Thứ Năm, 3 tháng 10, 2024

Vai trò, trách nhiệm của Quân đội trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay

 


Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt. Vai trò của quân đội được thể hiện thông qua các chức năng, nhiệm vụ của quân đội là đội quân chiến đấu, đội quân công tácđội quân lao động sản xuất.

Quân đội nhân dân là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; được xây dựng tổ chức tinh, gọn, mạnh, cơ động, linh hoạt, hiệu quả cao; được trang bị các loại vũ khí khí thài hiện đại; đẩy mạnh nghiên cứu phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam; thường xuyên huấn luyện, diễn tập, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu và khả năng sẵn sàng chiến đấu. Quân đội còn là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân; xử lý tốt các tình huống quốc phòng, sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, góp phần giữ vững mội trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.  

Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt tham gia công tác vận động quần chúng, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, tích cực thực hiện công tác dân vận, đi đầu trong xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; tích cực tham gia phòng, chống lụt bão, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa và bảo vệ tài nguyên, môi trường… ; tích cực tham gia xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống.

Quân đội còn là lực lượng nòng cốt trong hội nhập quốc tế về quốc phòng và đối ngoại quốc phòng Việt Nam; tích cực tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; huấn luyện, diễn tập chung về hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa, tìm kiếm cứu nạn, hợp tác quốc tế trong khắc phục hậu quả chiến tranh. Qua đó, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của đất nước và Quân đội trên trường quốc tế.

Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng quan trọng trong tham gia lao động sản xuất, thực hiện nhiệm vụ xây dựng kinh tế gắn với củng cố quốc phòng trên địa bàn. Các đoàn kinh tế - quốc phòng là lực lượng chủ lực đối với nhiệm vụ này, góp phần phát triển kinh tế, bảo đảm việc làm cho hàng trăm nghìn lao động, thực hiện tốt nghĩa vụ ngân sách đối với Nhà nước, tạo ra nhiều sản phẩm lưỡng dụng, sản phẩm công nghệ có giá trị cao, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế quốc dân, hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc phòng kết hợp với phát triển kinh tế - xã hội.

Quân đội nhân dân Việt Nam là chỗ dựa vững chắc cho toàn dân bảo vệ Tổ quốc, đồng thời là lực lượng chủ yếu thực hiện chức năng tham mưu cho Đảng, Nhà nước hoạch định mọi đường lối chiến lược, sách lược về quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đồng thời, Quân đội còn là lực lượng quan trọng trong tham gia công tác tư tưởng, lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Thực hiện đồng bộ, toàn diện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 


Giữ vững độc lập, tự chủ kết hợp với chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là đường lối chiến lược, đồng thời là nguyên tắc bất biến để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Đó chính là tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn mới, Việt Nam cần tiếp tục thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, tránh phụ thuộc vào bất cứ nước lớn hay nhóm nước nào; chủ động lựa chọn tham gia các cơ chế, diễn đàn khu vực và toàn cầu để vừa thích ứng với các trào lưu, xu thế chung của thế giới, vừa phục vụ một cách tốt nhất các lợi ích quốc gia dân tộc. Để đạt được mục tiêu này, cần tập trung thực hiện tốt những nội dung sau:

Tiếp tục đưa quan hệ với các đối tác, nhất là các nước láng giềng, các nước ASEAN, các nước lớn, các bạn bè truyền thống và các diễn đàn đa phương, song phương đi vào chiều sâu ổn định, vững chắc. Hiện nay, cần chú ý cặp quan hệ Trung Quốc - Hoa Kỳ. Bởi vì, mọi động thái trong cặp quan hệ này đều liên quan đến sự phát triển các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và an ninh - quốc phòng của Việt Nam.

Chủ động, tích cực tuyên truyền các thành tựu của Việt Nam về các lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo; đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn lợi dụng các vấn đề trên để chống phá chế độ. Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ cho sự nghiệp phát triển đất nước, tạo lập lợi ích đan xen với các đối tác.

Chủ động, tích cực tham gia và đóng góp vào các diễn đàn, tổ chức quốc tế và khu vực, nhất là trên những lĩnh vực Việt Nam có lợi thế, những vấn đề trực tiếp liên quan đến an ninh, phát triển, lợi ích chiến lược của Việt Nam. Mở rộng nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh.

Kết hợp chặt chẽ giữa đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Chủ động, tích cực đưa các mối quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, hiệu quả, thực chất.

Kết hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 


Đây là phương hướng chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó làKết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”[1], nhằm xác định thống nhất nhận thức quan điểm mới về bảo vệ tổ quốc là: gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Việc kết hợp này không những là yêu cầu nhiệm vụ của nền kinh tế, văn hóa, xã hội, mà còn là yêu cầu thường xuyên nhằm củng cố và xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh.

Việc kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại cần được thực hiện trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, trên tất cả mọi vùng, miền của tổ quốc, trong đó chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Khắc phục triệt để những sơ hở, thiếu sót trong việc kết hợp kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh tại các địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược.

Không những vậy, việc kết hợp này phải được quán triệt và thực hiện ở mọi doanh nghiệp, cơ sở kinh tế, ở từng địa phương và trong phạm vi cả nước, ở các đơn vị của lực lượng vũ trang. Bảo đảm trong thời bình cũng như trong thời chiến đáp ứng kịp thời mọi yêu cầu xây dựng, chiến đấu của các lực lượng vũ trang. Mỗi xí nghiệp, nhà máy là một pháo đài, mỗi địa phương là một mặt trận, đánh bại mọi mưu đồ xâm lược phá hoại của kẻ địch. Trong điều kiện mở cửa, hội nhập, nước ta thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, các thế lực thù địch sẽ lợi dụng để thâm nhập, kích động, móc nối, lôi kéo, mua chuộc, đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” để phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Bởi vậy, một mặt, quốc phòng, an ninh phải phối hợp chặt chẽ với công tác đối ngoại, làm tốt nhiệm vụ bảo vệ bí mật quốc gia, bí mật quân sự, an ninh quốc gia, kịp thời phát hiện và ngăn chặn ý đồ và hành động đen tối của địch. Mặt khác, phải phối hợp làm tốt việc tuyên truyền, nâng cao vị thế, mở rộng quan hệ của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta với thế giới; phát hiện âm mưu của các thế lực thù địch để chủ động đối phó, ngăn chặn và đập tan hành động phá hoại của chúng; đồng thời, mở rộng quan hệ hợp tác trong nghiên cứu khoa học quân sự, mua sắm trang bị kỹ thuật quân sự, vũ khí, đầu tư phát triển công nghiệp quốc phòng của ta với các nước anh em, bè bạn và các nước khác trên thế giới, góp phần tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cần khắc phục quan điểm kinh tế đơn thuần, không chú ý đến phương án bảo vệ hoặc coi nhẹ lợi ích kinh tế, hiệu quả kinh tế khi đề ra các phướng án bảo vệ, hoạt động quốc phòng, an ninh.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 157.

Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay


Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ có số lượng hợp lý, chất lượng ngày càng cao, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, đồng thời chú trọng xây dựng một nền công nghiệp quốc phòng từng bước hiện đại, đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ tổ quốc.

Nâng cao chất lượng công tác giáo dục bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Tăng cường hơn nữa nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, vũ khí cho quốc phòng, an ninh. Tập trung xây dựng và triển khai có hiệu quả kế hoạch động viên quốc phòng, bảo đảm nhu cầu dự trữ quốc gia cho quốc phòng và kế hoạch bảo đảm cho các hướng chiến lược, sẵn sàng vũ trang toàn dân bảo vệ Tổ quốc.

Tiếp tục điều chỉnh thế bố trí chiến lược lực lượng Quân đội, đáp ứng yêu cầu phòng thủ đất nước. Ưu tiên xây dựng các công trình phòng thủ biển đảo, thềm lục địa, phòng thủ biên giới, đường tuần tra, đê kè, sông suối, biên giới, địa bàn chiến lược. Nâng cao chất lượng xây dựng các khu vực phòng thủ tinh, thành phố vững chắc toàn diện.

Phát triển sâu rộng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, củng cố thế trận an ninh nhân dân, tăng cường lực lượng, phương tiện đảm bảo an ninh quốc gia trên các địa bàn, nhất là các địa bàn chiến lược, trọng điểm. Chủ động nắm chắc tình hình, đánh giá và dự báo đúng các tình huống phức tạp có thể xảy ra, đặc biệt là trên vùng biển đảo, biên giới và các địa bàn chiến lược, trọng điểm. Tiếp tục hoàn thiện các phương án bảo vệ an ninh quốc gia, chủ quyền lãnh thổ, chủ động có phương án ứng phó, ngăn chặn, đẩy lùi từ xa và tích cực chuẩn bị lực lượng bảo đảm giành thắng lợi khi có tình huống xấu xảy ra, không để bị động bất ngờ.

Duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, quản lý chặt chẽ biên giới, vùng trời, vừng biển, hải đảo. Xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả các phương án phòng chống bạo loạn, gây rối, khủng bố; các phương án đảm bảo an ninh chính trị, an ninh tư tưởng - văn hóa, an ninh kinh tế, an ninh thông tin, nhất là an ninh mạng. Giữ vững an ninh chính trị; kịp thời phát hiện, vô hiệu hóa cơ sở của các tổ chức phản động, giải quyết dứt điểm các vụ việc phức tạp ngay tại cơ sở không để lan rộng trở thành điểm nóng về an ninh, trật tự. 

Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, có sức chiến đấu cao, sẵn sàng đối phó trong mọi tình huống.

 


 Tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng quan trọng; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Để đáp ứng yêu cầu lực lượng bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, Đảng ta xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”[1].

Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân phải tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, quản lý chặt chẽ của Nhà nước, để Quân đội và Công an thực sự là lực lượng tin cậy của Đảng, của nhân dân, luôn trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,, 2021, tr.157 - 158.

Xây dựng tiềm lực quân sự của đất nước vững mạnh trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay

 


Xây dựng tiềm lực quân sự của đất nước vững mạnh, là yếu tố nòng cốt của tiềm lực quốc phòng, gồm hai yếu tố cơ bản là con người và vũ khí, trang bị, trong đó con người là nhân tố quyết định. Tiềm lực quân sự được xây dựng trên nền tảng của các tiềm lực khác, thể hiện ở khả năng duy trì, hoàn thiện và phát triển sức mạnh chiến đấu, trình độ sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị lực lượng vũ trang, ở nguồn dự trữ về sức người, sức của phục vụ cho nhiệm vụ quân sự. Do đó, “xây dựng tiềm lực quân sự theo chiến lược thống nhất, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khả năng tác chiến và trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang thể hiện ở tổ chức, biên chế, trang bị, cơ sở bảo đảm hậu cần, nghệ thuật quân sự và khoa học kỹ thuật thường xuyên được duy trì, hoàn thiện và không ngừng phát triển, đáp ứng yêu cầu của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc”[1]. Xây dựng tiềm lực quân sự phải gắn chặt với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hóa - xã hội..., phát triển khoa học nghệ thuật quân sự.

Như vậy, xây dựng các tiềm lực lực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học - công nghệ, quân sự có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong tổng thể xây dựng và thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng - an ninh của đất nước.



[1]Bộ Quốc phòng, Quốc phòng Việt Nam 2019 (sách Trắng), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2019, tr. 44.

Xây dựng tiềm lực văn hóa - xã hội, khoa học công nghệ trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay

 


Xây dựng tiềm lực văn hóa - xã hội, trước hết là xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người phát triển toàn diện, phát huy tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa trong xây dựng, phát triển đất nước bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Triển khai các giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy thuần phong, mỹ tục của nền văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Xây dựng tiềm lực văn hóa - xã hội phải được thực hiện ở tất cả các cấp các ngành, ở từng địa phương và trong phạm vi cả nước; đồng thời kiên quyết ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa từ bên ngoài, các khuynh hướng văn hóa trái với thuần phong, mỹ tục của Việt Nam”[1]. Xây dựng tiềm lực khoa học - công nghệ của đất nước vững mạnh, là thành tố có vai trò ngày càng quan trọng trong tiềm lực quốc phòng, tác động trực tiếp đến sự phát triển của khoa học - công nghệ trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, cơ cấu tổ chức lực lượng vũ trang, công tác chỉ huy và quản lý bộ đội. Đó là khả năng và trình độ, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực; cơ sở vật chất phục vụ cho công tác nghiên cứu, phát triển, phổ biến, ứng dụng khoa học - công nghệ. Xây dựng tiềm lực khoa học - công nghệ của nền quốc phòng toàn dân phải gắn chặt với sự phát triển của khoa học - công nghệ đất nước, trên cơ sở đó ứng dụng có hiệu quả vào thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc. Vì thế, cần đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, nhà khoa học và nguồn nhân lực chất lượng cao; có chính sách động viên, khuyến khích các nhà khoa học và các chuyên gia công nghệ hàng đầu tham gia nhiệm vụ quốc phòng, quân sự; đồng thời, coi trọng phát triển công nghiệp quốc phòng.



[1]Bộ Quốc phòng, Quốc phòng Việt Nam 2019 (sách Trắng), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2019, tr. 41.

Xây dựng tiềm lực kinh tế của đất nước vững mạnh trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay

 


Xây dựng tiềm lực kinh tế của đất nước vững mạnh, là yếu tố suy cho cùng quyết định thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong bảo vệ Tổ quốc, quân đội là lực lượng nòng cốt, lực lượng quyết định thắng lợi trên chiến trường. Nhưng sức mạnh của quân đội phụ thuộc rất lớn vào kinh tế đất nước. Ph.Ăngghen khẳng định: “Không có gì lại phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế hơn là chính ngay quân đội và hạm đội. Vũ trang, biên chế, tổ chức, chiến thuật, chiến lược phụ thuộc trước hết vào trình độ sản xuất đạt được trong một thời điểm nhất định và vào phương tiện giao thông. Ở đây tác động cách mạng hóa không phải là “những sáng tạo tự do của trí tuệ” của những tướng lĩnh thiên tài, mà là việc phát minh ra những vũ khí tốt hơn và việc thay đổi”[1].

Kinh tế của đất nước vững mạnh còn là điều kiện vật chất để xây dựng thế trận phòng thủ vững chắc ở từng khu vực và trong phạm vi cả nước. Sức mạnh kinh tế suy cho cùng còn là cơ sở của tiềm lực chính trị, tinh thần vững mạnh. Để xây dựng tiềm lực kinh tế mạnh, Đảng ta xác định: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại và hiện đại; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh. Triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh các vùng. Quy hoạch tổng thể bố trí quốc phòng, an ninh kết hợp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Triển khai thực hiện hiệu quả các đề án, dự án về tăng cường quốc phòng, an ninh kết hợp với phát triển kinh tế - xã hội trên các hướng chiến lược của Tổ quốc.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 20, “Chống Đuy-Rinh” (1878), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.235.

Xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần vững mạnh trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay

 


Xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần vững mạnh, nhằm tạo ra sự thống nhất ý chí và hành động, trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn nào cũng khắc phục, vượt qua, vững bước dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, đánh thắng mọi âm mưu và hành động xâm lược của kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó là sự kiên định, tin tưởng tuyệt đối vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy cao độ truyền thống yêu nước, đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Nâng cao cảnh giác cách mạng, nhận rõ và đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù trong mọi tình huống.

Vấn đề cơ bản nhất để xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần là thông qua giáo dục, tuyên truyền, động viên mọi tầng lớp nhân dân. Trước hết phải tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành tư tưởng chủ đạo trong mọi tầng lớp nhân dân, thắm đượm tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

 


Đây là phương hướng cơ bản hàng đầu, là vấn đề có tính nguyên tắc của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong tình hình mới, cần tiếp tục quán triệt, thực hiện nhất quán nguyên tắc Ðảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang, sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII, Đảng ta xác định: “Luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[1]. Đồng thời, “thực hiện nghiêm, hiệu quả đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân; dựa vào dân “dân là gốc”; xây dựng “thế trận lòng dân”, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi”[2]. Chú trọng quán triệt, vận dụng đúng đắn mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp, khâu đột phá và tư tưởng chỉ đạo, phương châm, phương thức tiến hành nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc vào nghị quyết lãnh đạo nhiệm kỳ và hằng năm bảo đảm phù hợp với đặc điểm tình hình, yêu cầu nhiệm vụ của ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị mình làm cơ sở để tổ chức thực hiện.

Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chiến lược quan trọng như: Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia và chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên trên không gian mạng; Luật Quốc phòng, Sách trắng Quốc phòng, Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh, Luật Nghĩa vụ quân sự; các nghị quyết mới về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở các vùng kinh tế - xã hội trọng điểm của cả nước và các nghị định của Chính phủ về xây dựng khu vực phòng thủ... Cấp ủy, người đứng đầu các bộ, ngành Trung ương, địa phương và cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong lực lượng vũ trang cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới.

Tăng cường các biện pháp quản lý nhà nước, bảo đảm các hoạt động quân sự, quốc phòng, bảo vệ tổ quốc đúng phương hướng chính trị, theo tư duy, nhận thức mới của Ðảng, đúng pháp luật Việt Nam, luật pháp quốc tế và đạt hiệu quả thiết thực.

Tiếp tục hoàn thiện và tổ chức thực hiện có hiệu quả các cơ chế, quy chế, thông tư, hướng dẫn, quy định, nhằm cụ thể hóa chủ trương, đường lối, quan điểm quân sự, quốc phòng, bảo vệ tổ quốc của Ðảng trong thực tiễn, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc địa bàn, tổ quốc trong mọi tình huống.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương, khóa XIII (NQ số 44 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr.    .

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương, khóa XIII (NQ số 44 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr.    .

 

Những thách thức, khó khăn trong sự nghiệp cách mạng hiện nay

 


Hiện nay, trên thế giới tình hình sẽ tiếp tục diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Đảng ta nhận định: “Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn”[1]. Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII (Nghị quyết số 44), Đảng ta chỉ rõ: “Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm hình thành ngày càng rõ nét. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, toàn diện. Thế giới hình thành phân tuyến rõ hơn giữa một bên là Mỹ, các nước phương Tây, NATO và một bên là Nga, chiến tranh sắc tộc ở Trung Đông”[2]. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng gặp nhiều trở ngại, thách thức. Hợp tác, cạnh tranh đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, nhất là giữa các nước lớn ngày càng gia tăng. Kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng và suy thoái. Cạnh tranh chiến lược, chiến tranh thương mại, tranh giành các nguồn tài nguyên, thị trường, công nghệ, nhân lực chất lượng cao giữa các nước ngày càng quyết liệt.

Căng thẳng, xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, bạo loạn chính trị can thiệp lật đổ, khủng bố vẫn sẽ diễn ra gay gắt. Những vấn đề toàn cầu như bảo vệ hòa bình, an ninh xã hội, an ninh con người, an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh tài chính, an ninh mạng, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh... tiếp tục diễn biến phức tạp. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ, đứng trước nhiều thách thức mới.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, trong đó Đông Nam Á có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng, là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc, tiềm ẩn nhiều bất ổn. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Mỹ và Trung Quốc đẩy mạnh tập hợp lực lượng thông qua các sáng kiến, chiến lược để cạnh tranh, kiềm chế lẫn nhau, tiếp tục đe dọa đến độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững chế độ ở nước ta.

Ở trong nước, nền kinh tế phát triển chưa bền vững. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại có mặt còn gay gắt hơn, nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình vẫn là thách thức lớn. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Tình hình Biển Đông tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường. Cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân ta còn cam go, phức tạp, lâu dài; những đòi hỏi mới của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; hệ luỵ của biến đổi khí hậu; chất lượng dân số còn thấp và xu hướng già hóa dân số nhanh là những thách thức rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta trong thời gian tới.

Các thế lược thù địch tiếp tục thực hiện “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm cho quốc phòng, an ninh đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức. Chúng câu kết với các phần tử phản động, cơ hội chính trị trong nước chưa từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam, nhất là phá hoại nền tảng chính trị, tư tưởng, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ nhân dân với Đảng và Quân đội. Trước sự phát triển của khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ thông tin và truyền thông, xuất hiện nhiều loại hình chiến tranh mới như: chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng. Các hoạt động thu thập bí mật quốc gia, tình báo, gây nhiễu loạn thông tin và tấn công mạng đe dọa nghiêm trọng chủ quyền quốc gia trên không gian mạng đã và đang tác động lớn đến ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh của Việt Nam.

Những thời cơ, thuận lợi và thách thức, khó khăn đan xen đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.105.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương, khóa XIII (NQ số 44 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr.    .

Những yếu tố thuận lợi trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay

 


Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn của thời đại trong giai đoạn hiện nay, là lợi ích chung của các quốc gia dân tộc. Xu thế đa cực, đa trung tâm ngày càng rõ nét và trở thành xu thế chủ đạo, vai trò của các tổ chức khu vực trên các châu lục ngày càng gia tăng, tạo ra mối quan hệ đan xen, tăng cường hợp tác. Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các nước đẩy mạnh tiến trình hợp tác, liên kết trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh với những hình thức ngày càng đa dạng, sâu rộng, trên nhiều lĩnh vực, là động lực phát triển. Trong xu thế đó, các quốc gia ngày càng có sự gắn kết với nhau hơn, tạo ra những thời cơ mới, nhất là tạo ra sự đan xen về lợi ích giữa Việt Nam với các đối tác tạo nên sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc.

Cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra những thành tựu đột phá, tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội đang hình thành xã hội thông tin, nền sản xuất thông minh, kinh tế tri thức, thúc đẩy quá trình cải cách, đổi mới, sáng tạo và tái cấu trúc ở mọi quốc gia, dân tộc, khu vực và thế giới tạo ra điều kiện, thời cơ thuận lợi để Việt Nam đi tắt, đón đầu, phát triển đất nước, tạo ra tiềm lực mọi mặt gia tăng sức mạnh quốc phòng. Đặc biệt, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo ra điều kiện, cơ hội cho Việt Nam hiện đại hóa lực lượng vũ trang cả về tổ chức biên chế, con người, vũ khí, trang bị, kỹ thuật đủ sức đối phó và đánh thắng kẻ thù trong mọi tình huống.

Ở trong nước, những thành tựu của công cuộc đổi mới đã tạo ra thế và lực mới, sức mạnh tổng hợp quốc gia, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao. Đặc biệt, tình hình chính trị - xã hội ổn định, Đảng và Nhà nước tăng cường lãnh đạo và quản lý chiến lược bảo vệ Tổ quốc; Nhân dân Việt Nam có lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và ý thức tự hào dân tộc cao; lực lượng vũ trang nhân dân có truyền thống anh hùng, “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; thế trận chiến tranh nhân dân và nền quốc phòng toàn dân ngày càng vững chắc và mở rộng, giữ vững độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Quan hệ quốc tế ngày càng phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, tạo nên vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày một nâng cao.

TINH THẦN VIỆT NAM: Ở ĐÂU CÓ ĐỒNG BÀO, Ở ĐÓ CÓ LÁ CỜ TỔ QUỐC

 

 Hình ảnh gây xúc động nhất với nhóm phóng viên VTV5 khi tác nghiệp với bà con thôn Kho Vàng: Giữa khu vực lán trại tránh sạt lở được bà con dựng tạm đã có một lá cờ Tổ quốc hiên ngang tung bay trong gió.

 

Hiếm có dân tộc nào trên thế giới lại yêu quý lá cờ Tổ quốc như người dân Việt Nam. 

 

Dù ở giữa muôn vàn khó khăn và sự khắc nghiệt của thời tiết, lá cờ ngạo nghễ tung bay mang đến sức mạnh, sự khích lệ, cổ vũ cho đồng bào bước tiếp những ngày mới với niềm hi vọng và năng lượng. Bão lũ qua đi, cuộc sống sẽ tiếp tục tiếp diễn cùng những bình minh mới./.

Thực tiễn lịch sử trong bảo vệ Tổ quốc của nhân loại

 


Từ khi ra đời, các nước xã hội chủ nghĩa luôn phải đối mặt với sự tiến công chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917, Chính quyền Xô viết phải động viên mọi nguồn lực của đất nước chống lại và đập tan sự tiến công của liên minh 14 nước đế quốc câu kết với các thế lực tư sản, phong kiến phản động Nga. Những năm 30 - 40 của thế kỷ XX, để tránh đòn tiến công trực tiếp về quân sự, các nước phương Tây tìm mọi cách hướng lái cuộc chiến tranh phát xít vào Liên Xô. Thắng lợi của cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Liên Xô năm 1945 không chỉ bảo vệ toàn vẹn Tổ quốc xã hội chủ nghĩa mà còn tạo thành trì vững chắc cho sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Nhờ đó, chủ nghĩa phát xít và quân phiệt đã bị tiêu diệt, làm thất bại những âm mưu chiến lược chống phá, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực của chủ nghĩa đế quốc. 

Bên cạnh đó, chủ nghĩa đế quốc đã ra sức chạy đua vũ trang, tiến hành “Chiến tranh Lạnh”, chiến tranh xâm lược kết hợp với chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chống các nước xã hội chủ nghĩa. Trong những năm 50 - 60, từ kích động, tổ chức các cuộc phản loạn, mưu đồ lật đổ các nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu; các thế lực đế quốc trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược Triều Tiên, Cu Ba, Việt Nam. Cuối những năm 80, đầu những năm 90, chúng đã đẩy mạnh chiến lược chống phá toàn diện, làm sụp đổ các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô.

Trên đà “chiến thắng không cần chiến tranh”, từ những năm 90 thế kỷ XX đến nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiếp tục tổ chức những cuộc bạo động chính trị lớn khắp Trung Quốc, âm mưu cướp chính quyền ở Bắc Kinh; tiến công quân sự làm tan rã Liên bang Nam Tư; chia tách, chuyển hóa các nước cộng hòa thuộc Liên Xô (trong thế kỷ XX); chống phá phong trào cánh tả ở Mỹ Latinh. Hiện nay, chúng vẫn là tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ kết hợp với gây sức ép toàn diện trên mọi lĩnh vực, kể cả răn đe và tiến công quân sự hòng thủ tiêu hoặc chuyển hóa các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam. 

Thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, nhất là khi có Đảng lãnh đạo đã chứng minh tính tất yếu khách quan phải bảo vệ Tổ quốc. Suốt chiều dài lịch sử, dân tộc ta đã luôn luôn ở trong tư thế sẵn sàng chống ngoại xâm và phải liên tiếp đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, phần lớn là của những quốc gia lớn mạnh, những đế quốc cường bạo. Chỉ tính trong khoảng 22 thế kỷ, từ cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tần đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dân tộc ta đã buộc phải tiến hành 13 cuộc chiến tranh giữ nước hết sức quyết liệt. Trong đó, đã 10 lần chiến thắng, giữ vững nền độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia. Trong thời kỳ bị Bắc thuộc, Minh thuộc và Pháp thuộc, nhân dân ta đã tiến hành hàng trăm cuộc khởi nghĩa, dần chuyển hóa, phát triển thành chiến tranh giải phóng, đưa đến thắng lợi cuối cùng là giải phóng hoàn toàn đất nước.

Từ giữa thế kỷ thứ XIX đến những năm 70 của thế kỷ XX, đất nước ta liên tiếp bị các thế lực thực dân, đế quốc và phong kiến, phản động tay sai xâm lược, đô hộ và áp bức, nô dịch. Từ khi thống nhất đất nước (1975), các thế lực ngoại bang vẫn tiến hành xâm lược lãnh thổ, chống phá nền độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức chống phá Việt Nam chủ yếu bằng “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ, ly khai. Chúng không từ bỏ thủ đoạn thâm độc nào để chống phá toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, mưu toan gây mất ổn định chính trị, kết hợp với bạo loạn lật đổ, hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mặt khác, yêu cầu đặt ra hàng đầu là phải thường xuyên giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, thực hiện thắng lợi các mục tiêu của công cuộc đổi mới, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì thế, đi đôi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn đã chỉ ra, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là tất yếu khách quan, nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cách mạng Việt Nam hiện nay.

Âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá chủ nghĩa xã hội nói chung, cách mạng Việt Nam nói riêng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay

 


Từ khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ra đời cho đến nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ra sức chống phá toàn diện với những âm mưu, thủ đoạn hết sức hiểm độc. Tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản, thủ tiêu chủ nghĩa xã hội trên thế giới là bản chất và mục đích của chủ nghĩa chống cộng. Khi hệ thống xã hội chủ nghĩa hình thành, đứng đầu là Liên Xô chủ nghĩa chống cộng trở thành cơ sở tư tưởng của mọi chính sách thù địch, phản động của chủ nghĩa đế quốc. Với hệ tư tưởng thể hiện lợi ích của chủ nghĩa đế quốc nhất quán chống lại các lực lượng xã hội chủ nghĩa, dân chủ và tiến bộ, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc, nhất là các nước xã hội chủ nghĩa.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa chống cộng biểu hiện tập trung ở “chủ nghĩa Truman” với kế hoạch “Phục hưng châu Âu”, lấy viện trợ làm đòn bẩy cho chính sách chống Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa; đàn áp các tổ chức cộng sản ở châu Âu; chống phong trào giải phóng dân tộc; ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản, can thiệp và mở rộng chiến tranh ở Đông Dương.

Hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục chống phá các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cũng như các lực lượng tiến bộ theo xu hướng xã hội chủ nghĩa chủ yếu bằng “diễn biến hòa bình”, kết hợp bạo loạn lật đổ, kích động chủ nghĩa ly khai, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế để từng bước xâm nhập, chuyển hóa và khi có thời cơ tiến hành lật đổ, thậm chí không loại trừ tạo cớ để can thiệt quân sự, gây chiến tranh xâm lược. Các thế lực cường quyền, hiếu chiến đang tiếp tục thực hiện các chính sách quân sự, cạnh tranh chiến lược... đe dọa đến nền hòa bình và an ninh thế giới, khu vực nói chung, sự thống nhất, toàn vẹn Tổ quốc xã hội chủ nghĩa nói riêng.

Đối với Việt Nam, các thế lực chống cộng, thế lực thù địch ra sức chống phá cách mạng Việt Nam trên cả phương diện tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội. Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá chủ nghĩa xã hội hiện thực, thì chúng coi Việt Nam là trọng điểm, coi trọng thúc đẩy “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ, kết hợp với bạo loạn lật đổ, ly khai hòng lật đổ, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đưa Việt Nam phát triển theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, hoặc chế độ khác không phải xã hội chủ nghĩa.