đạo của Đảng ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nâng cao đời sống nhân dân và tăng cường khối đoàn kết dân tộc.

 



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, t4,tr.64

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, t.4, tr.168

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, t.4, tr.249.

 

Dân tộc thiểu số là gì?

 


Thuật ngữ “Dân tộc thiểu số” trong tiếng Anh là: Ethnic minnotities. Thuật ngữ “Dân tộc thiểu số” thường dùng để chỉ những người thuộc các dân tộc (tộc người) có dân số ít hơn so với dân tộc đa số. Theo các nhà dân tộc học, để xác định một dân tộc (tộc người), cần phải dựa vào 3 tiêu chí cơ bản là: có chung ngôn ngữ, đặc điểm văn hóa và ý thức tự giác tộc người.

Hiện nay các nước quan niệm về dân tộc thiểu số rất khác nhau. Một số nhà khoa học trên thế giới và một số tổ chức quốc tế cho rằng nguyện vọng và ý thức tộc người là căn cứ chính để xác định tộc người. Người Mỹ phân biệt dân tộc này hay dân tộc khác dựa vào màu da, nguồn gốc cư trú. Liên hiệp châu Âu đưa ra khái niệm về dân tộc thiểu số: “Dân tộc thiểu số chỉ một nhóm người từ một quốc gia khác đến cư trú trên lãnh thổ của quốc gia thuộc liên minh châu Âu và có quốc tịch của khối châu Âu”[1]. Nhiều nước trên thế giới, trong đó có Liên minh châu Âu chỉ tiến hành xác định, phân biệt giữa dân tộc đa số, chủ thể đang sinh sống trên đất nước họ với các công dân thuộc các nước khác, chủ yếu là người nhập cư, xin được định cư.



[1] Công ước của Liên minh châu Âu về dân tộc thiểu số.

Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác- Lênin

 


Chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết tiến bộ, khoa học vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người toàn nhân loại đã chỉ ra: Cách mạng xã hội chủ nghĩa muốn thành công phải giải quyết tốt vấn đề dân tộc. Giai cấp công nhân phải trở thành dân tộc, mục đích, mục tiêu, lợi ích cách mạng của mình phải hòa cùng với mục đích, mục tiêu, lợi ích của dân tộc, xã hội. Trong gải quyết vấn đề dân tộc có nhiều vấn đề, trong đó cần nhận thức sâu sắc và thực hiện tốt cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác- Lênin. Trong Cương lĩnh dân tộc, chủ nghĩa Mác- Lênin xác định 3 nội dung mang tính nguyên tắc: Một là, các dân tộc hoàn toàn bình đẳng. Bình đẳng dân tộc là quyền của các dân tộc, không phân biệt lịch sử sớm hay muộn, đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp, không phân biệt chủng tộc, màu da đều có quyền bình đẳng. Hai là, các dân tộc có quyền tự quyết. Mỗi dân tộc đều có quyền tự quyết, đó là quyền tự chủ đối với vận mệnh của dân tộc mình, quyền tự quyết định về thể chế chính trị và con đường phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Quyền tự quyết thể hiện ở quyền tự do phân lập, tách ra thành lập một quốc gia - dân tộc độc lập (đối với các dân tộc bị thực dân, đế quốc áp bức, các dân tộc thuộc địa), hay quyền tự nguyện liên hiệp với dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân các dân tộc vì mục tiêu phát triển hòa bình, phồn vinh, hữu nghị. Quyền tự quyết của các dân tộc không đồng nhất với quyền của các tộc người thiểu số trong một quốc gia đa tộc người, nhất là việc phân lập về chính trị, thành lập các quốc gia độc lập. Vấn đề quyền tự quyết dân tộc là sự thể hiện trong thực tiễn hành động quyết định của dân tộc theo những xu hướng phát triển tiến bộ, kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng chiêu bài “dân tộc tự quyết” để chống phá, can thiệp vào công việc nội bộ của các dân tộc. Đấu tranh chống lại chủ nghĩa dân tộc, tâm lý ích kỷ, hẹp hòi, lảng tránh nghĩa vụ giúp đỡ các dân tộc khác cùng phát triển. Ba là, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc. Để thực hiện tốt quyền bình đẳng và quyền tự quyết, cần phải đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc, các quốc gia để thống nhất lập trường giải quyết vấn đề dân tộc. Chỉ trên cơ sở liên hiệp giai cấp công nhân, đoàn kết, thống nhất các đảng cộng sản, các đảng công nhân về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân tộc mới tạo điều kiện thúc đẩy phong trào dân tộc phát triển đồng thuận, cùng chiều với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Ba nội dung mang tính nguyên tắc trong cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, giúp các Đảng Cộng sản có cơ sở lý luận và thực tiễn để giải quyết vấn đề dân tộc; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về dân tộc, trong đó có vấn đề về dân tộc bản địa.

Nên hiểu cho đúng bản chất khái niệm dân tộc bản địa

 


Hiện nay, một số tổ chức, cá nhân vô tình hay cố ý thường nhầm lẫn hai khái niệm dân tộc thiểu số và dân tộc bản địa, dẫn đến nhận định và đánh giá không đúng về thực hiện các quyền của người dân tộc thiểu số và quyền của dân tộc bản địa ở Việt Nam.

Trong tiếng Anh, dân tộc bản địa được ghi trong văn bản của Liên hợp quốc là: Indigenuos (dân tộc bản địa hay dân tộc bản xứ) hoặc Aborginal peoples (những người thổ dân). Liên hợp quốc quan niệm: “Dân tộc bản địa hay còn gọi là thổ dân, là nhóm người đã từng có mặt trên một khu vực đất đai, trước ngày di dân của nhóm dân tộc khác vào lãnh thổ của họ”[1]. Ví dụ: Những người thổ dân ở châu Đại Dương, họ đã sinh sống lâu đời ở châu Đại Dương, trước khi thực dân Anh đưa quân đội và dân đến chiếm đóng, thống trị và cai quản. Những người Mỹ gốc thổ dân hay thường gọi là người da Đỏ ở Mỹ, cũng có thể đọc theo phiên âm là người Anhđiêng (tiếng Anh là Native American Indians, Indigenous Peoples, Aboriginal Peoples hay Original Americans) là những người đã sinh sống lâu đời trên đất Mỹ, trước khi quân đội và người da trắng đến chiếm đóng.

Theo lịch sử nước ta, thuật ngữ “Dân tộc bản địa” gắn liền với các thời kỳ nước ta bị đô hộ, xâm lược. Thời kỳ Pháp thuộc, thuật ngữ “dân tộc bản địa” hoặc “người bản xứ” được dùng để chỉ tất cả các cộng đồng dân tộc Việt Nam (kể cả người Kinh và các dân tộc thiểu số). Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, người dân Việt Nam làm chủ đất nước của mình, không còn là dân bản địa hay bản xứ nữa. Trong Tuyên ngôn độc lập, Nhà nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa đã khẳng định: Nhà nước tôn trọng quyền bình đẳng của tất cả các công dân thuộc các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam. Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 quy định: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa”[2]. Đối với các dân tộc thiểu số, Hiến pháp cũng đã quy định: “Nhà nước bảo vệ, tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc nghiêm cấm mọi hành vi miệt thị, chia rẽ dân tộc”[3]. Từ năm 1945 đến nay, thuật ngữ dân tộc bản địa hay người bản xứ chỉ còn dùng trong văn bản lịch sử hoặc trong ký ức, gợi nhớ về quá khứ đau thương của dân tộc ta, dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Hiện tại trong tất cả các văn bản hành chính và đời sống văn hóa xã hội ở nước ta không còn sử dụng thuật ngữ “dân tộc bản địa” để chỉ vị thế của người dân hoặc nói về các dân tộc thiểu số hiện đang sinh sống trên đất nước Việt Nam. Hiện nay ở Việt nam có 54 dân tộc, gồm: Dân tộc Kinh là dân tộc đa số, 53 dân tộc còn lại là dân tộc thiểu số, chứ ở Việt Nam hiện nay không có dân tộc nào là dân tộc bản địa.



[1]. Cao ủy nhân quyền Liên hợp quốc, Bản tin số 9.

[2] Điều 6 Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946.

[3] Điều 5 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980.

Nắm rõ bản chất, mục tiêu cuối cùng của các thế lực thù địch đòi quyền các dân tộc bản địa

 


Thời gian gần đây, các tổ chức phản động, cá nhân trong và ngoài nước, tiếp tục với những hoạt động (bài viết, phỏng vấn, video…) trên các phương tiện thông tin đại chúng với tần xuất ngày càng cao, đòi hỏi Chính phủ Việt Nam công nhận các dân tộc Chăm, Khmer và các dân tộc tại chỗ ở Tây Nguyên là dân tộc bản địa.

Thực chất, bản chất, mục tiêu cuối cùng mà các tổ chức phản động lưu vong ở trong nước và nước ngoài đòi hỏi Chính phủ Việt Nam công nhận các dân tộc Chăm, Khmer và các dân tộc tại chỗ ở Tây Nguyên là dân tộc bản địa không phải xuất phát từ lợi ích của đồng bào các dân tộc thiểu số, mà là phục vụ âm mưu chính trị, ý đồ đen tối, nhằm chia cắt sự toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước ở Việt Nam.

Một số tri thức người Chăm ở nước ngoài đấu tranh đòi quyền bản địa cho người chăm ở Việt Nam

 


Ngày 13-9-2007, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết 61/295 về “Tuyên ngôn về quyền các dân tộc bản địa”. Bản “Tuyên ngôn về quyền của các dân tộc bản địa”, gồm 46 điều, trong đó có một số điều đang được các thế lực thù địch quan tâm, lợi dụng, khai thác hòng kích động, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đó là “Các dân tộc bản địa có quyền tự quyết”, “các dân tộc bản địa có quyền tự trị, hay tự quản”, “các dân tộc bản địa có quyền duy trì và tăng cường những thiết chế, chính trị, luật pháp, kinh tế; xã hội và văn hóa riêng”,…

Một số tri thức người Chăm ở nước ngoài cũng có nhiều bài viết, tuyên truyền, kích động, đòi Nhà nước Việt Nam công nhận người Chăm, thành viên của cái gọi là Hội đồng Phát triển Văn hóa dân tộc Chăm tại Mỹ. Trong một bài viết gần đây có tựa đề “Sự khác biệt giữa dân tộc thiểu số và bản địa trong tuyên ngôn của Liên hợp quốc”, Po Dharma đã cố vận dụng khái niệm về dân tộc thiểu số của Liên minh châu Âu áp đặt vào Việt Nam, đề từ đó không công nhận người Chăm là dân tộc thiểu số, đòi phải công nhận người Chăm là dân tộc bản địa. Đây là việc làm mang tính chủ quan, không phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tế ở Việt Nam. Tiếp theo ngày 20-12-2012, Po Dharma lại có bài phỏng vấn của phóng viên Đài Á Châu Tự do (RFA), được đăng tải trên trang điện tử toàn cầu của RFA, với tựa đề: “Dân tộc Chăm yêu cầu được thừa nhận là dân tộc bản địa” (!). Trong bài phỏng vấn của mình, Po Dharma không đồng ý với Chính phủ Việt Nam đang công nhận người Chăm là dân tộc thiểu số và dùng mọi lý lẽ chứng minh dân tộc Chăm là dân tộc bản địa, sau đó ông ta viện dẫn các điều ước được nêu trong tuyên ngôn của Liên hợp quốc về quyền của các dân tộc bản địa, để đưa ra nhiều yêu sách cho người Chăm. Trong đó có 3 yêu sách, mà ông ta xác định là những mục tiêu quan trọng nhất, bất cứ giá nào phải đấu tranh bằng được trong tương lai” (!) như: Yêu cầu nhà nước Việt Nam công nhận dân tộc Chăm là dân tộc bản địa, không phải là dân tộc thiểu số”; “Đòi quyền sở hữu đất đai cho người Chăm”, “Nhà nước Việt Nam phải hoàn toàn trả lại đất đai của người Chăm, đã bị tịch thu, quốc hữu hóa” (1).

Lại những luận điệu sai trái về cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng việc các cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng để tung ra luận điệu sai trái, xuyên tạc trên các phương tiện truyền thông xã hội. Đặc biệt gần đây, khi cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, làm rõ những vụ án lớn như vụ án xảy ra tại Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao và một số bộ, ngành, địa phương (còn gọi là vụ án “chuyến bay giải cứu”), vụ Việt Á, các đối tượng rêu rao rằng, tham nhũng ở Việt Nam hiện đã trở thành “hệ thống”, bản chất và muốn chống không còn cách nào khác phải thay đổi cơ chế, phải “xóa bỏ chế độ”! Nhiều bài viết vu cáo rằng, đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên là “đấu đá nội bộ, phe cánh”, “thanh trừng phe phái” nên “ai đen thì chết”! Họ cố tình bôi đen việc thực hiện công cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta, cho rằng việc bắt bớ nhiều, xử lý nhiều không làm ai run rợ, không hề có tính cảnh tỉnh, răn đe mà ngược lại, việc xử lý nhiều làm cho “tình hình thêm phức tạp, nghiêm trọng”! Một số bài viết lại quy kết rằng, cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng đang “làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế”. Họ cho rằng, cuộc chiến chống tham nhũng rộng khắp của Đảng Cộng sản Việt Nam đang khiến cho nhiều giao dịch kinh tế bị tê liệt, có thể ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, giảm xuất khẩu. Suy diễn việc chống tham nhũng làm tê liệt hoạt động kinh doanh, đặc biệt “nếu việc thực thi pháp luật bị cho là không rõ ràng và có động cơ chính trị”… Một số bình luận vu cáo, chiến dịch chống tham nhũng của Việt Nam làm tê liệt chuỗi cung ứng đầu tư, làm “nhà đầu tư nước ngoài lo sợ”!. Họ lập luận rằng, chiến dịch chống tham nhũng ở Việt Nam đã làm tê liệt nhiều giao dịch thông thường trong nước, gây ra tình trạng thiếu hàng hóa thiết yếu và làm giảm niềm tin của nhà đầu tư vào một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất châu Á. Các cá nhân, tổ chức chống phá Việt Nam đã chia sẻ những bài viết này lên các trang mạng xã hội, từ đó đi đến quy kết, xuyên tạc bản chất cuộc chiến chống tham nhũng, hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tác động vào tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của người dân, nhất là đối với các doanh nhân, cán bộ trong bộ máy Nhà nước. Thực tế, với sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt trong cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, trong đó có sự ủng hộ của nhân dân, cuộc chiến này đã có chuyển biến tích cực, rõ rệt và mang lại những thành quả quan trọng. Đánh giá về nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, trong cuộc họp của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày 18/11/2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo đã nhấn mạnh: “Càng đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Đảng của chúng ta càng mạnh lên, càng củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, làm cho bộ máy trong sạch, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại, đồng thời bác bỏ luận điệu sai trái của các thế lực xấu, thù địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là “đấu đá nội bộ”, “phe cánh”, làm “nhụt chí” những người khác”. Với luận điệu “chống tham nhũng làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế” là hoàn toàn không có cơ sở. Cần phải nhìn nhận, tham nhũng tác động trực tiếp đến sự ổn định và phát triển đối với mọi mặt của đời sống xã hội. Hành vi này gây ra những hậu quả, tác hại to lớn trên các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, nhất là đối với kinh tế, tình trạng tham nhũng gây thất thoát nghiêm trọng tài sản công, bào mòn ngân sách nhà nước để làm lợi cho một số cá nhân, nhóm người tham nhũng. Tham nhũng còn đe dọa sự ổn định, an ninh xã hội, xâm hại các thể chế và giá trị dân chủ, các giá trị đạo đức, công lý. Nếu không kịp thời ngăn chặn, tham nhũng sẽ trở thành mối đe dọa đặc biệt nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đe dọa đến tồn vong của chế độ. Thực tế, quan điểm trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước Việt Nam rất rõ ràng, những đối tượng tham nhũng thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Đồng thời, Nhà nước tạo điều kiện, khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội tích cực thúc đẩy các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hút đầu tư, tạo môi trường lành mạnh, trong sạch trong cả đầu tư công và môi trường đầu tư tư nhân. Cùng với đó, qua chống tham nhũng, cơ quan chức năng đúc rút những kinh nghiệm, bài học để tham mưu với Đảng, Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách pháp luật nhằm từng bước hoàn thiện, bịt lỗ hổng để ngăn ngừa tham nhũng. Do đó, không thể cho rằng vì lý do chống tham nhũng nên nhiều cá nhân sợ không dám làm, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, tác động đến các chuỗi cung ứng trong kinh tế. Cần phải nhận thức rằng, tình trạng tham nhũng làm suy giảm các lực lượng cạnh tranh vốn có của thị trường, gây ra sự cản trở sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Tham nhũng làm cạn nguồn đầu tư nội địa, làm giảm đáng kể các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tham nhũng không chỉ gây trở ngại cho hoạt động kinh tế vĩ mô mà còn kìm hãm hoạt động của các hãng riêng lẻ. Chính cuộc chiến chống tham nhũng tại Việt Nam tạo động lực không ngừng cho đầu tư, phát triển kinh tế, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà đầu tư vào Việt Nam. Thời gian qua, các thế lực chống phá Việt Nam luôn viện dẫn nhiều lý do để chỉ trích Việt Nam, khi cuộc chiến chống tham nhũng đang cho thấy hiệu quả rất tích cực thì họ cũng không muốn điều đó xảy ra. Những thông tin sai trái từ các cá nhân, tổ chức, trung tâm chống phá Việt Nam về cuộc chiến chống tham nhũng đòi hỏi người dân cần cảnh giác, không phụ họa, chia sẻ trên mạng xã hội. Với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, trên diễn đàn mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí đã lợi dụng công cuộc chống tham nhũng, tiêu cực, chống suy thoái, biến chất của Đảng, Nhà nước ta để xuyên tạc, bóp méo, cho đó là “cuộc đấu tranh thanh trừng nội bộ giữa các phe phái và các nhóm lợi ích”, vu cáo Đảng, Nhà nước ta đang ở thế “lưỡng nan đối nghịch” với hàm ý chống tham nhũng nhưng không muốn thay đổi thể chế chính trị! Lợi dụng một số vụ việc tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên được phát hiện trong thời gian gần đây, đặc biệt là liên quan đến vụ kit test Việt Á, vụ “chuyến bay giải cứu”, các cá nhân, tổ chức thù địch đã lấy hiện tượng làm bản chất, quy chụp rằng toàn bộ đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước “đang rơi vào tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, thoái hóa, biến chất”. Họ vu cáo rằng, đó là bản chất, là “căn bệnh nan y, kinh niên” của chế độ độc đảng cầm quyền. Nhiều bài viết còn phủ nhận những kết quả về công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước ta khi cho rằng, Đảng, Nhà nước đã phát động chống tham nhũng, suy thoái nhưng đều thất bại, tệ nạn ngày càng gia tăng. Từ đó, số này đưa ra quan điểm, chỉ có thể chống được tham nhũng khi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực, kêu gọi phải thay đổi thể chế thì mới có thể chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất. Như nhiều bài viết chúng tôi đã phân tích rõ, chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng, suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ. Tổ chức Minh bạch quốc tế (AI) đã từng cho rằng tham nhũng là tệ nạn nhức nhối, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong số đó, đa số là các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng lãnh đạo, tam quyền phân lập, do giai cấp tư sản lãnh đạo. Một số quốc gia có biểu hiện nguy hiểm khi tình trạng tham nhũng đã leo đến tận các nguyên thủ quốc gia như Hàn Quốc, Brazil Colombia, Malaysia; một số quốc gia thuộc nhóm “nước tham nhũng nghiêm trọng” đều theo thể chế đa đảng, không do Đảng Cộng sản cầm quyền, lãnh đạo. Do đó, việc cho rằng, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là “căn bệnh nan y”, chỉ xảy ra ở các quốc gia do Đảng Cộng sản lãnh đạo hay ở quốc gia do một đảng lãnh đạo, cầm quyền là hoàn toàn không đúng với thực tế, là sự quy chụp, suy diễn. Âm mưu của chúng là nhằm gây ra tình trạng nghi ngờ, hoang mang, gây lầm tưởng tham nhũng phức tạp là do chế độ một đảng lãnh đạo, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ. Đồng thời, thông qua đó, các đối tượng nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, Nhà nước; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin, kích động chống phá Đảng, Nhà nước ta. Để phòng, chống tham nhũng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, cần phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng và Chính phủ; cần xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện rộng rãi trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; phải làm cho quần chúng nhân dân khinh ghét, xa lánh tham ô, lãng phí; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội. Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa của Đảng và chế độ ta”. Do đó, việc kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Điều này cũng xuất phát từ vị thế, uy tín của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, từ đòi hỏi công tác xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, đủ sức chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam. Việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không làm cho nội bộ mất đoàn kết, không phải giữa các “phe cánh”, “đấu đá” mà góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi các Cương lĩnh, Điều lệ của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; tăng cường đoàn kết, gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Chống tham nhũng cũng nhằm thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững, củng cốniềm tin vững chắc của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.