Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2026

ĐỪNG CÓ CÁI “THẺ NHÀ BÁO” MÀ PHÁT NGÔN PHỦ NHẬN LỊCH SỬ HÀO HÙNG CỦA DÂN TỘC!

Gửi anh Tiểu Vũ! 
Nghe nói anh nhận mình là nhà báo, tôi cũng ko rõ anh Tiểu Vũ có từng đc học và có học lịch sử hay chưa? Và bằng cách thần kỳ nào mà anh tốt nghiệp và có được thẻ nhà báo nữa. Nhưng nếu đã từng đi qua một nền giáo dục phổ thông tối thiểu của người Việt Nam, thì thật khó tin rằng anh có thể phát biểu một cách hời hợt và vô cảm thậm chí khuyết tật tư duy,: tầm nhìn như vậy về chiến tranh, về ký ức dân tộc, và về những con người đã sống, đã chết và để đất nước này có được hai chữ “HOÀ BÌNH - ĐỘC LẬP - TỰ DO” như ngày hôm nay.

Anh dường như đã quên, hoặc cố tình quên rằng lịch sử chiến tranh của Việt Nam không kết thúc vào năm 1975.

Anh nói rằng “đất nước đã hoà bình độc lập 50 năm rồi, nên những người sinh giai đoạn 1955 -1960 không có “đánh đấm” gì để mà nhắc tới chiến tranh”, là một cách nhìn vừa thiển cận, vừa xúc phạm ký ức lịch sử của cả một thế hệ.

Những người sinh ra trong giai đoạn đó lớn lên đúng vào thời kỳ ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Họ là lớp người trưởng thành trong bom đạn, nhiều người chưa kịp sống trọn tuổi trẻ đã phải ra chiến trường. Nhưng ngay cả khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc, đất nước này chưa từng có một nền hoà bình trọn vẹn, dài lâu như anh tưởng.

Bởi lịch sử Việt Nam không dừng lại ở mốc 30/4/1975.

Chỉ bốn năm sau, năm 1979, Việt Nam bước vào cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, một cuộc chiến khốc liệt, kéo dài nhiều năm, với những mặt trận mà đến hôm nay vẫn còn nhức nhối trong ký ức dân tộc. Trong đó, mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang) là một trong những chiến trường ác liệt nhất.

Từ năm 1984 đến 1989, Vị Xuyên trở thành “lò vôi thế kỷ”. Hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ đã ngã xuống chỉ để giữ từng điểm cao mang những con số khô khốc: 468, 685, 772… Có những đơn vị thương vong tới 70 - 80%. Có những người lính ra đi không để lại tên, hài cốt còn nằm lại trong lòng núi đá cho đến tận hôm nay.

Những người sinh năm 1955 - 1960 khi ấy đang ở độ tuổi sung sức nhất của đời người. Họ không “đánh đấm bằng mồm”, mà trực tiếp cầm súng, trực tiếp nằm trong chiến hào, trực tiếp đối diện cái chết, trong một cuộc chiến mà suốt nhiều năm sau đó không được nhắc tới một cách đầy đủ và công bằng.

Chiến tranh đối với họ không phải “câu chuyện để kể cho vui”, mà là ký ức không thể quên, và cũng không có quyền quên.

Ngay từ khi sinh ra, những đứa trẻ Việt Nam đã được nuôi dưỡng bằng ký ức đó, không phải bằng thù hận, mà bằng lòng biết ơn và tự hào. Trong lời ru của bà, của mẹ, chiến tranh và đất nước đã hiện diện rất tự nhiên:

“À ơi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng”.

Hay:

“Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”

Những câu ca dao ấy không chỉ nói về gian khó, mà nói về tinh thần cộng đồng, về sự hy sinh, về lý do vì sao người Việt Nam không thể coi chiến tranh như một câu chuyện phiếm.

Lịch sử Việt Nam không phải lịch sử của những dân tộc chưa từng bị xâm lược. Đó là lịch sử của một dân tộc nhỏ bé nhưng liên tục phải đứng lên để tồn tại. Vì thế, chiến tranh trong ký ức Việt Nam không phải là sự hiếu chiến, mà là tự vệ, là sinh tồn, là giữ lấy quyền làm người trên mảnh đất của mình.

Việc nhắc lại chiến tranh không phải để khoe khoang hay để “đánh đấm bằng mồm”, mà để nhắc rằng hoà bình hôm nay không tự nhiên mà có. Nó được đổi bằng xương máu, bằng tuổi trẻ, bằng những thế hệ không kịp sống trọn đời người.

Nếu coi việc nhắc đến chiến tranh là “ra rả”, thì có lẽ vấn đề không nằm ở những người từng đi qua chiến tranh, mà nằm ở sự đứt gãy ký ức lịch sử của một bộ phận người hôm nay, những người hưởng thụ hoà bình nhưng lại coi thường cái giá của nó.

Và cuối cùng, câu hỏi đặt ra là: anh Tiểu Vũ có thực sự đc thẩm thấu mạch văn hoá - lịch sử của dân tộc này hay chưa ? Bởi với bất kỳ người Việt Nam nào, thì ký ức chiến tranh không phải là thứ để chế giễu, càng không phải là thứ để phủi tay cho xong. Đó là phần máu thịt của lịch sử, và cũng là nền móng của hoà bình hôm nay.

Hoà bình không bắt đầu từ sự lãng quên. Hoà bình bắt đầu từ sự hiểu biết và tôn trọng quá khứ. 

Nhớ cho kỹ nhé anh Vũ nếu là con người thì cần phải biết:
"SỐNG VÌ MỒ MẢ - KHÔNG AI SỐNG BẰNG CẢ BÁT CƠM".

Chỉ YÊU CẦU anh không được dùng thứ ngôn từ của người làm báo mà lại hành xử như kẻ tung cảm xúc, dẫn dắt đám đông, lấy sự lãng quên làm lập luận. Vì khi anh nhận mình là nhà báo thì ắt khác với những kẻ thiếu trí tuệ, vô năng về nhận thức.

Chiến tranh không phải trò đùa để mỉa mai, ký ức dân tộc không phải công cụ để câu like câu view qua câu chữ. 
Ai coi thường lịch sử thì có thể được vài tràng vỗ tay rẻ tiền, nhưng không bao giờ có tư cách đứng chung hàng với những người LÀM NGHỀ TỬ TẾ.
Lịch sử ở đó. Máu xương ở đó.
Vấn đề chỉ là: anh có đủ kiến thức và bản lĩnh để đối diện hay không mà thôi! 
Thân ái!

Môi trường ST.

VỀ QUAN ĐIỂM CHO RẰNG VUA GIA LONG LÀ NGƯỜI “CÓ CÔNG” VỚI LỊCH SỬ DÂN TỘC!

     Trong những năm gần đây, xuất hiện ý kiến cho rằng vua Gia Long là người có công lớn trong lịch sử Việt Nam vì đã thống nhất đất nước sau thời kỳ phân tranh. Tuy nhiên, quan điểm này không phù hợp với lập trường sử học cách mạng và trái ngược rõ ràng với nhận định nhất quán của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cũng như của Đảng Cộng sản Việt Nam qua nhiều thời kỳ.

Nguyễn Ái Quốc đã nhiều lần khẳng định: việc Gia Long giành được ngai vàng không gắn với sự nghiệp độc lập dân tộc mà gắn liền với việc cầu viện và dựa dẫm vào thế lực thực dân phương Tây. Trong các tác phẩm viết từ năm 1919 đến 1944, Người chỉ rõ rằng Gia Long vì mục tiêu cá nhân đã “rước Tây vào nhà”, mở đầu cho quá trình xâm nhập, can thiệp và cuối cùng là xâm lược của thực dân Pháp. Việc thống nhất đất nước bằng con đường đó không thể được xem là công lao đối với dân tộc, bởi nó đặt nền móng cho thảm họa mất nước kéo dài gần một thế kỷ.

Trong diễn ca Lịch sử nước ta (1942), Nguyễn Ái Quốc phê phán Gia Long bằng những hình ảnh dân gian quen thuộc như “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi giày mả tổ”, phản ánh cách nhìn của nhân dân và của sử học cách mạng đối với hành vi cầu ngoại viện. Đồng thời, Người cũng chỉ rõ sự nối tiếp trách nhiệm lịch sử của triều Nguyễn, đặc biệt dưới thời Tự Đức, khi các hiệp ước đầu hàng và nhượng đất cho Pháp lần lượt được ký kết từ năm 1862, dẫn đến việc mất toàn bộ Nam Kỳ, rồi Trung Kỳ và Bắc Kỳ.
Quan điểm ấy không phải là sự phủ nhận toàn bộ vương triều Nguyễn một cách giản đơn. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh luôn đánh giá lịch sử một cách phân minh: phê phán nghiêm khắc những vua quan đầu hàng, bán nước, nhưng đồng thời ghi nhận và biểu dương tinh thần yêu nước, chống Pháp của các vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân. Điều này cho thấy tiêu chí đánh giá của Người không phải là dòng họ hay vương triều, mà là lập trường đối với độc lập dân tộc và lợi ích của nhân dân.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các văn kiện quan trọng của Đảng qua các thời kỳ đều thống nhất khẳng định: triều đình nhà Nguyễn, đặc biệt là giai đoạn từ Gia Long đến Tự Đức và Bảo Đại, đã từng bước lệ thuộc, đầu hàng và làm tay sai cho thực dân Pháp. Việc đề cao Gia Long như một “người có công” vì thống nhất đất nước, trong khi bỏ qua hoặc làm nhẹ hành vi cầu viện ngoại bang và hậu quả lịch sử nghiêm trọng của nó, là cách tiếp cận phiến diện, tách rời vấn đề thống nhất lãnh thổ khỏi yêu cầu tối thượng là độc lập dân tộc.

Nhiều nhà sử học cách mạng uy tín như Trần Văn Giàu, Văn Tạo đã khẳng định rõ: sự thống nhất đất nước của phong trào Tây Sơn gắn liền với độc lập và chủ quyền dân tộc, còn sự thống nhất của Gia Long là sự thống nhất lệ thuộc, trả giá bằng chủ quyền và toàn vẹn quốc gia. Hai sự kiện này không thể đánh đồng và càng không thể dùng kết quả hình thức để biện minh cho bản chất chính trị - lịch sử của quá trình.

Vì vậy, việc một số người hiện nay cố gắng “xét lại”, tôn vinh Gia Long như một nhân vật có công lớn với dân tộc là đi ngược lại quan điểm sử học của Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam và của truyền thống yêu nước Việt Nam. Nếu quan điểm này được đưa vào sách giáo khoa hay quốc sử mà không được phản biện nghiêm túc, sẽ gây ra sự nhiễu loạn nhận thức lịch sử, đặc biệt đối với thế hệ trẻ.

Lịch sử cần được nhìn nhận khách quan, nhưng khách quan không đồng nghĩa với trung tính vô nguyên tắc. Trong sử học Việt Nam hiện đại, tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá nhân vật lịch sử vẫn phải là thái độ đối với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và lợi ích của nhân dân. Theo tiêu chuẩn đó, Gia Long không thể được xem là người “có công” đối với dân tộc Việt Nam./.
Môi trường ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: THẢM HOẠ CHIẾN DỊCH ĐỘT KÍCH IRAN NĂM 1980 CỦA HOA KỲ - VẪN CÒN “NÓNG HỔI” ĐẾN NGÀY NAY!

     Đám me Mẽo, giặc sử, con cháu ba sọc đang ra sức tung hô chiến dịch đột kích Caracas của đặc nhiệm Mỹ. Chúng dốt nát nên không biết rằng Trump đã phải đặt cược cả sự nghiệp vào vụ này và thực sự lo thất bại đến mất ăn mất ngủ. Sau đó mới có thể thở hắt ra mà tuyên bố “chiến dịch thành công nhất kể từ thế chiến 2 đến nay”!

Bởi, ngoài thất bại của vụ tập kích Sơn Tây năm 1970 hòng giải cứu tù binh phi công Mỹ. Thì đặc nhiệm Hoa Kỳ cũng từng thảm bại trong chiến dịch đột kích Tehran năm 1980 hòng giải cứu con tin ở ĐSQ. Cụ thể: 

CHIẾN DỊCH "GIƯƠNG VUỐT”: 

Năm 1978, Cách mạng Hồi giáo đã diễn ra ở Iran, dẫn đến sự sụp đổ của Triều đại Pahlavi. Bản thân Shah Mohammed Reza Pahlavi đã di cư cùng gia đình sang Hoa Kỳ, quốc gia mà hắn ta có mối quan hệ chư hầu, lệ thuộc.

Tuy nhiên, đại sứ quán Mỹ vẫn còn tại Tehran, và nhân viên của chúng đã bị bắt làm con tin (66 người). Chính phủ Iran mới yêu cầu Mỹ dẫn độ Pahlavi để đổi lấy những con tin. Carter, người đang trước thềm bầu cử tổng thống, không muốn từ bỏ Shah. Tuy nhiên, những con tin cần được giải phóng, nếu không sẽ không thể nói về việc tái tranh cử. Carter không muốn bắt đầu một cuộc chiến, nhưng việc giải phóng những con tin theo con đường ngoại giao là không thể.

Trong khi đó, bẩn thỉu “như người Mỹ” - George Bush Sr đã tiến hành những cuộc đàm phán bí mật với Iran để họ từ chối bàn giao con tin TRƯỚC KHI BẦU CỬ TỔNG THỐNG ở Mỹ. Đây là một trong hàng loạt các nước cờ để khiến Carter mất điểm, và tổng thống mới được bầu (Bush đã tranh và trúng cử) sẽ thực hiện một "hành động tốt đẹp" với việc đàm phán thả người sau đó. Đổi lại, Iran được hứa sẽ nhận được sự hỗ trợ về vũ khí trong trường hợp xảy ra xung đột với Iraq, bối cảnh mối quan hệ với nước này đang vô cùng căng thẳng.

Trở lại với Carter. Tình hình của ông ta không mấy tốt đẹp. Về mặt ngoại giao, những con tin không thể được giải phóng. Bắt đầu một cuộc chiến là không thể. Và sau đó, một kế hoạch giải phóng những con tin đã được đề xuất. Chiến dịch đặc biệt của lực lượng "Delta", dự kiến sẽ xâm lược nước này, cho hạ cánh một đội biệt kích, chiếm giữ một sân bay, cứu những con tin, vận chuyển họ bằng máy bay trực thăng đến sân bay nắm giữ và sơ tán bằng máy bay từ sân bay đó. Một kế hoạch tuyệt vời, phải không nào? Trên lý thuyết, chắc chắn rồi...

Tuy nhiên, mọi thứ đã sai ngay từ đầu. Do sự chuẩn bị không đầy đủ của "Delta" và những vấn đề với thiết bị, một trong tám máy bay trực thăng bay trong nhiệm vụ đã rơi xuống nước ngay sau khi vừa cất cánh từ tàu sân bay. Một máy bay khác bị mất trong cơn bão cát. Chỉ có sáu máy bay trực thăng đến được căn cứ tạm thời đầu tiên (một sân bay bị bỏ hoang của Anh) trong sa mạc.

Địa điểm hạ cánh được chọn hóa ra nằm, trái ngược với những lời bảo đảm của tình báo, bên cạnh một con đường cao tốc nhộn nhịp, khiến cho chiến dịch này bị lộ ngay từ đầu. "Delta" đã chặn một chiếc xe buýt liên thành phố chở theo hành khách, và những tay súng đặc nhiệm đã bắn nổ tung một chiếc xe bơm nhiên liệu của Iran đi qua khu vực của đường băng.

Trên một trong những máy bay trực thăng đến căn cứ, có những vấn đề về hệ thống thủy lực. Trong quá trình tiếp nhiên liệu, một trong những máy bay trực thăng đã đâm vào một chiếc máy bay tiếp nhiên liệu, và trong vụ hỏa hoạn sau đó, tám tên đặc nhiệm đã bỏ mạng và cả hai chiếc máy bay đều bị thiêu rụi, dẫn tới quyết định phải hủy bỏ chiến dịch và rời khỏi Iran ngay sau đó.
Thất bại này buộc Jimmy Carter phải rút khỏi cuộc bầu cử tổng thống. Ông ta hiểu rằng một sự sỉ nhục như vậy đã khiến ông mất đi sự nghiệp chính trị của mình.

Đây chính xác là những gì Donald Trump lo ngại. Mặc dù trong trường hợp Venezuela, đội hình “Delta" đã được chuẩn bị tốt hơn rất nhiều so với 46 năm trước và nhiều khả năng có "tay trong" làm nội gián./.
Môi trường ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: KHI 740 ĐỨA TRẺ BỊ KẾT ÁN TRÔI RA BIỂN VÀ CẢ THẾ GIỚI NÓI “KHÔNG”, THÌ MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐÃ NÓI “CÓ”!

     Đó là năm 1942. Khi đó thế chiến 2 bùng nổ, Ba Lan là nơi đang xảy ra cuộc chiến vô cùng khốc liệt giữa 2 cường quốc Đức và Liên Xô. Stalin lãnh tụ của Liên Xô lúc đó trong vai trò lãnh đạo tối cao của Liên Xô và Hồng Quân chống lại Đức Quốc xã trong thế chiến thứ hai.

Đức Quốc xã (Nazi Germany) là chế độ độc tài toàn trị ở Đức từ năm 1933-1945, do Adolf Hitler và Đảng Quốc xã (NSDAP) lãnh đạo, nổi bật với hệ tư tưởng phân biệt chủng tộc cực đoan, chủ nghĩa bài Do Thái và bành trướng lãnh thổ, gây ra Thế chiến II và Holocaust. Họ coi người German là chủng tộc thượng đẳng và thực hiện diệt chủng đối với người Do Thái và các nhóm khác. 

    Lúc đó người dân Ba Lan bị ép phải rời đi nơi khác. Họ rời bỏ quê hương vào các trại lao động ở những vùng băng tuyết héo lánh.
Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi.
Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. 

Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng.
“Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” 

Thức ăn cạn dần.
Thuốc men không còn.
Và hy vọng, thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này, cũng đang tắt dần. 

Maria, 12 tuổi, nắm chặt tay cậu em 6 tuổi. Em đã hứa với người mẹ hấp hối rằng sẽ bảo vệ em trai. Nhưng làm sao để bảo vệ một người khi cả thế giới đã quyết định rằng họ không đáng được sống? 

Khi đó, tin tức đến được một cung điện nhỏ ở Nawanagar, Gujarat.
Người cai trị nơi ấy là Jam Sahib Digvijay Singhji.
Một tiểu vương dưới sự thống trị của Đế quốc Anh. Không quân đội, không quyền lực thật sự với các cảng biển, không nghĩa vụ phải can thiệp. 

Các cố vấn nói với ông:
“Có 740 đứa trẻ đang mắc kẹt trên biển sau khi người Anh từ chối cho họ cập bến.” 

Digvijay Singhji bình tĩnh hỏi:
“Bao nhiêu đứa trẻ?”
“Bảy trăm bốn mươi, thưa Bệ hạ.” 

Một khoảng lặng.
Rồi ông nói:
“Người Anh có thể kiểm soát các cảng của ta. Nhưng họ không kiểm soát được lương tâm của ta.
Những đứa trẻ đó sẽ cập bến tại Nawanagar.” 

Họ cảnh báo:
“Nếu ngài chống lại người Anh thì…”
“Ta sẽ chịu.” 

Và ông gửi thông điệp đã cứu 740 sinh mạng:
“Các con được chào đón ở đây.” 

Tháng 8 năm 1942, con tàu tiến vào cảng dưới cái nắng mùa hè khắc nghiệt.
Những đứa trẻ bước xuống như những cái bóng ,quá yếu để khóc, đã quen với đau khổ đến mức không còn dám hy vọng. 

Vị Maharaja đứng chờ chúng trên bến cảng.
Mặc áo trắng, ông quỳ xuống để ngang tầm mắt bọn trẻ và nói qua phiên dịch những lời mà chúng chưa từng được nghe kể từ ngày cha mẹ qua đời: 

“Các con không còn là trẻ mồ côi nữa.
Các con là con của ta.
Ta là Bapu của các con, là cha của các con.” 

Ông không dựng một trại tị nạn tạm bợ.
Ông xây dựng một mái nhà. 

Tại Balachadi, ông tạo nên một Ba Lan thu nhỏ trên đất Ấn Độ:
giáo viên người Ba Lan, món ăn gợi ký ức quê hương, bài hát tuổi thơ, lớp học, khu vườn, thậm chí một cây thông Noel dưới bầu trời nhiệt đới. 

“Nỗi đau luôn cố xóa bỏ con người ta,” ông nói.
“Ngôn ngữ, văn hóa, truyền thống của các con là thiêng liêng. Chúng sẽ sống ở đây.” 

Trong bốn năm, khi cả thế giới chìm trong chiến tranh, những đứa trẻ ấy sống không phải như người tị nạn ,mà như một gia đình.
Vị Maharaja đến thăm, nhớ tên từng đứa, tổ chức sinh nhật, và an ủi những bậc cha mẹ ở phương xa đã tuyệt vọng nghĩ rằng sẽ không bao giờ gặp lại con mình. 

Ông chi trả bác sĩ, thức ăn, quần áo và mọi thứ cần thiết bằng chính tài sản của mình. 

Khi chiến tranh kết thúc và đến lúc chia tay, rất nhiều người đã khóc.
Balachadi là ngôi nhà duy nhất mà họ từng biết. 

Ngày nay, những đứa trẻ ấy đã trở thành bác sĩ, giáo viên, cha mẹ, ông bà.
Tại Ba Lan, các quảng trường và trường học mang tên Jam Sahib Digvijay Singhji. Ông được trao huân chương cao quý nhất của đất nước. 

Nhưng tượng đài thật sự của ông không làm bằng đá.
Nó được tạo nên từ 740 cuộc đời. 

Và những cuộc đời ấy vẫn kể cho con cháu mình câu chuyện về một vị vua Ấn Độ, người mà khi cả thế giới đóng sập cửa, đã nhìn vào nỗi đau và nói: 

“Từ nay, các con là con của ta.”

Cuối cùng nhờ có lãnh tụ Stalin của Liên Xô lúc đó đã dẫn dắt cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại (1941-1945) đánh bại phe Phát xít, cùng với các nước Đồng Minh khác, Liên Xô đóng vai trò quan trọng trong kết thúc Thế chiến II. Stalin kêu gọi toàn dân Liên Xô đứng lên kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc trước cuộc xâm lược của Hitler. Chiến Thắng này góp phần quan trọng vào việc giải phóng các nước Trung và Đông Âu cũng như kết thúc chiến tranh Thế chiến thứ hai./.
Môi trường ST.

DÂN THANH HÓA QUÊ TÔI AI CŨNG THÍCH ĂN RAU MÁ, NHƯNG KHÔNG PHẢI AI VŨNG “PHÁ ĐƯỜNG TÀU”!

     Thời gian gần đây, trên mạng xã hội cũng như trong dư luận xã hội, có 2 người quê Thanh Hóa “nổi như cồn”. Người thứ nhất là Lê Trung Khoa, hôm 31.12.25, bị Tòa án tp Hà Nội tuyên án 17 năm tù vì tội chống phá NN VN. Người thứ hai là ông Đỗ Ngọc Thống, người có “công” trong việc đưa rác phẩm Nỗi buồn chiến tranh vào SGK. Ông Thống không bị tòa án công lý xử tội, nhưng tòa án lương tâm trong lòng hàng triệu người Việt chân chính trong và ngoài nước, đặc biệt là các CCB, đã vạch mặt ông ta. Về rác phẩm Nỗi buồn chiến tranh, cá nhân tôi (HNT) đã có quan điểm rất rõ ràng. Trên dòng thời gian FB, tôi đã đăng 5 bài viết.
1. Hôm 03.12.2025: MỘT SỰ VINH DANH KHÓ HIỂU
2. Hôm 09.12.2025: HIỆN TƯỢNG VÀ BẢN CHẤT
3. Hôm 12.12.2025: ĐỪNG LỢI DỤNG “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” ĐỂ PHÁT TÁN TƯ TƯỞNG ĐỘC HẠI!
4. Hôm 16.12.2025: “CỨ TỪ TỪ KHOAI SẼ NHỪ”
5. Hôm 22.12.2025: VUI BUỒN VÌ NGHỆ AN.
Tất nhiên, tôi vui mừng khi khi nghe tin, BCT đã vào cuộc và Nhà văn Bảo Ninh, tác giả Nỗi buồn chiến tranh đã phải làm đơn xin rút khỏi danh sách giải thưởng Nhà nước về việc tôn vinh các tác phẩm văn học - nghệ thuật tiêu biểu xuất sắc sau ngày thống nhất đất nước.

Từ lâu rồi, tôi thấy khó hiểu, một người như ông Thống đã nhiều lần công khai “nói đểu” chế độ, lại được giao nhiệm vụ đó. Nhiều người đã hỏi tôi, vì sao ông Thống hăng hái trong việc tôn vinh rác phẩm NBCT, tôi chỉ phỏng đoán, ông ta sau nhiều lần đi Mỹ về, sau khi hít quá nhiều không khí Mỹ, đã hoa mắt trước sự hào nhoáng bề ngoài của “thiên đường” phương Tây. Có người nói, ông ta đã bị tình báo Mỹ mua chuộc, tôi (HNT) không có bằng chứng cho quả quyết này, nhưng tôi cũng không thể loại trừ khả năng đó. Hiện tượng tương tự chúng ta từ lâu đã thấy rõ ở một người quê TH khác, đó là nhà thơ Nguyễn Duy. Cách đây vài năm, Thiếu tướng Lê Mã Lương cũng bị “ném đá” túi bụi vì giao lưu với đám dân chủ cuội rồi phát biểu linh tinh. Sau khi nhận thấy nguy cơ bị tước danh hiệu Anh hùng LLVTND và khai trừ ra khỏi Đảng CSVN, ông LML từ đó đã “thụt vòi”.

Nói chung, không nên vơ đũa cả nắm, dân Thanh Hóa quê tôi ai cũng thích ăn rau má, nhưng không phải ai cũng “phá đường tàu”./.
Môi trường ST.

NHỮNG PHÁT NGÔN THÊM LỬA “HOẢ TÁNG” NỖI BUỒN CHIẾN TRANH!

     Vậy là Nỗi buồn chiến tranh (NBCT) đã cận kề cửa lò "hỏa táng". Cuốn sách về với tro bụi, cuốn theo những hệ lụy dần bị triệt tiêu, góp phần lành mạnh hóa đời sống tinh thần xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
                            *       *
                                *
     Nhìn lại quá trình đấu tranh loại “rác phẩm” chúng ta thực sự khâm phục những con người kiên trung vì công lý, sự thật lịch sử, bảo vệ chính nghĩa, thành quả cách mạng, phẩm giá "Bộ đội Cụ Hồ" trước sự tấn công bằng những phát ngôn thoá mạ, cay độc.
      Trên truyền thông mạng xã hội, đêm ngày nhan nhản Status, comments với những lời lẽ chợ búa, cục cằn vô văn hóa xúc phạm, tấn công những người phê phán lật tẩy “rác phẩm” NBCT. Số này phần đa là ít học, vô minh nên a dua, chỉ gây vo ve khó chịu, mượn được Bờm cái quạt mo thôi là gãy cánh.
      Đáng quan tâm là những phát ngôn của “giới tinh hoa tự xưng và ngộ nhận”. Lưng vốn chữ nghĩa của số này không phải ít. Thế nên ngoa ngôn, xảo ngôn của họ mới làm dậy sóng phẫn nộ của cộng đồng bảo vệ sự thật lịch sử. Và vô tình, những phát ngôn của họ lại thêm lửa “hỏa táng” NBCT. Xin dẫn 1 số phát ngôn:
   + Một chức sắc của Hội Nhà văn “chẩn đoán” những người phản đối NBCT là “ung thư tâm hồn” - một dạng ung thư chưa có trong Từ điển Y học. Dân gian có câu cửa miệng “ung thư đồng nghĩa án tử”, bởi sự quái ác của căn bệnh. 
       “Ung thư tâm hồn” mà còn năng lực nhận ra dị tật NBCT! Lại còn có nghệ thuật đấu tranh, bước đầu đã loại được “rác phẩm” ra khỏi danh mục các tác phẩm tiêu biểu sau 50 năm đất nước thống nhất, sao lạ vậy?
      + Phát ngôn của một chức sắc khác trong Hội Nhà văn đánh giá NBCT: “là tác phẩm tầm cỡ.., mà nhiều quốc gia muốn có được cho văn học của mình... nó vượt qua những lớp bụi thiên kiến để cống hiến chất nghệ thuật vàng ròng...”. Ôi, thật trác tuyệt! Mà sao “vàng ròng” lại thành “rác thải” vậy! Cửa miệng bao thường dân là độc giả khoe đọc tác phẩm này, tác phẩm nọ đã chạm đến con tim mình, vì thấy bóng mình, cha mẹ, người thân, đồng đội mình trong đó. Còn đọc NBCT, Cựu chiến binh, nhất là ở Tây Nguyên thời chống Mỹ (bối cảnh NBCT) chỉ thấy bìa đặt g.i.ế.t vượn nhầm đàn bà, đảo ngũ, h.i.ế.p dâm tập thể, cờ bạc đỏ đen...; không hề thấy bóng của mình, của đồng đội mình trong đó!
      Và để ma mị cho cái “nghệ thuật vàng ròng”, vị này tung hỏa mù “đa chiều, đa dạng viết về chiến tranh... mới có một tác phẩm như thế!”. Thực chất của ma mị ở đây là “nghệ thuật hóa chính trị”, núp bóng hư cấu xuyên tạc bản chất chính trị, tính chính nghĩa của Cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai.
      + Một chức sắc đứng đầu văn học nghệ thuật cấp tỉnh phát ngôn rằng, “Đọc các bài đấu tố NBCT... thấy thương cho đất nước mình, đã mấy thế hệ rồi mà vẫn tồn tại một cộng đồng rễ chuỗi sôi sục tinh thần đấu tố của cách mạng thổ cải”. Bạn đọc hãy đọc kỹ phát ngôn này có 2 dụng ý: Một là, phỉ báng hàng triệu người gồm Cựu chiến binh và các tầng lớp yêu nước phê phán NBCT là thứ rác rưởi. Hai là, cho tinh thần đấu tranh đòi loại bỏ NBCT “sục sôi... của cách mạng thổ cải” (ý chỉ cải cách ruộng đất sau 1954), đó là tâm lý bầy đàn của những kẻ ngu si bị dắt mũi. Nhân vật này còn đem đối lập giữa “giới trí thức/ văn nghệ sĩ” với cộng đồng phê phán đòi hủy bỏ “rác phẩm” NBCT. Đây là một sự ngạo mạn, song vô minh. Bởi NBCT chỉ là “phiên bản xấu của Phía Tây không có gì lại đã bị bóc mẽ. Nó là phiên bản xấu bởi ăn cắp ý tưởng, kết cấu... song lại hư cấu bịa đặt, vô nhân tính, trong khi nguyên bản phản ánh chân thực, đầy tính nhân văn. Qua đây cho thấy cái năng lực cao siêu, tinh tế đẳng cấp trên của vị này so với đông đảo Cựu chiến binh, các tầng lớp vạch trần “rác phẩm” trong tiếp nhận giá trị thẩm Mỹ!!! Nghe nói vị này vừa tái cử đứng đầu Hội liên hiệp văn học nghệ thuật cấp tỉnh trong kỳ Đại hội mới đây bằng hình thức “giơ tay”!
     + Phát ngôn của một vị làm quản lý ngành văn hóa cấp tỉnh, đã kết tội cộng đồng phê phán NBCT: “... như bãi đấu tố của bần cố nông tri thức...”; cho “sỉ vả, kết tội Bảo Ninh và tác phẩm của ông là xuyên tạc, phản bội, lật sử, chúng ta mới là những kẻ vô ơn, phản bội trơ trên nhất... những con lươn, con chạch lại đi bày vẽ con người về cách làm người”! Đọc phát ngôn này, thực sự cần uống ngay thuốc trung hòa acid dạ dày anh chị em ạ. Có thể nhận xét, vị này mới thực sự là trí thức nửa mùa, học hành, tu dưỡng không đến nơi đến chốn. Thế mà không hiểu sao, bằng cách nào mà vị đó trườn lên được ghế Phó Giám đốc sở? Ngoài ra, trong phát ngôn của vị này còn ẩn chứa dấu hiệu phản động, phân biệt đẳng cấp. Hy vọng các cơ quan chức năng vào cuộc làm rõ.
      + Thêm phát ngôn của vài nhân vật trong giới báo chí coi thường những người phê phán NBCT: “đọc văn như đọc sử...”; “...thiếu hiểu biết tối thiểu về thể loại trong văn học nghệ thuật, đã dẫn đến không chỉ có ý kiến... làm đơn kiện... Tôi thấy trò lố này có nhiều người hùa theo”. Nhà báo này còn vu cáo sai sự thật đối với hàng vạn cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 đồi bại rằng, “Quân đoàn ba đàn và cũng chén”! Nhà báo như này thì không chỉ thấp TẦM, mà TÂM còn vẩn đục.
                              *       *
                                   *
  Tiếp cận, phân tích có lựa chọn một số phát ngôn gây phẫn nộ đối với hàng triệu người, không riêng Cựu chiến binh, mà đủ các thành phần xã hội. Lịch sử cách mạng Việt Nam, có truyền thống “Quân với Dân một ý chí”. Sự phẫn nộ của Cựu chiến binh tất yếu dẫn đến sự phẫn nộ của Nhân dân. Vì thế những phát ngôn của “giới tinh hoa tự xưng và ngộ nhận” trên đã vô tình thêm lửa “hỏa táng” NBCT.
       Bài viết vào cuối chiều đông lạnh, càng se lòng. Biết đâu những phát ngôn kiểu đó sẽ ngược gió “hỏa táng” cả sự nghiệp văn chương, báo chí của những người trong “giới tinh hoa tự xưng và ngộ nhận”./.
Môi trường ST.

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

KẺ NÀO CHỦ MƯU?

     Có một chi tiết đáng chú ý trong câu chuyện quanh “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh mà nhiều người chưa biết: tác giả Bảo Ninh đã xin rút khỏi giải vinh danh!

Chỉ riêng hành động đó thôi, đã cho thấy ông ấy ý thức được mức độ nhạy cảm và hệ quả xã hội của tác phẩm trong bối cảnh hiện nay.

Không né tránh, không “cố đấm ăn xôi”, không vin vào danh nghĩa nghệ thuật để hưởng trọn hào quang.

Ở góc độ cá nhân, đó là một biểu hiện của Liêm Sỉ.

Nhưng dừng lại ở việc khen hay chê tác giả thì chưa bàn đến, và thậm chí là lệch trọng tâm.

Bởi vấn đề cốt lõi không nằm ở Liêm Sỉ của một nhà văn, mà nằm ở trách nhiệm của hệ thống:
- Ai đề xuất vinh danh? (tác phẩm này từng bị cấm trong thập niên 1990).
- Vậy ai là người đề xuất lôi sản phẩm này quay trở lại, đặc biệt lại chui vào sách giáo khoa giảng dạy cho học sinh?
- Ai cổ vũ? Chẳng phải là những nhà văn, nhà thơ, thậm chí các quốc gia từng đưa quân đội vào xâm lược Việt Nam những năm 60-70 của thế kỷ trước cổ vũ hay sao? 
- Ai đưa tác phẩm gây tranh cãi sâu sắc về lịch sử, dung tục, và ký ức chiến tranh vào không gian giáo dục và biểu tượng quốc gia?

Một tác phẩm có thể là nỗi đau thật của cá nhân.
Nhưng khi nó được nâng lên thành “đại diện ký ức” cho cả một dân tộc, thì nó không còn là chuyện riêng của văn chương, mà là chuyện của Lịch Sử, Giáo Dục và Trách Nhiệm Chính Trị - Văn Hóa.

Tác giả có thể còn Liêm Sỉ.
Nhưng nếu những người nắm quyền lựa chọn, vinh danh và định hướng dư luận không còn một chút Liêm Sỉ, thì xã hội vẫn phải trả giá.

Và câu hỏi cần được đặt ra?
Ai chịu trách nhiệm khi những lựa chọn sai lầm được khoác áo “nghệ thuật” để đứng trên ký ức chung của Nhân Dân?

Bài học nhãn tiền về những quốc gia bị vùi dập trong bom đạn chiến tranh dẫn đến đói nghèo, đất nước chia nhỏ ra nhiều phần, tài nguyên bị các nước Phương Tây vơ vét kiệt quệ… vẫn còn là một câu chuyện nóng hổi, trong đó phải kể đến Irac, Libi, Nam Tư, Syry, Ukraina, Bănglades, Myanma, Campuchia, Nepal … Kể cả Liên Xô trong quá khứ.
Tất cả nguyên nhân đa phần đều bắt nguồn từ việc bỏ rơi mặt trận văn hóa tư tưởng.

Và - văn học, lịch sử, phim ảnh… chính là gốc rễ của mọi vấn đề.

Một khi lớp trẻ đã bị nhồi nhét hiểu sai, hoặc những sự thật cần biết thì lại không được biết… sẽ dẫn tới việc lớp người sau quay lại phán xét lớp người đi trước, thậm chí xét lại cả lịch sử dân tộc.

Bởi vậy - trong những hạt sạn văn học , lịch sử đưa vào giảng dạy cho học sinh tại các nhà trường, chắc chắn sẽ phải có “bàn tay” nào đó điều khiển trực tiếp, hoặc gián tiếp…
Điều nguy hiểm nhất , chính là việc cả một bộ máy của Bộ giáo dục và đào tạo đều “vô tư” im lặng - Để rồi, sau khi những người cán bộ về hưu, quần chúng nhân dân bức xúc lên tiếng kéo dài… thì câu chuyện mới bắt đầu dừng lại.
Vậy - kẻ đứng sau đó là ai???
Môi trường ST.

KHI VĂN HỌC XA RỜI CHÍNH TRỊ; CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ NIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH!

     Không giống như các tổ chức xã hội nghề nghiệp khác, Hội Nhà Văn Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hội Nhà văn Việt Nam là tổ chức xã hội, tập hợp đoàn kết, động viên hội viên phát huy trí tuệ và tài năng để xây dựng NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM YÊU NƯỚC, nhân văn, dân chủ, đổi mới, góp phần xây dựng nền văn học Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; phục vụ Nhân dân, phục vụ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, vì hòa bình và hợp tác hữu nghị với các dân tộc trên thế giới.
(Trích Quyết định Số: 1685/QĐ-TTg, ngày 08 tháng 10 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều lệ Hội Nhà Văn Việt Nam).

Kể từ ngày thành lập đến nay; Hội Nhà văn Việt Nam đã phát huy truyền thống Hội Văn nghệ kháng chiến, đồng hành cùng dân tộc, cùng Đảng góp phần thiết thực vào quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 68 năm qua, các nhà văn Việt Nam đã dấn thân vào con đường chung của dân tộc, con đường đấu tranh cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Nhiều nhà văn cách mạng tiền bối đã để lại cho Tổ quốc những tác phẩm bất hủ đến nay vẫn còn nguyên giá trị lôi cuốn bạn đọc. Trong Lễ kỷ niệm 65 năm thành lập Hội Nhà Văn Việt Nam, Ông Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội nhấn mạnh: “Chúng ta không thể nào quên hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, có biết bao nhà văn đã đi vào mặt trận trong tư thế của một người lính. Họ cầm súng và cầm bút. Máu của nhiều nhà văn đổ xuống mảnh đất Việt Nam trong cuộc chiến tranh, cùng với những trang viết vì con người, vì Tổ quốc đã làm cho những tác phẩm của họ trở nên vô giá và bất tử”. 

Văn học có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội đặc biệt là văn học cách mạng có sứ mệnh rất lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; trong công cuộc xây dựng nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc. Văn học là con người, là lòng nhân ái và cái thiện. Văn học không chỉ đơn thuần về mặt nghệ thuật mà còn phải biết khơi dậy khát vọng của dân tộc, xây dựng những hệ giá trị văn hóa mới, đấu tranh với những thói hư tật xấu, những tiêu cực để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn; phải giữ gìn được bản sắc văn hoá dân tộc; hướng về chân, thiện, mỹ; bảo vệ truyền thống cách mạng mà xương máu của cả dân tộc đã đổ xuống để có ngày hôm nay. Vì vậy, việc tôn vinh trao giải cho bất cứ một tác phẩm văn học nào cũng cần xem xét cẩn trọng không chỉ về mặt nội dung, nghệ thuật mà còn bao hàm ý nghĩa, tác động xã hội tích cực mà tác phẩm đem lại, trong đó vai trò của Hội Nhà Văn Việt Nam rất lớn đặc biệt là BCH và Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam. 

Rất tiếc, qua vụ việc vinh danh tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” của tác giả Bảo Ninh, Hội Nhà Văn Việt Nam cũng như Chủ tịch Hội chưa làm tốt vai trò trách nhiệm của mình; một số uỷ viên BCH và Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam đã xa rời quan điểm chính trị của Đảng; Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ một tác phẩm có nội dung không tốt bị dư luận phản đối; một số nhà văn có thái độ thiếu chuẩn mực mạt sát dư luận xã hội. Đó là điều đáng phê phán. Hội Nhà Văn Việt Nam cần xem xét trách nhiệm của mình; loại bỏ những hội viên này ra khỏi hội./.
Khuyết danh ST.

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: NGƯỜI NỮ ANH HÙNG TRƯỚC TÒA ÁN BINH CỦA GIẶC!

     Ngày 10/1 - Võ Thị Thắng & Nụ cười chiến thắng!

Sinh ngày 10/1/1945 tại Long An, anh hùng Võ Thị Thắng lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước.

Từ nhỏ, bà đã tham gia đưa thư liên lạc, nuôi giấu cán bộ và dấn thân vào phong trào cách mạng của thanh niên - sinh viên Sài Gòn.

Nhưng cũng chính những năm tháng đấu tranh ấy đã đẩy Võ Thị Thắng vào chốn lao tù, nơi bà phải chịu đựng sự giam cầm và tra tấn suốt 6 năm tại Thủ Đức, Chí Hòa, Côn Đảo.

Tháng 8/1968, trước Tòa án quân sự Nguỵ quyền Sài Gòn, khi bị tuyên phạt 20 năm tù, Võ Thị Thắng chỉ mỉm cười đáp: “Liệu chính quyền các ông có tồn tại đến 20 năm để bỏ tù tôi không?”.

May mắn thay, hình ảnh hiên ngang của cô nữ sinh 23 tuổi đã được một phóng viên người Nhật ghi lại, trở thành bức ảnh lịch sử mang tên “Nụ cười chiến thắng”.

Nụ cười ấy sau đó nhanh chóng được lan truyền và nổi lên như một biểu tượng tinh thần trong suốt những năm kháng chiến đầy gian khổ.

Sau ngày đất nước thống nhất, bà Võ Thị Thắng tiếp tục cống hiến và để lại dấu ấn sâu sắc trên nhiều lĩnh vực.

Ngày 22/8/2014, bà qua đời tại TP.HCM, hưởng thọ 69 tuổi.

Để ghi nhận những đóng góp của người phụ nữ kiên trung ấy, Đảng và Nhà nước quyết định truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND cho bà sau đó một năm./.
Yêu nước ST.

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026

ĐỀ NGHỊ THU HỒI THẺ NHÀ BÁO!

     Thanh Hằng là một kẻ đang làm nghề báo, nhưng lại thường xuyên lên mạng xã hội thể hiện tư tưởng cá nhân cực đoan. Ả cả gan tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ quân đội nhân dân Việt Nam (hình 1); chế giễu nguyên tướng lĩnh cấp cao quân đội (hình 2); chia sẻ bài của những tay tư tưởng chính trị có vấn đề, đã từng bị nhắc nhở (hình 3).

Tư tưởng chính trị, đạo đức nghề nghiệp ở đâu? Thực sự nền báo chí cách mạng nước nhà càn tiếp tục thực hiện quyết liệt công cuộc cải tổ, thanh lọc, đưa ra khỏi cơ quan báo chí những kẻ thoái hóa, biến chất ra khỏi hệ thống báo chí - Đảng, Nhà nước cần cảnh giác, nắm chắc hệ thống báo chí, truyền thông, đặc biệt là trong bối cảnh chủ nghĩa đế quốc - thực dân đang chơi bài ngửa, táo tợn như hiện nay - Thời đại 4.0, ai nắm giữ được thông tin, truyền thông, báo chí, kẻ đó là kẻ mạnh!


Môi trường ST.

BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO-DU LỊCH CHƯA NGHIÊM TÚC, CẦU THỊ!

1. Theo thông cáo báo chí của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch:

“Ngày 07/01/2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhận được Thư của nhà văn Bảo Ninh. Bộ đã giao cho các đơn vị chức năng của Bộ gặp gỡ, trao đổi, lắng nghe ý kiến của nhà văn Bảo Ninh.

Trên cơ sở rà soát tiêu chí bình chọn,đánh giá lại toàn diện, tổng thể quá trình bình chọn; căn cứ kế hoạch, quy chế, tiêu chí bình chọn và tôn trọng nguyện vọng của cá nhân tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 14/QĐ-BVHTTDL ngày 8/01/2026 về việc đưa tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của tác giả Bảo Ninh ra khỏi danh sách nghiệm thu và công bố bình chọn 50 tác phẩm văn học, nghệ thuật biểu diễn Việt Nam tiêu biểu, xuất sắc sau ngày đất nước thống nhất (30/4/1975 – 30/4/2025) ban hành kèm theo Quyết định số 4313/QĐ-BVHTTDL ngày 13/11/2025”.

2. Việc tác giả Bảo Ninh có THƯ là cơ sở để Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ra quyết định số 14/QĐ- BVHTTDL, ngày 08/1/2026?

Theo tôi đây là lý do “HỢP PHÁP HOÁ”, Bộ VHTTDL “tôn trọng nguyện vọng của cá nhân tác giả” để ra quyết định đưa tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh - NBCT” của tác giả Bảo Ninh ra khỏi danh sách nghiệm thu và công bố bình chọn 50 tác phẩm văn học, nghệ thuật biểu diễn Việt Nam tiêu biểu, xuất sắc sau ngày đất nước thống nhất (30/4/1975 – 30/4/2025) ban hành kèm theo Quyết định số 4313/QĐ-BVHTTDL ngày 13/11/2025. 

Phải khẳng định: 
Việc loại tác phẩm NBCT của tác giả Bảo Ninh không phải là ý kiến tác giả mà tác phẩm này KHÔNG ĐÚNG QUY CHẾ, KHÔNG ĐÁP ỨNG TIÊU CHÍ bình chọn 50 tác phẩm văn học, nghệ thuật biểu diễn Việt Nam tiêu biểu, xuất sắc sau ngày đất nước thống nhất BUỘC PHẢI ĐƯA RA NGOÀI DANH SÁCH NGHIỆM THU, BÌNH CHỌN.

3. THU HỒI VINH DANH hay đưa ra ngoài danh sách, nghiệm thu, bình chọn?

Đây là hành động mập mờ của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. 

Ngày 30/11/2025, tất cả các báo, trang tin điện tử đều đồng loạt đưa tin: “Tiểu thuyết "Nỗi buồn chiến tranh" của nhà văn Bảo Ninh được Bộ VH-TT-DL VINH DANH trong lễ công bố 50 tác phẩm văn học nghệ thuật biểu diễn Việt Nam tiêu biểu xuất sắc sau ngày đất nước thống nhất. Vậy tại sao không phải là THU HỒI VINH DANH? mà lại là ĐƯA RA NGOÀI DANH SÁCH.

Một quyết định muộn màng sau sức ép của dư luận và sự vào cuộc của các cơ quan chức năng nhưng chưa phải là sự cầu thị nghiêm túc từ trách nhiệm công vụ và đạo đức xã hội của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch.

Và dư luận yêu cầu tiếp theo, Bộ VHTTDL phải kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc vinh danh tác phẩm này, tiến tới yêu cầu Bộ Giáo dục - Đào tạo phải loại bỏ tác phẩm này ra khỏi sách giáo khoa./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHÂN VIỆC DÂN TA GỌI NGUYỄN ÁNH “CÕNG RẮN CẮN GÀ”, CÓ KẺ CŨNG NGHỊ LUẬN VUA QUANG TRUNG CŨNG “CÕNG RẮN”!

     Bàn về lời nghị luận cho rằng: “Nguyễn Huệ cũng cõng rắn (Tàu Ô) cắn gà nhà, chẳng khác Lê Chiêu Thống rước quân Thanh, Nguyễn Ánh cầu viện Xiêm La.”

Có kẻ chép miệng mà rằng: Quang Trung dung dưỡng ngoại bang, nuôi đám Tàu Ô hải phỉ, ấy là “cõng rắn cắn gà nhà”. Nghe lời ấy, kẻ hậu học này chợt nhớ chuyện xưa: đời Lý có Nùng Trí Cao, triều Trần có Chiêu Minh vương Trần Nhật Duật cùng tướng Tống Triệu Trung.

Nùng Trí Cao, tuy cát cứ một phương, nhưng trong lòng sợ triều Lý hơn sợ cả sinh phụ; Triệu Trung vốn người Tống, mà dưới trướng nhà Trần, dốc sức cùng quân Đại Việt đánh tan vó ngựa Nguyên Mông. Đến như đám Tàu Ô thuở Tây Sơn, chỉ dám quấy nhiễu phương Bắc, tuyệt nhiên không dám mon men vuốt râu Bắc Bình vương.

Ấy gọi là “rắn”, nhưng là thứ rắn biết sợ. Không những không cắn gà nhà, mà còn chẳng dám nhe nanh. Bởi nếu đã cắn, ắt là tự chuốc lấy diệt vong. Đám ấy, suy cho cùng, cũng còn biết điều.

Còn như quân Xiêm La hay kẻ tóc đuôi sam phương Bắc, thì khác hẳn: đã cắn là cắn đến cùng, cắn cho máu chảy đầu rơi. Nhưng những “con rắn” ấy, há phải do các bậc Lý, Trần, hay Quang Trung rước về mà nên?

Lại có người trách rằng: Quang Trung vốn là bề tôi, dám phế bỏ bề trên, ấy là phạm thượng. Kẻ này lại nhớ chuyện Nguyễn Phúc Nguyên dâng lễ hai đáy, gửi tờ biểu ngầm nói rõ: “không nhận sắc phong” của triều Lê. Hành vi ấy, há lại không phạm thượng ư? Hay chỉ vì thành bại khác nhau mà lời phán xét đổi thay?

Xưa nay, cổ nhân vốn chẳng lấy thành bại để luận anh hùng. Người xưa nay đều đã khuất bóng nghìn thu. Kẻ này cũng không xem Đức Quang Trung như bậc thánh thần siêu phàm, mà chỉ coi ngài là một con người giữa thời loạn: có ưu có khuyết, có hay có dở, có phàm tục như bao kẻ khác.

Song vẫn dành cho ngài lòng kính trọng, bởi công phá Thanh, dẹp Xiêm, lật Trịnh, đổ Nguyễn, mở đường cho cơ nghiệp thống nhất về sau; để rồi Gia Long thừa thế hoàn thành đại nghiệp, khiến sơn hà liền một dải, quốc gia cường thịnh, biên cương mở rộng đến mức cực thịnh.

Ấy là điều Quang Trung chưa kịp làm, chứ chẳng phải không thể làm.

Than ôi! Trời xanh khéo ngắn số anh hùng. Giá như Bắc Bình Vương thêm được mươi năm thọ, thì hào kiệt Đường Tống há còn khoe sức?

Nhưng lịch sử vốn không phải bàn cờ giả định, và cũng chẳng có chỗ cho hai chữ “giá như”./.
Ảnh: Admin page Binh khí Việt.
Môi trường ST.

NGƯỜI DÂN CHÚNG TÔI, CÁC CỰU CHIẾN BINH PHẢN ĐỐI NBCT CỦA ẤU PHƯƠNG -BẢO NINH LÀ VIẾT SAI LỊCH SỬ, SAI BẢN CHẤT CỦA NGƯỜI LÍNH CỤ HỒ TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC! CHỨ KHÔNG PHẢI VÌ LÒNG HẬN THÙ NHÉ CÁC NHÀ VĂN, NHÀ THƠ, NHÀ BÁO...!

     Những người phản đối NBCT là họ đề nghị rút NBCT ra khỏi 50 tác phẩm tiêu biểu được khen thưởng và xóa bỏ tác phẩm NBCT trong sách giáo khoa với những lý do mà trên cộng đồng mạng đã nêu.
Nhưng, một số ít nhà văn, phóng viên đứng ra bảo vệ NBCT không có những lý lẽ lập luận thẳng những điều bên phản đối đưa ra mà họ lại nói dài dòng lung tung sai đề. Ví như một học sinh tiểu học làm bài văn tả con gà, em lại tả con vịt. Họ được ăn học đào tạo, làm việc không lẽ họ dốt. Chắc là không, họ không dám lập luận phản biện mà họ có ý nói tránh ra chuyên đề cần tranh luận.

Ông Nguyễn Quang Thiều chủ tịch Hội nhà văn vừa rồi viết bài: "Chúng ta hận thù đến bao giờ". Nếu bài viết này trước đây lâu, tôi không nói, nhưng ông mới đăng vào trung tuần tháng 12/2025 nhằm bảo vệ NBCT. Theo tôi hiểu ý của ông là: Người dân Việt Nam hận thù nước Mỹ đến bao giờ mới thôi? Nghĩa là do lòng hận thù mà phản bác NBCT.

Ông sai lầm rồi! Không ai hận thù cả. Người dân phản đối Tác giả và tác phẩm bởi vì viết không đúng sự thật lịch sử, nói xấu bộ đội.
- Cuộc kháng chiến chống Mỹ, BN nói là "nội chiến".
- AHLS hy sinh sao gọi là "sự hy sinh mù quáng"?
Một bên nuôi bằng đô la, có lương nuôi cả gia đình, trang bị tận răng với một bên thiếu thốn dân nuôi từng cái củ mì, giải ngũ về giỏi lắm mua được con búp bê về cho con, nhưng tinh thần mục tiêu: Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh!
- Quân GP mà nói là xô bồ hỗn loạn, rời rạc, mất tinh thần... có đúng không?
- Con vượn béo xệ mà nhầm với người đàn bà?
- Người cha khuyên con (đi bộ đội) đừng dại đi vào chỗ chết?
- Những lời viết dâm ô mà đưa vào sách giáo khoa?
Và một số bài viết khác bảo vệ NBCT vì nghệ thuật, vì hư cấu, vì dịch nhiều thứ tiếng...

Tóm lại, hãy thu hồi giải thưởng và rút khỏi sách giáo khoa rác phẩm NBCT là nguyện vọng của người dân./.
Môi trường ST.

Ý KIẾN PHẢN BIỆN HAY LỜI LẼ PHẢN ĐỘNG CỦA ĐỖ NGỌC THỐNG?

     Những ai theo dõi mạng xã hội trong những năm qua đều nhận thấy, ông Thống có nhiều phát biểu không những không chuẩn mực với tư cách là một giáo viên công lập mà còn chạm đến ranh giới của tư tưởng phản động. Một trong những dẫn chứng cho thấy tư tưởng lệch lạc của ông ta là bài viết của ông về vụ anh chém chết em vì tranh giành đất đai ở Đan Phượng (xem ảnh chụp status).

Rõ ràng, ông Thống đã lấy một vụ việc riêng lẽ có thể xảy ra ở bất kỳ quốc gia nào, dù là ở Mỹ, Pháp, Đức, Vương quốc Anh… để nói xấu VN. Không chỉ phi khoa học mà quá láo toét khi ĐNT cho rằng nguyên nhân dẫn vụ án là do “XHCN chủ trương vô thần và khuyến khích vô thần„. Hơn thế nữa, ông quy chụp những tệ nạn đó chỉ xảy ra từ “sau cách mạng Tháng Tám đến nay„ và “do vô thần nên dẫn đến không trung thực, chuyên nói dối„.

Vô thần nói nôm na là không tôn giáo, không tín ngưỡng. Theo pháp luât VN và thực tế đời sống ở VN cho thấy tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng được tôn trọng, tự do tôn giáo và tự do tín ngưỡng có nghĩa là mỗi công dân có quyền theo theo một đạo nào đó hoặc không theo, không ai bị ép buộc hoặc bị cản trở trong quyết định của mình.

ĐNT khoe khoang trên mạng đi thăm Mỹ nhiều lần. Từ quan sát và kiến thức của mình, đáng lẽ ra, ông ta phải nhận biết, bản chất của chế độ xã hội Mỹ, một xã hội tư bản đã dẫn đến vô số vụ giết người hàng loạt. Các tập đoàn sản xuất vũ khí ở Mỹ tha hồ sản xuất vũ khí và bán tự do trên thị trường, mọi người dân ở tuổi trưởng thành đều có thể mua vũ khí và đó là nguyên nhân dẫn đến tội phạm giết người.

Việc nói dối cũng thế. Mọi người đều biết, chính phủ Mỹ đã nói dối một cách kinh khủng, thí dụ, nói dối trong việc khơi mào cuộc chiến chống VN (sự kiện Vịnh Bắc Bộ), cuộc chiến chống Iraq và mới đây là hành động xâm lược chống Venezuela.
Một câu hỏi của nhiều người rất chính đáng, Hồng Thái Hoàng bị bắt, tại sao Đỗ Ngọc Thống lại không?
Môi trường ST.

NƯỚC NGHÈO “ĐỘK TÀI” LÀM ĐIỀU MÀ NƯỚC GIÀU VÀ SIÊU GIÀU KHÔNG BAO GIỜ LÀM!

     Cuối năm 2025, miền Trung - Tây Nguyên hứng một đợt mưa lũ lịch sử. Nhà sập, nhà trôi, hàng nghìn gia đình đứng trước Tết trong cảnh màn trời chiếu đất.

Và điều xảy ra tiếp theo rất… “không giống tư bản”.
Chính phủ phát động “Chiến dịch Quang Trung - thần tốc”- không phải khẩu hiệu, mà là deadline cụ thể:
 • Sửa nhà hư hỏng: xong trước 31/12/2025
 • Xây mới, tái định cư: xong trước 31/1/2026, rồi đẩy sớm lên 15/1/2026
Mục tiêu duy nhất: không để dân đón Tết trong cảnh không nhà.
Số liệu không biết nói dối:
 • Hơn 4.000 nhà sập, gần 350.000 nhà hư hỏng trong năm 2025
 • Riêng đợt lũ cuối năm: gần 1.000 nhà sập, hơn 3.000 nhà hư hỏng nặng
 • Đã khởi công 1.520/1.634 nhà xây mới
 • Đã sửa xong 31.922/35.746 nhà
 • Căn nhà đầu tiên hoàn thành sau 15 ngày thi công
Ai làm?
 • Quân đội xuống tận nơi, hàng nghìn ngày công
 • Nhà nước hỗ trợ tiền (60 triệu/nhà, rồi bù thêm 5-10 triệu cho hộ khó khăn)
 • Chính quyền chịu trách nhiệm đến từng căn nhà
Nghe quen không?
À không. Tư bản không làm kiểu này.
Ở “xứ dân chủ”:
 • Nhà sập vì bão? → bảo hiểm lo, không có bảo hiểm thì… tự chịu
 • Vô gia cư? → ngủ lều, ngủ gầm cầu, “quyền lựa chọn cá nhân”
 • Nhà nước không ép ai ở, cũng không hứa deadline cho ai.

Còn ở đây?
 • Nhà nước không hỏi dân có thích không, mà hỏi: “Tết này thích mẫu nhà nào?" 
 • Không “đối tác công–tư”, không “thị trường tự điều chỉnh”
 • Chỉ có một câu: phải có nhà cho dân trước Tết. Đây là Lệnh.
Người ta hay nói:
“Cộng sản độc quyền, áp đặt, ép dân.”
Ừ. Ép thật.
Ép làm nhanh.
Ép hoàn thành sớm.
Ép cán bộ chịu trách nhiệm.
Ép cả hệ thống phải lo cho dân đến khi có nhà ở đàng hoàng.
Nếu đó là “độc quyền”, thì đây là độc quyền trách nhiệm. 
Còn cái gọi là “tự do” mà để dân ngủ ngoài trời, xin lỗi - dân đói rét thì không cần diễn thuyết hay hiến pháp.
Cuối cùng, một câu cho gọn:
Không phải chế độ nào nói hay về dân chủ cũng lo được cho dân.
Nhưng chế độ nào dám đặt deadline để dân có nhà trước Tết, thì dân sẽ tự biết ai đứng về phía mình. 
****************
So sánh chế độ độk tàl với chế độ "đa tài":
Ở Mỹ, mỗi năm có 500.000 triệu phú mới, nhưng vẫn có 200.000 người Mỹ chết vì đói nghèo. gần 50% dân số Mỹ thuộc diện nghèo... Họ siêu giàu, siêu mạnh, họ có nguồn lực để vực cả xã hội cùng giàu lên, nhưng không, họ chỉ bảo vệ quyền và lợi của giới tinh hoa tư sản - nguồn lực chính duy trì chính quyền./.





Môi trường ST.

Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THỦ TƯỚNG ĐỐC THÚC CHỌN HÌNH THỨC ĐẦU TƯ ĐƯỜNG SẮT TỐC ĐỘ CAO BẮC NAM!

     Thủ tướng Phạm Minh Chính giao Bộ Xây dựng nghiên cứu, đề xuất lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp cho dự án đường sắt tốc độ cao Bắc Nam, gồm đầu tư công, đối tác công tư hoặc đầu tư kinh doanh!

Chủ trì cuộc họp Ban Chỉ đạo các công trình trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia lĩnh vực đường sắt chiều 6/1, Thủ tướng yêu cầu Bộ Xây dựng căn cứ chỉ đạo của Bộ Chính trị, chủ trì lựa chọn công nghệ phù hợp nhất cho dự án đường sắt tốc độ cao Bắc Nam; trình Thường trực Chính phủ báo cáo cấp có thẩm quyền trước ngày 15/1.

Bộ Xây dựng đồng thời chỉ định tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi, bảo đảm đúng năng lực, quy trình, thủ tục và thẩm quyền theo quy định.

Cùng với việc sớm đề xuất hình thức đầu tư, Thủ tướng giao các địa phương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, di dời hạ tầng kỹ thuật. Các tập đoàn Viettel và VNPT tiếp tục triển khai các nhiệm vụ liên quan đến hệ thống và công nghệ điều khiển.

Trước đó hai ngày, Văn phòng Chính phủ thông báo kết luận của Thường trực Chính phủ, đánh giá Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan còn "lúng túng" trong triển khai dự án, nhất là ở khâu nghiên cứu, đánh giá và lựa chọn phương thức đầu tư.

Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc Nam có tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1,7 triệu tỷ đồng, tương đương 67 tỷ USD. Tuyến dài 1.541 km, điểm đầu tại ga Ngọc Hồi (Hà Nội), điểm cuối tại ga Thủ Thiêm (TP HCM), đi qua 20 tỉnh, thành phố. Dự án được Quốc hội cho phép khu vực tư nhân tham gia đầu tư, dự kiến khởi công tháng 12/2026 và hoàn thành năm 2035./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: MƯỜI THÀNH TỰU NỔI BẬT NHẤT CỦA ĐẤT NƯỚC TRONG NĂM 2025!

     Năm 2025 là năm có vị trí đặc biệt trong tiến trình phát triển của đất nước, là năm tăng tốc, bứt phá để hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra. Trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục biến động nhanh, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt; kinh tế toàn cầu phục hồi không đồng đều, Việt Nam vẫn đạt được nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện, thể hiện rõ bản lĩnh, trí tuệ và năng lực lãnh đạo của Đảng, sự điều hành quyết liệt của Nhà nước và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

1. Giữ vững ổn định chính trị – xã hội, củng cố vững chắc vai trò lãnh đạo của Đảng

Trong năm 2025, đất nước tiếp tục giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh đồng bộ, toàn diện theo các nghị quyết, kết luận của Trung ương và Bộ Chính trị. Năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng tiếp tục được nâng cao; niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước được củng cố vững chắc.

2. Kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng được duy trì

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; lạm phát được kiểm soát; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tăng trưởng kinh tế được duy trì trong bối cảnh khó khăn chung của thế giới; chất lượng tăng trưởng từng bước được cải thiện; nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế ngày càng được củng cố.

3. Hoàn thiện thể chế phát triển là khâu đột phá quan trọng

Năm 2025 ghi nhận những kết quả rõ nét trong hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhiều cơ chế, chính sách quan trọng được sửa đổi, bổ sung, ban hành theo hướng tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển.

4. Khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp tục có bước tiến

Triển khai các chủ trương lớn của Trung ương và Bộ Chính trị, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp tục được thúc đẩy mạnh mẽ. Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số từng bước hình thành rõ nét hơn; ứng dụng công nghệ số trong quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội ngày càng lan tỏa, trở thành động lực quan trọng cho phát triển.

5. Phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam được chú trọng

Văn hóa tiếp tục được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững đất nước. Công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc gắn với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại được đẩy mạnh. Việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, tinh thần ngày càng được quan tâm đúng mức.

6. An sinh xã hội được bảo đảm, đời sống nhân dân không ngừng cải thiện

Các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội tiếp tục được triển khai đồng bộ, kịp thời, hiệu quả. Công tác giảm nghèo bền vững, chăm lo người có công, đối tượng chính sách và các nhóm yếu thế đạt nhiều kết quả tích cực. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện, thể hiện rõ bản chất nhân văn, ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.

7. Quốc phòng, an ninh được tăng cường, chủ quyền quốc gia được giữ vững

Tiềm lực quốc phòng, an ninh được củng cố toàn diện; thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc được bảo vệ kiên quyết, kiên trì; môi trường hòa bình, ổn định được giữ vững, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước.

8. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế đạt nhiều kết quả quan trọng

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa tiếp tục được triển khai nhất quán, linh hoạt và hiệu quả. Quan hệ đối ngoại với các nước, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện không ngừng được mở rộng và đi vào chiều sâu. Uy tín, vị thế quốc tế của Việt Nam tiếp tục được nâng cao, khẳng định vai trò là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

9. Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh

Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng và Nhà nước. Nhiều vụ việc, vụ án được xử lý nghiêm minh; kỷ luật, kỷ cương được tăng cường; góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

10. Nâng cao chất lượng công tác cán bộ và hiệu lực quản lý nhà nước

Công tác cán bộ tiếp tục được thực hiện chặt chẽ, dân chủ, khách quan, đúng quy định. Bộ máy nhà nước các cấp được sắp xếp theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp được nâng lên, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Mười thành tựu nổi bật của đất nước trong năm 2025 là kết quả tổng hợp của sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự điều hành quyết liệt của Nhà nước và sự đồng lòng, chung sức của toàn dân tộc. Những thành tựu đó không chỉ có ý nghĩa trong năm 2025 mà còn tạo nền tảng vững chắc để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, đưa Việt Nam phát triển nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHỦ ĐỀ ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV CỦA ĐẢNG “SỰ KẾT TINH TRÍ TUỆ, BẢN LĨNH VÀ KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN”!

     Chủ đề Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kết tinh cao độ tư duy lý luận, tầm nhìn chiến lược và khát vọng phát triển của Đảng và dân tộc Việt Nam trong giai đoạn lịch sử mới.

Với kết cấu chặt chẽ, nội dung toàn diện và hàm lượng tư tưởng sâu sắc, chủ đề Đại hội không chỉ khẳng định nền tảng chính trị - tư tưởng của sự nghiệp cách mạng, mà còn định hướng rõ mục tiêu, động lực, phương thức và hệ giá trị phát triển đất nước đến năm 2030 và những năm tiếp theo.

Trong tiến trình chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, việc xác định Chủ đề Đại hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự cô đọng cao nhất về tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu tổng quát và khát vọng phát triển của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Chủ đề Đại hội không chỉ mang tính định hướng chính trị, mà còn có giá trị phương pháp luận sâu sắc, chi phối toàn bộ việc xây dựng các văn kiện, hoạch định đường lối và tổ chức thực tiễn sau Đại hội.

Chủ đề Đại hội XIV, với 64 chữ: "Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự cường, tự tin tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội". Đây là sự kế thừa, phát triển sáng tạo các chủ đề đại hội trước, đồng thời phản ánh bước phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng trước những biến đổi sâu sắc của tình hình trong nước và thế giới hiện nay.

“Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng” - Khẳng định nền tảng chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng

Cụm từ mở đầu của chủ đề Đại hội XIV mang ý nghĩa tư tưởng - chính trị đặc biệt sâu sắc. “Lá cờ vẻ vang của Đảng” là biểu tượng tập trung của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, của truyền thống cách mạng hơn 95 năm vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Việc đặt nội dung này ở vị trí mở đầu chủ đề cho thấy sự kiên định, nhất quán và không dao động của Đảng về vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện đối với Nhà nước và xã hội. Đây là sự tiếp nối tư tưởng xuyên suốt được khẳng định trong các văn kiện Đại hội XIII: “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”.

Ở chiều sâu lý luận, cụm từ này còn hàm ý yêu cầu không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng thực sự xứng đáng là đạo đức, là văn minh; mọi tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, xứng đáng với vai trò lãnh đạo và niềm tin của nhân dân.

“Chung sức, đồng lòng” - Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

“Chung sức, đồng lòng” là sự khái quát súc tích tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc - một đường lối chiến lược xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cách diễn đạt này nhấn mạnh không chỉ sự huy động nguồn lực, mà trước hết là sự thống nhất ý chí, đồng thuận xã hội và gắn kết lợi ích giữa các giai tầng, cộng đồng và chủ thể phát triển.

Trong điều kiện đất nước xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, các mối quan hệ lợi ích ngày càng đa dạng, phức tạp. Do đó, yêu cầu “chung sức, đồng lòng” thể hiện tư duy phát triển mới của Đảng, coi trọng vai trò chủ thể của nhân dân, bảo đảm hài hòa lợi ích, củng cố niềm tin xã hội, tạo nền tảng chính trị - xã hội vững chắc cho phát triển bền vững.

Mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 - Tầm nhìn chiến lược và tính hành động

Việc xác định mốc năm 2030 trong chủ đề Đại hội XIV thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược dài hạn của Đảng, gắn với dấu mốc 100 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây không chỉ là mốc thời gian mang ý nghĩa lịch sử, mà còn là thước đo năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và hiệu quả quản trị quốc gia.

Khái niệm “thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030” cho thấy tinh thần quyết tâm chính trị cao, tính kế thừa và nhất quán trong hệ mục tiêu chiến lược của Đảng; tinh thần quyết tâm chính trị cao trong tổ chức thực hiện; sự gắn kết chặt chẽ giữa tầm nhìn dài hạn và kế hoạch trung hạn, ngắn hạn; đồng thời khẳng định sự gắn kết giữa tầm nhìn chiến lược và tính hành động thực tiễn.

Các mục tiêu này bao trùm toàn diện các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và xây dựng hệ thống chính trị. Điều đó phản ánh tư duy phát triển toàn diện, cân bằng và bền vững, không chạy theo tăng trưởng đơn thuần, mà coi trọng chất lượng phát triển và nâng cao đời sống nhân dân.

“Tự cường, tự tin” - Biểu hiện bản lĩnh và vị thế mới của dân tộc

Hai khái niệm “Tự cường” và “tự tin” được đặt song hành trong chủ đề Đại hội XIV mang ý nghĩa đặc biệt sâu sắc, phản ánh bản lĩnh dân tộc trong bối cảnh mới. “Tự cường” nhấn mạnh yêu cầu phát huy nội lực, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; nâng cao năng lực tự quyết, tự bảo vệ; nâng cao khả năng thích ứng, tự phát triển trong mọi tình huống và chống chịu trước các cú sốc bên ngoài. Đây là sự phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng trước những thách thức an ninh phi truyền thống, phụ thuộc chuỗi cung ứng và cạnh tranh công nghệ toàn cầu.

“Tự tin” là sự tự tin chiến lược, thể hiện bản lĩnh, niềm tin và khí thế của một dân tộc đã có đủ thế và lực mới, được xây dựng trên nền tảng những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau gần 40 năm đổi mới. Đó là sự tự tin dựa trên thành tựu thực tiễn, nền tảng lý luận và kinh nghiệm quản trị quốc gia ngày càng hoàn thiện. Đây là sự tự tin trong hội nhập, trong lựa chọn con đường phát triển và trong bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.

“Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” - Khái niệm mới, tư duy mới và tầm nhìn phát triển mới

Lần đầu tiên khái niệm “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” được đưa vào chủ đề Đại hội, thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng. Khái niệm này không chỉ mang tính mô tả, mà còn hàm chứa định hướng chiến lược về một giai đoạn phát triển ở trình độ cao hơn, toàn diện hơn.

Khái niệm “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” không chỉ là một cách diễn đạt giàu hình ảnh, mà còn là một khái niệm tư duy chiến lược, hàm chứa nhận thức mới về vị thế, mục tiêu và con đường phát triển của đất nước trong giai đoạn lịch sử hiện nay. Đây không chỉ là một cách diễn đạt mang tính cổ vũ, mà là một khái niệm tư duy chiến lược - chính trị - phát triển, phản ánh sự chuyển biến về chất trong nhận thức và hành động của Đảng, Nhà nước và dân tộc ta trong bối cảnh mới.

Kỷ nguyên vươn mình có tư duy của huyền thoại Thánh Gióng, của con Lạc cháu Hồng; kết tinh trong dòng chảy lịch sử - hiện tại và tương lai của dân tộc Việt Nam văn hiến anh hùng và khát vọng vươn lên vượt mọi khó khăn.

“Kỷ nguyên vươn mình” không chỉ là sự tiếp nối của công cuộc đổi mới, mà là giai đoạn phát triển ở trình độ cao hơn, với yêu cầu: Đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu; đẩy mạnh khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển con người Việt Nam toàn diện; nâng cao vị thế, uy tín và ảnh hưởng quốc tế của Việt Nam. Khái niệm này có giá trị khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, tạo nền tảng tinh thần quan trọng cho toàn xã hội.

“Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” là sự kết tinh của nhận thức mới về thời đại, mục tiêu, vị thế, con người và con đường phát triển của đất nước, thể hiện khát vọng bứt phá, phát triển nhanh và bền vững, đưa Việt Nam vươn lên mạnh mẽ, tự tin, có trách nhiệm và có đóng góp xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.

Hệ giá trị mục tiêu phát triển vì con người

Phần kết của chủ đề Đại hội XIV xác lập một hệ giá trị phát triển toàn diện, kết tinh giữa giá trị dân tộc, giá trị thời đại và giá trị xã hội chủ nghĩa: Hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Đây là sự kết hợp hài hòa giữa mục tiêu quốc gia - dân tộc và mục tiêu xã hội chủ nghĩa, giữa phát triển kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội.

Các giá trị này không tồn tại rời rạc mà có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng, bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau. Đặc biệt, việc nhấn mạnh “hạnh phúc” cho thấy sự phát triển sâu sắc trong tư duy của Đảng, coi chất lượng cuộc sống và hạnh phúc con người; coi con người là trung tâm, là thước đo cao nhất; là mục tiêu và là động lực của phát triển.

“Vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” - Sự kiên định, tầm nhìn chiến lược và sáng tạo trong thực tiễn

Chủ đề Đại hội XIV khẳng định: “Vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” là sự tiếp nối nhất quán lập trường chiến lược; khẳng định rõ ràng và dứt khoát con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Đây là sự khẳng định có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp về mô hình phát triển và hệ giá trị.

Sự “vững bước” thể hiện bản lĩnh kiên định, nhưng đồng thời hàm chứa tinh thần đổi mới, sáng tạo, linh hoạt trong phương thức, bước đi và giải pháp thực hiện, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử.

Giá trị lý luận và thực tiễn của chủ đề Đại hội XIV

Chủ đề Đại hội XIV có giá trị lý luận sâu sắc trong việc phát triển tư duy về Đảng cầm quyền, về mô hình phát triển xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; toàn cầu hóa, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đó là cơ sở chính trị - tư tưởng quan trọng để xây dựng các văn kiện Đại hội, hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV, góp phần tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong toàn xã hội.

Chủ đề Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kết tinh trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng phát triển của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong giai đoạn lịch sử mới. Với nội dung toàn diện, tầm nhìn chiến lược và giá trị nhân văn sâu sắc, chủ đề không chỉ định hướng cho Đại hội XIV, mà còn có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./.
Yêu nước ST.