Thứ Ba, 1 tháng 4, 2025

Sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân


Sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của một giai cấp là sự nghiệp của giai cấp đại biểu cho một phương thức sản xuất tiên tiến, đại diện cho tiến bộ xã hội để xác lập một hình thái kinh tế - xã hội mới phủ định cho hình thái đã lỗi thời. Trên cơ sở phân tích một cách khách quan, khoa học những điều kiện kinh tế của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng như những điều kiện chính trị, xã hội đã tạo nên các quan hệ giai cấp trong xã hội tư bản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy, đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân”[1].

Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xoá bỏ chế độ tư bản, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức bóc lột, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là quá trình kết hợp chặt chẽ và thống nhất biện chứng giữa hai sự nghiệp: cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đây là một quá trình lâu dài và phức tạp, thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Sự kết hợp chặt chẽ ấy diễn ra trong suốt quá trình cách mạng của giai cấp công nhân cả trong giai đoạn đấu tranh giành chính quyền và xây dựng xã hội mới. Quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa ở các nước đã chứng minh, ở đâu và khi nào mối quan hệ giữa cải tạo và xây dựng chưa được kết hợp chặt chẽ và giải quyết đúng đắn, thì ở đó và khi đó việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân gặp nhiều khó khăn, thậm chí còn thất bại.

Để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải tiến hành một quá trình đấu tranh cách mạng liên tục trải qua các giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất, giai cấp công nhân phải lật đổ chính quyền giai cấp tư sản, thiết lập chính quyền của giai cấp vô sản, phải “tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”[2] và “phải tự nhận lấy sứ mệnh đại biểu cho toàn bộ lợi ích của một dân tộc và do đó lãnh đạo dân tộc ấy về chính trị”[3]; Giai đoạn thứ hai, sau khi giành chính quyền, giai cấp công nhân phải lãnh đạo và tổ chức công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa để tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Chưa đạt được mục tiêu cuối cùng thì giai cấp công nhân cũng như toàn thể nhân dân lao động chưa được giải phóng hoàn toàn.

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân khác hẳn về chất so với sứ mệnh của các giai cấp khác trong lịch sử. Giai cấp công nhân làm cách mạng nhằm xoá bỏ hoàn toàn chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, nguồn gốc sinh ra mọi áp bức bóc lột, bất công xã hội, chứ không phải thực hiện sự thay thế chế độ tư hữu này bằng chế độ tư hữu khác, hay thay đổi hình thức bóc lột này bằng hình thức bóc lột khác như trước đây. Mục đích cách mạng của giai cấp công nhân là mang lại lợi ích cho tuyệt đại đa số nhân dân lao động, thực hiện sự nghiệp giải phóng cao cả: Giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Tất cả những phong trào lịch sử từ trước đến nay, đều là do thiểu số thực hiện, hoặc đều do mưu lợi ích cho thiểu số. Phong trào vô sản là phong trào độc lập của tuyệt đai đa số, mưu lợi cho tuyệt đại đa số”[4].

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là sự nghiệp cách mạng vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính quốc tế, kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ dân tộc với nghĩa vụ quốc tế. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mang tính quốc tế do địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân quy định và từ yêu cầu chống kẻ thù chung là chủ nghĩa tư bản quốc tế. Tuy nhiên, tính quốc tế của sứ mệnh lịch sử ấy phải được giai cấp công nhân thực hiện trước hết ở từng quốc gia dân tộc. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc. Đương nhiên là trước hết, giai cấp vô sản mỗi nước phải thanh toán xong giai cấp tư sản nước mình đã”[5]. Như vậy, sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân chỉ có thể hoàn thành nếu giải quyết đúng đắn các mối quan hệ dân tộc và quốc tế. Đây là mối quan hệ thống nhất biện chứng của quá trình phát triển trong phong trào công nhân quốc tế.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1994, tr. 393.

[2] C.Mác và Ph.Ăng ghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 624.

[3] C.Mác và Ph.Ăng ghen, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1993, tr. 530.

[4] C.Mác và Ph.Ăng ghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 611.

[5] C.Mác và Ph.Ăng ghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 613. 

Giai cấp công nhân trong thời đại ngày nay

 


Giai cấp công nhân là giai cấp những người lao động sản xuất trực tiếp hoặc gián tiếp trong các ngành công nghiệp thuộc các trình độ kỹ thuật khác nhau, mà địa vị kinh tế - xã hội tùy thuộc vào chế độ xã hội đương thời.Trong quá trình nghiên cứu về giai cấp vô sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ giai cấp công nhân như: Giai cấp vô sản, giai cấp lao động làm thuê, giai cấp công nhân, hay các thuật ngữ có nội dung hẹp hơn để chỉ công nhân trong các ngành khác nhau: công nhân nông nghiệp, công nhân công nghiệp, công nhân cơ khí, công nhân khai khoáng... Trong tác phẩm “Tình cảnh giai cấp lao động ở Anh”, Ph.Ăngghen đã viết: “tôi thường dùng những từ: người lao động hoặc công nhân (working men) và người vô sản, giai cấp công nhân, giai cấp không có của, giai cấp vô sản như những từ đồng nghĩa”[1]. Mặc dù có nhiều cách gọi khác nhau, song theo C.Mác và Ph.Ăngghen, có  hai tiêu chí cơ bản để phân biệt giai cấp công nhân với những người lao động khác.Về phương thức lao động, phương thức sản xuất:Giai cấp công nhân là những người lao động trực tiếp hoặc gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại. Đây là tiêu chí cơ bản xác định rõ tính chất nghề nghiệp và môi trường lao động của công nhân là các ngành công nghiệp có trình độ kỹ thuật khác nhau, từ thủ công đến cơ khí và trình độ rất cao hiện nay. Trong đó, lực lượng công nhân hiện đại gắn với nền đại công nghiệp là bộ phận cơ bản, hạt nhân của giai cấp công nhân và ngày càng phát triển. C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định: “Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”[2].

Hiện nay, khoa học và công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ, làm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng với tính chất xã hội hoá ngày càng cao, cơ cấu của nền sản xuất công nghiệp có sự thay đổi. Bên cạnh các ngành công nghiệp truyền thống, đã xuất hiện ngày càng nhiều các ngành sản xuất và dịch vụ mới. Cùng với công nhân của nền công nghiệp cơ khí, đã xuất hiện công nhân của nền công nghiệp với trình độ kỹ thuật cao ở các dây chuyền sản xuất tự động hoá, làm cho giai cấp công nhân cũng có sự phát triển mới về nghề nghiệp. Xét theo tiêu chí nghề nghiệp, những người lao động trong các ngành dịch vụ mà phần lớn là dịch vụ công nghiệp vẫn là công nhân. Như vậy, giai cấp công nhân hiện đại vẫn tồn tại và ngày càng phát triển chứ không hề mất đi trong điều kiện khoa học và công nghệ ngày càng phát triển mạnh mẽ.Về vị trí trong quan hệ sản xuất:Trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư. C.Mác và Ph.Ăngghen đặc biệt nhấn mạnh tiêu chí này, vì chính điều này khiến cho những người công nhân trở thành giai cấp đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản: “Giai cấp tư sản, tức là tư bản, mà lớn lên thì giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại - tức là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm được việc làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu lao động của họ tăng thêm tư bản cũng phát triển theo. Những công nhân ấy, buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hoá, tức là một món hàng đem bán như bất cứ một món hàng nào khác; vì thế họ phải chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường với mức độ như nhau”[3]. Mâu thuẫn cơ bản về lợi ích giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản không thể điều hòa và chỉ có thể được giải quyết bằng việc xóa bỏ chế độ bóc lột giá trị thặng dư trên cơ sở xác lập một quan hệ sản xuất mới mang tính chất xã hội hóa những tư liệu sản xuất chủ yếu.

Hiện nay, cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, cơ cấu, số lượng và chất lượng giai cấp công nhân đều có sự phát triển mới. Bên cạnh công nhân của nền công nghiệp cơ khí truyền thống đã xuất hiện công nhân trí thức của nền công nghiệp tự động hoá do việc áp dụng phổ biến khoa học và công nghệ hiện đại vào sản xuất. Do cơ cấu kinh tế trong nền sản xuất của xã hội tư bản phát triển, ngành dịch vụ được mở rộng, từ đó hình thành đông đảo công nhân dịch vụ. Trong xã hội tư bản hiện đại, xuất hiện một số công nhân có cổ phần trong các xí nghiệp tư bản, nhưng tình hình ấy không làm thay đổi một sự thật là toàn bộ tư liệu sản xuất cơ bản nhất, quyết định nhất đối với nền sản xuất tư bản vẫn nằm trong tay giai cấp tư sản, còn giai cấp công nhân về cơ bản vẫn không có tư liệu sản xuất, họ phải bán sức lao động cho giai cấp tư sản và bị bóc lột giá trị thặng dư với các hình thức ngày càng tinh vi.

Khác với giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa đã trở thành giai cấp cầm quyền và lãnh đạo công cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Họ là người làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu của nền sản xuất mới, cùng với nhân dân lao động hợp tác, lao động cho chính mình. Tuy nhiên, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, còn sở hữu tư nhân thì một bộ phận công nhân ít nhiều vẫn bị những chủ sở hữu bóc lột giá trị thặng dư.

Những quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về hai tiêu chí cơ bản của giai cấp công nhân đến nay vẫn giữ nguyên giá trị, vẫn là cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu giai cấp công nhân hiện đại và làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân trong thời đại hiện nay.



[1] C.Mác và Ph.Ăng ghen, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 328.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 610.

[3] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 604.

 

Trách nhiệm người cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam trong học tập và nghiên cứu môn Chủ nghĩa xã hội khoa học

 


Việc nghiên cứu nắm vững lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học giúp mỗi người cán bộ quân đội thấm nhuần mục tiêu, lý tưởng cách mạng, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở giác ngộ lý tưởng cách mạng, nắm được quy luật vận động, phát triển tất yếu của lịch sử, từ đó tuyệt đối tin tưởng vào sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, tin tưởng vào con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đó tự nguyện, tự giác, chấp hành tốt đường lối chủ chương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội, quyết tâm xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, nhất là xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.

Mỗi một cán bộ quân đội phải luôn ra sức tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc và sự toàn thắng của chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới. Đúng như Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc.

Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội. Do đó, cán bộ Quân đội cần làm tốt việc thường xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tích cực tham gia đấu tranh phê phán các quan điểm phản động, sai trái, “phi chính trị hóa” quân đội, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội

Ý nghĩa về mặt thực tiễn của chủ nghĩa xã hội khoa học


Nghiên cứu nắm vững chủ nghĩa xã hội khoa học giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên có cơ sở để tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân thực hiện đường lối, quan điểm, chính sách, chiến lược, sách lược cách mạng của Đảng, Nhà nước ta một cách tự giác. Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học để có căn cứ nhận thức  khoa học, phân tích đúng đắn và đấu tranh có hiệu quả với những nhận thức sai lệch, những luận điệu tuyên truyền chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta; chống chủ nghĩa xã hội, đi ngược lại xu thế và lợi ích của nhân dân, dân tộc và nhân loại tiến bộ. Có cơ sở để đấu tranh chống mọi luận điệu phản động, phản khoa học của chủ nghĩa chống cộng và chủ nghĩa cơ hội, xét lại dưới mọi màu sắc, nhất là những biểu hiện “tự chuyển biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học giúp hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học, luôn lạc quan, tin tưởng vào sự tất thắng của sự nghiệp đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội khoa học là cơ sở để khẳng định việc sự cần thiết của việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống mọi biểu hiện cơ hội chủ nghĩa, dao động, thoái hóa, biến chất trong đảng và cả xã hội, giáo dục lý luận chính trị - xã hội một cách cơ bản khoa học tức là ta tiến hành củng cố niềm tin thật sự đối với chủ nghĩa xã hội cho mọi cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên, phụ nữ và nhân dân.

Góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và mở rộng hợp tác quốc tế; tiến hành hội nhập quốc tế, xây dựng “kinh tế tri thức”, xây dựng nền kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang là những vận hội lớn, đồng thời cũng có những thách thức lớn đối với nhân dân ta. Đó là trách nhiệm lịch sử rất nặng nề và vẻ vang cả thế hệ trẻ đối với sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa trên đất nước ta.

Chủ nghĩa xã hội khoa học góp phần quan trọng trong việc giáo dục niềm tin khoa học cho Nhân dân vào mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Niềm tin khoa học là sự thống nhất giữa nhận thức, tình cảm, ý chí và quyết tâm trở thành động lực tinh thần hướng con người đến hoạt động thực tiễn một cách chủ động, tự giác, sáng tạo và cách mạng 

Cơ sở lý luận ra đời hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa

 


Sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa ra đời, phủ định biện chứng hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, là kết quả tất yếu của việc giải quyết các mâu thuẫn về kinh tế và chính trị - xã hội trong lòng xã hội tư bản.

Về kinh tế, C.Mác đã “giải phẫu” xã hội tư bản chủ nghĩa, tìm ra các quy luật vận động của nó, đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất. Khi tìm hiểu căn cứ để C.Mác dự đoán về sự phát triển tương lai của chủ nghĩa cộng sản trong tiến trình lịch sử, V.I.Lênin chỉ ra rằng C.Mác xuất phát từ chỗ là chủ nghĩa cộng sản hình thành từ chủ nghĩa tư bản, phát triển lên từ chủ nghĩa tư bản, là kết quả tác động của một lực lượng xã hội do chủ nghĩa tư bản sinh ra - giai cấp công nhân hiện đại. Khi lực lượng sản xuất càng phát triển và mang tính xã hội hoá cao thì quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất ngày càng trở nên lạc hậu, cản trở, kìm hãm sự phát triển của nó bấy nhiêu, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra, trong xã hội đầy đối kháng giai cấp đó, con người ngày càng chinh phục tự nhiên, cải tạo tự nhiên bao nhiêu thì tình trạng người áp bức, bóc lột người càng được mở rộng bấy nhiêu. Điều đó làm cho mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hoá với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển ngày càng gay gắt. Việc giải quyết mâu thuẫn này là nguồn gốc sâu xa của sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Về chính trị - xã hội, mâu thuẫn kinh tế cơ bản đó của chủ nghĩa tư bản được thể hiện trên lĩnh vực xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động với giai cấp tư sản. Giai cấp công nhân, nhân dân lao động là lực lượng chủ yếu tạo ra của cải vật chất, quyết định đến sự phát triển của xã hội; tuy nhiên, họ lại chịu sự thống trị và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư. Mặt khác, dưới chủ nghĩa tư bản, sự suy đồi về đạo đức, sự giàu có, thừa thãi của số ít giai cấp tư sản đã đẩy số đông giai cấp công nhân và nhân dân lao động vào cảnh bần cùng hóa. Vì vậy, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động với giai cấp tư sản ngày càng trở nên sâu sắc, không thể điều hoà. Cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp, giai cấp công nhân phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng; cuộc đấu tranh của họ từng bước chuyển từ tự phát sang tự giác. Như vậy: “Những vũ khí mà giai cấp tư sản đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì ngày nay quay lại đập vào chính ngay giai cấp tư sản. Nhưng giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình; nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những công nhân hiện đại, những người vô sản”1.

Sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là kết quả tất yếu của việc giải quyết các mâu thuẫn về kinh tế, xã hội. Song, thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa về chính trị là điều kiện tiên quyết, bởi nó giúp giai cấp công nhân, nhân dân lao động có được công cụ chính quyền để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.



1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2002, tr. 605.

Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

 


Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua nhiều giai đoạn nối tiếp nhau từ thấp đến cao. Trong đó, phép biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xét cho cùng là động lực thúc đẩy sự vận động, phát triển của xã hội và đưa đến sự chuyển biến từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn. Đến nay, loài người đã trải qua các hình thái kinh tế - xã hội: Cộng sản nguyên thủy, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Tư bản chủ nghĩa và đang bước vào giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là khái niệm chỉ một giai đoạn trong nấc thang phát triển của xã hội; trong đó, lực lượng sản xuất phát triển đạt đến trình độ xã hội hóa rất cao, quan hệ sản được xây dựng dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng thể hiện ý chí, quyền lợi của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động.

Với thắng lợi của giai cấp công nhân trong cuộc cách mạng lật đổ chính quyền các giai cấp bóc lột và bắt tay cải tạo xã hội cũ, từng bước hình thành những quan hệ xã hội, với chuẩn mực của chủ nghĩa xã hội, thì hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa cũng hình thành để thay thế cho hình thái kinh tế - xã hội tư bản và tiền tư bản. Xã hội cộng sản chủ nghĩa là một xã hội phát triển cao của lịch sử xã hội loài người. Đó là một hình thái kinh tế - xã hội ưu việt, tiến bộ nhất trong lịch sử.

Vai trò, trách nhiệm của Quân đội đối với cách mạng Việt Nam


Quân đội nhân dân Việt Nam là một lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Để hoàn thành tốt mọi chức năng, nhiệm vụ của một đội quân chiến đấu, công tác và lao động sản xuất; góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, người cán bộ Quân đội cần thường xuyên làm tốt công tác giáo dục cho các quân nhân thấy rõ tính đúng đắn, những khó khăn, thuận lợi của sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay và những giai đoạn tiếp theo. Đấu tranh không khoan nhượng với những tư tưởng sai trái phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Bác Hồ, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn.

Mỗi quân nhân phải ra sức tu dưỡng phẩm chất đạo đức, năng lực để sẵn sàng nhận và hoàn thành cương vị, chức trách được giao, góp phần bảo vệ vững chắc chế độ xã hội, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong mọi tình huống. Thực hiện có hiệu quả công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở nơi đóng quân, giúp đỡ nhân dân địa phương hoàn thành tốt các mục tiêu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Chú trọng xây dựng Quân đội theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng, đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Đối với người nhân viên chuyên môn kỹ thuật trong Quân đội, cần chủ động nhiên cứu, quản lý, khai thác, sử dụng, nâng cao chất lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật phục vụ cho công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và thực hiện các nhiệm vụ khác. Thường xuyên rèn luyện lập trường tư tưởng vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, năng lực chuyên môn giỏi; tư duy độc lập, sáng tạo; có trình độ tiếp thu những tiến bộ của ngành kỹ thuật quân sự, ứng dụng có hiệu quả vào thực tiễn; say mê nghiên cứu khoa học - công nghệ, tích cực trong thực hiện nhiệm vụ. Xây dựng tinh thần ham học hỏi, cầu thị tiến bộ, tích cực học tập, rèn luyện, đổi mới phương pháp tác phong công tác, gương mẫu trong công việc và cuộc sống; luôn chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, nề nếp, chế độ, quy định của đơn vị. Tích cực tham gia các hoạt động quân sự, quản lý và bảo dưỡng thiết bị quân sự, phát triển và cải tiến công nghệ quân sự và thực hiện các tác vụ kỹ thuật quan trọng để đảm bảo sự hoạt động hiệu quả của Quân đội. 

Tính tất yếu chuyển biến từ cách mạng dân chủ nhân dân lên cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

 


Với đường lối cách mạng đúng đắn, giai cấp công nhân Việt Nam thông qua chính đảng của mình đã lãnh đạo nhân dân lao động làm cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đánh dấu thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thiết lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam thực hiện chiến lược vừa kháng chiến vừa kiến quốc, đã lập nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, chấm dứt gần một trăm năm đô hộ của thực dân Pháp. Sự vận dụng tài tình lý luận cách mạng không ngừng của Đảng ta trong giai đoạn 1954 - 1975 là lãnh đạo hai miền Nam, Bắc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng, đó là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc. Sau thắng lợi năm 1975, đất nước thống nhất, Đảng ta xác định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cả nước, đó là thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vào những năm 90 của thế kỷ XIX, với sự kiện sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, nhưng Đảng ta kiên định thể hiện rõ tư tưởng cách mạng không ngừng, quyết tâm không lùi bước, tiếp tục đường lối đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Kết quả của 35 năm đổi mới, “chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới... Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”[1].

Hiện nay, trong bối cảnh quốc tế và trong nước đang đặt ra những thời cơ, những thách thức, Đảng ta luôn đưa ra đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn, giải quyết tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. “Những thành tựu đổi mới tại Việt Nam đã chứng minh rằng, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế[2]. 



[1] Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.34.

[2] Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.33.

Sự kết hợp giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó, điều kiện khách quan giữ vai trò quyết định, nhân tố chủ quan giữ vai trò rất quan trọng. Nếu nhân tố chủ quan đã sẵn sàng nhưng điều kiện khách quan chưa chín muồi thì tiến hành cách mạng sẽ gặp nhiều tổn thất. Ngược lại, khi điều kiện khách quan của sự cải biến xã hội đã chín muồi nhưng nhân tố chủ quan chưa chuẩn bị đầy đủ thì tiến hành cách mạng sẽ gặp khó khăn, thậm chí thất bại. Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan kết hợp biện chứng làm xuất hiện tình thế cách mạng và thời cơ cách mạng.

Tình thế cách mạng là kết quả của sự vận động tổng hợp của những mâu thuẫn khách quan về kinh tế, chính trị, xã hội; là độ chín muồi của những điều kiện khách quan để giai cấp vô sản giành chính quyền. Tình thế cách mạng xuất hiện khi giai cấp thống trị không thể thống trị như trước, giai cấp bị áp bức không thể tiếp tục cuộc sống như trước, giai cấp lãnh đạo cách mạng đã sẵn sàng. Nhưng để tình thế cách mạng xuất hiện cần phải có sự tác động của nhân tố chủ quan: “Không phải tình thế cách mạng nào cũng làm nổ ra cách mạng, mà chỉ có trường hợp là cùng với tất cả những thay đổi khách quan nói trên lại có thêm một thay đổi chủ quan, tức là: giai cấp cách mạng có khả năng phát động những hành động cách mạng có tinh chất quần chúng khá mạnh mẽ để đập tan (hoặc lật đổ) chính phủ cũ, là chính phủ ngay cả trong thời kỳ có những cuộc khủng hoảng, cũng sẽ không bao giờ “đổ” nếu không đẩy cho nó “ngã”[1].

Thời cơ cách mạng là tình thế cách mạng xuất hiện trong thời điểm nhất định có lợi nhất cho việc chủ động phát huy mọi sức mạnh để cách mạng giành thắng lợi. Thời cơ cách mạng là cơ hội thuận lợi nhất, tốt nhất, chín muồi nhất, trong một thời điểm nhất định có thể đưa đến sự bùng nổ và thắng lợi của cách mạng; là lúc tình thế cách mạng phát triển đến đỉnh cao đặt ra vấn đề phải chuyển chính quyền từ tay giai cấp lỗi thời sang tay giai cấp cách mạng, thực hiện bước ngoặt chính trị của cách mạng. Ở trong nước, thời cơ cách mạng xuất hiện khi kẻ thù tỏ ra hoang mang cao độ, nội bộ giai cấp thống trị bị phân hoá, quần chúng trung gian đã ngả về cách mạng, đội tiền phong của giai cấp công nhân đã chuẩn bị sẵn sàng. Ở ngoài nước, thời cơ cách mạng xuất hiện khi phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân quốc tế sẵn sàng ủng hộ cả về vật chất và tinh thần, nhân dân tiến bộ trên thế giới đấu tranh ngăn cản các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hiếu chiến tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng trong nước bùng nổ và giành thắng lợi.



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 26, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 269.

Nhân tố chủ quan của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Nhân tố chủ quan của cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự lớn mạnh, trưởng thành về chính trị của giai cấp công nhân; sự tổ chức ra chính đảng của giai cấp công nhân và sự hình thành, phát triển của liên minh các giai cấp, tầng lớp lao động dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua chính đảng của nó - đảng cộng sản. Giai cấp công nhân là bộ phận quan trọng của lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa cao, bị quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa kìm hãm; bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất, giai cấp công nhân có nhu cầu bức thiết giành quyền làm chủ tư liệu sản xuất. Là giai cấp lao động bị áp bức, bóc lột nhưng giai cấp công nhân có sự khác biệt với các giai cấp lao động bị áp bức, bóc lột khác ở sứ mệnh lịch sử mang tính thời đại của nó. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, giai cấp công nhân ngày càng trưởng thành về mọi mặt, thông qua chính đảng của mình giác ngộ sâu sắc hơn vai trò, sứ mệnh lịch sử thế giới.

Giai cấp công nhân trở thành trung tâm biểu hiện lợi ích của tất cả các giai cấp và tầng lớp xã hội bị áp bức, bóc lột trong xã hội tư bản. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản phát triển từ thấp đến cao, giúp giai cấp công nhân nhận rõ sự thống nhất căn bản về lợi ích giữa những người cùng giai cấp và sự đối lập căn bản về lợi ích của họ với lợi ích của giai cấp tư sản: “Lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp đó hiện nay đã phát triển đến giai đoạn trong độ giai cấp bị bóc lột và bị áp bức tức là giai cấp vô sản không còn có thể tự giải phóng khỏi ách của giai cấp bóc lột và áp bức mình, nếu không đồng thời và vĩnh viễn giải phóng toàn xã hội khỏi ách áp bức, bóc lột, khỏi sự phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp[1]. Giai cấp nông dân, trí thức và quần chúng lao động thấy rõ sự phản động của giai cấp tư sản và vai trò của giai cấp công nhân, từng bước ngả về phía cách mạng, sẵn sàng tham gia và hy sinh vì cuộc cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 517.

Ý nghĩa nghiên cứu môn Chủ nghĩa xã hội khoa học về mặt lý luận

 


Nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội khoa học giúp hiểu được chủ nghĩa Mác - Lênin một cách toàn diện, cân đối, đầy đủ và hoàn chỉnh. Đồng thời, nghiên cứu, vận dụng, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học làm cho triết học, kinh tế chính trị học Mác - Lênin không bị chệch hướng chính trị - xã hội, trước hết và chủ yếu là chệch hướng bản chất, mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, giải phóng xã hội và con người khỏi các chế độ tư hữu, áp bức, bất công, chiến tranh, nghèo nàn lạc hậu mà lịch sử nhân loại đã từng chứng kiến.

Nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học giúp nắm vững được quy luật vận động tất yếu của lịch sử, vai trò sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân, từ đó củng cố lập trường cách mạng, vững tin vào tương lai tươi sáng của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, mặc dù hiện tại chủ nghĩa xã hội hiện thực đang lâm vào khủng hoảng, thoái trào, lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, phức tạp song nhân loại cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử, là tương lai của loài người.

Nghiên cứu những nguyên lý, phạm trù của chủ nghĩa xã hội khoa học giúp chúng ta có cơ sở lý luận khẳng định tính đúng đắn về con đường cách mạng Việt Nam mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn, đó là con đường cách mạng vô sản đã giúp Nhân dân ta, đất nước ta đạt được thành quả to lớn như ngày hôm nay.

Chủ nghĩa xã hội khoa học cung cấp cơ sở lý luận để nhận thức rõ quan điểm, chủ trương, đường lối chiến lược, sách lược và các biện pháp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong từng giai đoạn lịch sử, nhất là những vấn đề về đấu tranh giai cấp ở Việt Nam, về cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, vấn đề liên minh giai cấp

Phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học

 


Là một bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học sử dụng phương pháp luận chung nhất của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu, luận giải những quy luật, tính quy luật xã hội - chính trị của quá trình phát sinh, phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Vì vậy, khi nghiên cứu, xem xét các hiện tượng chính trị - xã hội phải luôn quán triệt quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển. Quá trình phân tích các hiện tượng chính trị - xã hội phải gắn với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội nhất định. Phải tôn trọng khách quan, xuất phát từ điều kiện khách quan để tìm ra con đường, biện pháp cách mạng đúng đắn trong cải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Kiên quyết chống mọi biểu hiện chủ quan, duy ý chí, bất chấp quy luật khách quan; chủ động đề phòng, ngăn chặn khuynh hướng giáo điều, dập khuôn máy móc. Khi nghiên cứu phải kết hợp giữa cái chung với cái riêng, cái phổ biến với cái đặc thù. Phương pháp kết hợp lịch sử - lôgíc. Trên cơ sở những tư liệu thực tiễn của các sự thật lịch sử mà phân tích để rút ra những nhận định, khái quát về lý luận có kết cấu chặt chẽ, khoa học - tức là rút ra được lôgíc của lịch sử, không dừng lại ở sự liệt kê các sự kiện lịch sử. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học đã là những tấm gương mẫu mực về sử dụng phương pháp kết hợp lịch sử - lôgíc khi phân tích lịch sử nhân loại, đặc biệt là về sự phát triển các phương thức sản xuất để rút ra được lôgíc của quá trình vận động, biến đổi của lịch sử để chỉ rõ rằng sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản và thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản là tất yếu như nhau. Phương pháp kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn. Là một học thuyết chính trị - xã hội ra đời trên mảnh đất hiện thực của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Do vậy, việc tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển lý luận là nguyên tắc quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng. Nếu thoát ly thực tiễn tình hình kinh tế, xã hội, giai cấp và đấu tranh giai cấp trong những giai đoạn lịch sử nhất định thì những nghiên cứu của Chủ nghĩa xã hội khoa học sẽ trở nên chung chung, trừu tượng, tư biện và không có sức thuyết phục, không mang lại hiệu quả, thậm chí phải trả giá đắt cho những quyết sách chính trị sai lầm từ suy diễn chủ quan. Do đó, phải từ thực tiễn chính trị - xã hội rút ra những kết luận về lý luận để từ đó quay lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Đồng thời, mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản phải bám sát cuộc sống và tình hình chính trị - xã hội trong nước và quốc tế, tức là phải có cơ sở lý luận, thực tiễn khoa học. Phương pháp khảo sát và phân tích về mặt xã hội - chính trị  dựa trên các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể.  Khi nghiên cứu một xã hội cụ thể, đặc biệt là trong điều kiện của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, phải luôn nhạy bén về chính trị trước tất cả các hoạt động và quan hệ xã hội. Trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp thì mọi hoạt động, quan hệ xã hội đều có nhân tố chính trị chi phối, nhưng nó lại có vẻ “đứng đằng sau hậu trường” (thậm chí cố tình che đậy như trong các đảng và chính phủ tư sản cầm quyền). Không chú ý phương pháp khảo sát và phân tích về mặt xã hội - chính trị, không có nhạy bén chính trị và lập trường - bản lĩnh chính trị vững vàng thì dễ mơ hồ, nhầm lẫn, sai lệch. Khi nghiên cứu các lĩnh vực của đời sống xã hội đều dưới góc độ chính trị - xã hội, phải tiếp thu có chọn lọc những giá trị của quá khứ và của thời đại. Các phương pháp có tính liên ngành. Là khoa học thuộc nhóm các khoa học xã hội và nhân văn, chủ nghĩa xã hội khoa học sử dụng các phương pháp liên ngành như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, điều tra xã hội học, sơ đồ hoá, mô hình hóa… để nghiên cứu những khía cạnh chính trị - xã hội của các mặt hoạt động trong xã hội có giai cấp, đặc biệt là trong chủ nghĩa tư bản và trong chủ nghĩa xã hội. Sư dụng phương pháp này giúp cho việc khái quát lý luận có cơ sở vững chắc dựa trên những dữ kiện, những công trình điều tra, khảo sát, những số liệu thống kê, thăm dò dư luận

Tính tất yếu của cuộc cách mạng dân chủ nhân dân ở Việt Nam.

 


Vấn đề giải phóng đất nước khỏi áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân, phong kiến luôn là vấn đề cấp bách và là nguyện vọng thiết tha của nhân dân ta. Ngay từ khi thực dân Pháp vào xâm lược nước ta, truyền thống yêu nước của dân tộc lại trỗi dậy, đấu tranh chống lại ách đô hộ nhằm giành lại độc lập dân tộc. Nhiều phong trào cứu nước của các sĩ phu yêu nước, của những người con ưu tú của nông dân đã diễn ra với lòng căm thù giặc sâu sắc, phò vua cứu nước nhưng đều thất bại. Tất cả đều do nguyên nhân sâu xa vì thiếu một đường lối cách mạng đúng đắn, còn bị ảnh hưởng bởi tư tưởng của giai cấp, tầng lớp xuất thân đã lạc hậu, không phù hợp xu thế phát triển của thời đại mới.

Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước, tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, sớm nhận thức được con đường giải phóng dân tộc trong thời đại mới: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[1]. Từ đó, Người đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị những tiền đề để thành lập Đảng cộng sản Việt Nam vào ngày 03/2/1930. Ngay từ khi mới ra đời, trong Cương lĩnh chính trị tháng 10/1930, Đảng ta đã khẳng định phải tiến hành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[2].



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 30.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2002, tr. 2.

Lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin

 


Cách mạng không ngừng là quy luật về tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Thực chất của quy luật cách mạng không ngừng nhấn mạnh, cách mạng xã hội chủ nghĩa là một quá trình chuyển biến vừa mang tính liên tục, vừa mang tính giai đoạn nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng là xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới, giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, bất công: “Chủ nghĩa xã hội này là lời tuyên bố cách mạng không ngừng, là chuyên chính giai cấp của giai cấp vô sản, coi đó là giai đoạn quá độ tất yếu để đi đến xoá bỏ những sự khác biệt giai cấp nói chung[1]. Tính liên tục của cách mạng xã hội chủ nghĩa đó là giai cấp vô sản tiến hành cách mạng nhằm thực hiện hết mục tiêu này đến mục tiêu khác, hướng tới mục tiêu cuối cùng là xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới. Tính giai đoạn của cách mạng xã hội chủ nghĩa đó là trải qua những giai đoạn khác nhau, với điều kiện lịch sử, yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp riêng.

Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về lý luận cách mạng không ngừng. Thế kỷ XIX, giai cấp tư sản đang lên và giữ vai trò là giai cấp trung tâm của thời đại. Giai cấp vô sản đã ra đời song còn nhỏ bé, đang trong quá trình phát triển, tập hợp lực lượng. Giai cấp nông dân phần lớn còn ngả theo giai cấp tư sản. Từ đó, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa chưa thực sự đặt ra một cách trực tiếp. Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về tư tưởng cách mạng không ngừng là giai cấp công nhân phải tham gia vào cách mạng dân chủ tư sản để đánh đổ chế độ phong kiến, sau thắng lợi, tùy điều kiện lịch sử và thời cơ mà từng bước đấu tranh lật đổ giai cấp tư sản, giành chính quyền. Sự phát triển của cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân lãnh đạo vừa mang tính liên tục vừa mang tính giai đoạn và diễn ra không ngừng. Mục đích nhằm đẩy nhanh tiến trình cách mạng và rèn luyện, tập hợp lực lượng, tích luỹ kinh nghiệm cho giai cấp công nhân. Ở những nước mà giai cấp công nhân chỉ chiếm số ít trong dân cư thì trước hết cùng với giai cấp tư sản làm cách mạng dân chủ tư sản triệt để, rồi ngay sau đó tiến hành cách mạng vô sản, thực hiện xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Điều kiện để giai cấp công nhân thực hiện đường lối cách mạng không ngừng là phải giữ vững tính độc lập về tư tưởng, và liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác.

Quan điểm của V.I.Lênin về lý luận cách mạng không ngừng. Cuối của thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, giai cấp tư sản mất vị trí trung tâm lịch sử. Giai cấp công nhân đã trưởng thành, lớn mạnh về số lượng và chất lượng. Giai cấp nông dân nhận rõ kẻ thù là giai cấp tư sản và đồng minh là giai cấp công nhân. Từ đó, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa được đặt ra một cách trực tiếp. Ngoài ra, nhiều phần tử cơ hội chủ nghĩa, hữu khuynh đi theo con đường cách mạng cải lương, phủ nhận tư tưởng cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác. Kế thừa tư tưởng cách mạng không ngừng của C.Mác và Ph.Ăngghen trong hoàn cảnh lịch sử mới, quan điểm của V.I.Lênin về lý luận cách mạng không ngừng là giai cấp công nhân phải nắm quyền lãnh đạo cách mạng dân chủ tư sản (kiểu mới), sau đó tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, giữa hai cuộc cách mạng đó không có “bức tường” nào ngăn cách.

V.I.Lênin chỉ rõ từng loại hình cách mạng: Ở những nước đã qua cách mạng dân chủ tư sản, giai cấp công nhân kết hợp đấu tranh dân chủ với đấu tranh thực hiện mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Ở những nước chưa qua cách mạng dân chủ tư sản thì phải tiến hành cách mạng dân chủ tư sản, nhưng giai cấp công nhân phải giành quyền lãnh đạo, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội - tức là cách mạng dân chủ tư sản (kiểu mới). Ở các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc thì phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, sau đó tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều kiện để thực hiện chuyển biến từ cuộc cách mạng dân chủ tư sản (kiểu mới) lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, theo V.I.Lênin: một là, giai cấp công nhân thông qua chính đảng của mình tăng cường vai trò lãnh đạo của giai cấp trong cách mạng xã hội chủ nghĩa; hai là, phải tăng cường khối liên minh với giai cấp nông dân; ba là, chuyên chính dân chủ cách mạng của giai cấp công nhân, nông dân phải chuyển sang làm nhiệm vụ của chuyên chính vô sản. Hai giai đoạn cách mạng dân chủ tư sản và cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp vô sản lãnh đạo có quan hệ biện chứng với nhau. Cách mạng dân chủ tư sản càng triệt để càng tạo điều kiện cho cách mạng xã hội chủ nghĩa phát triển và giành thắng lợi: “Từ cách mạng dân chủ, chúng ta sẽ bắt đầu chuyển lên ngay và chính tùy theo lực lượng của chúng ta, lực lượng của giai cấp vô sản giác ngộ và có tổ chức, mà chuyển ngay lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta chủ trương làm cách mạng không ngừng, chúng ta quyết không dừng lại nữa chừng[2].



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 126.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 281.

Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng xã hội chủ nghĩa


Đảng Cộng sản Việt Nam, trong quá trình lãnh đạo cách mạng đã luôn luôn tôn trọng quy luật khách quan, đồng thời, phát huy năng động chủ quan. Do đó, cách mạnh đã giành được những thắng lợi quan trọng, nhất là trong thắng lợi trong đấu tranh giành chính quyền (1930-1945) và thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ xâm lược (1946-1975). Tuy nhiên, trong giai đoạn 1976-1986, do “chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội[1], đất nước đã rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Từ năm 1986 đến nay, với tư duy đổi mới, nhìn thẳng vào sự thật, Đại hội VI (1986) đã chỉ ra một trong các bài học kinh nghiệm quý báu đó là: “Xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan[2].

Đây là khởi nguồn cho những thắng lợi to lớn của sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay: “Qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó... tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo[3].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội - 1987, tr. 26.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội - 1987, tr. 28.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 25-26. 

Nhiệm vụ nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học

 


Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu sự vận động biến đổi trong chủ nghĩa tư bản, nhất là những biến đổi kinh tế - xã hội, chỉ ra những quy luật, tính quy luật chính trị - xã hội dẫn đến sự tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản và thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản gắn với sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân. Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu sự biến đổi của hiện thực đời sống chính trị - xã hội. Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu sự vận động, biến đổi của hiện thực đời sống chính trị - xã hội trên cả phương diện quốc tế, từng khu vực và từng quốc gia để đưa ra những kết luận khoa học, làm cơ sở đề ra chiến lược, sách lược của các đảng cộng sản và công nhân quốc tế. Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu điều kiện, cách thức, biện pháp để giai cấp công nhân cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mơi .Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những điều kiện, con đường, nguyên tắc, biện pháp để giai cấp công nhân cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, vạch ra những quy luật, tính quy luật chính trị - xã hội của quá trình xây dựng, bảo vệ tổ quốc; về mối quan hệ gắn bó với phong trào giải phóng dân tộc, phong trào dân chủ và phong trào xã hội chủ nghĩa trong quá trình cách mạng thế giới. Chủ nghĩa xã hội khoa học đấu tranh phê phán các quan điểm phản động sai trái, như tiến hành đấu tranh, phê phán, bác bỏ những trào lưu tư tưởng chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin và những thành quả cách mạng mà giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân đã giành được trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay, trước sự thay đổi nhanh chóng và phức tạp trong giai đoạn hiện nay của thời đại, Chủ nghĩa xã hội khoa học hướng vào nghiên cứu những biến đổi về đời sống hiện thực của thời đại, những tác động của nó đến các vấn đề xã hội - chính trị và cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân quốc tế, kịp thời đưa ra những kết luận khoa học, làm cơ sở để các đảng cộng sản và công nhân quốc tế đề ra chiến lược, sách lược; tiếp tục luận chứng việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; tìm tòi những điều kiện, con đường, biện pháp, nguyên tắc cơ bản chỉ đạo cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, làm cho giai cấp công nhân tiếp tục phát triển và giành được thắng lợi mới trong thế kỷ XXI.

Đấu tranh bảo vệ, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng, chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung trên mặt trận tư tưởng lý luận hiện nay đang diễn ra hết sức quyết liệt, các thế lực phản động tìm mọi cách, dùng mọi thủ đoạn nhằm phủ nhận vai trò của Đảng cộng sản, xoá bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực qua đó làm cơ sở để thủ tiêu tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong ý thức của mỗi người. Mặt khác, đời sống quốc tế có nhiều thay đổi so với trước đây. Vì vậy, đặt ra cho chủ nghĩa xã hội khoa học cần tiếp tục nghiên cứu những vấn đề mới như: vấn đề toàn cầu hoá; nền kinh tế tri thức; những biến đổi của mâu thuẫn thời đại; sự biến đổi của chủ nghĩa tư bản hiện nay; cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ số; chiến tranh hiện đại, qua đó có sự khái quát mới về mặt lý luận. Bàn về nhiệm vụ của Chủ nghĩa xã hội khoa học Ph.Ăngghen đã khái quát: “Nghiên cứu những điều kiện lịch sử và do đó, nghiên cứu chính ngay bản chất của sự biến đổi ấy, và bằng cách ấy làm cho giai cấp hiện nay đang bị áp bức và có sứ mệnh hoàn thành sự nghiệp ấy hiểu rõ được những điều kiện và bản chất sự nghiệp của chính họ - đó là nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội khoa học, sự thể hiện về mặt lý luận của phong trào vô sản”[1]



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 393.

Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đấu tranh giành và giữ chính quyền


Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bạo lực cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam phù hợp với từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng xác định rõ phương pháp cách mạng: “Phải bằng con đường bạo lực cách mạng chứ không thể là con đường cải lương thỏa hiệp - không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thỏa hiệp”[1]. Với phương châm ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn hình thức đấu tranh giành chính quyền bằng phương pháp dùng bạo lực cách mạng, giành chính quyền về tay nhân dân trong cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hình thức khởi nghĩa giành chính quyền trong phương pháp bạo lực cách mạng của quần chúng có sự thay đổi, đó là từ khởi nghĩa giành chính quyền chuyển thành kháng chiến. Đảng đã huy động đến mức cao nhất sức mạnh của quần chúng nhân dân và các lực lượng vũ trang để áp đảo kẻ thù. Cùng với việc xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, Đảng ta coi trọng việc xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng, trở thành một lực lượng tiến công có sức mạnh vô địch để chiến thắng kẻ thù. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 - đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã thể hiện bước phát triển cao nhất sự kết hợp giữa tiến công quân sự và sự nổi dậy của quần chúng nhân dân tạo thành sức mạnh tổng hợp đập tan sự phản kháng của kẻ thù, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Khi đất nước được hòa bình, thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta vẫn kiên định với tư tưởng bạo lực cách mạng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2002, tr. 4.