Chủ Nhật, 29 tháng 12, 2019


VÀI SUY NGHĨ VỀ HỌC THUYT KHÍ LUN
        
          Gần đây, tình hình an ninh, chính trị diễn biến phức tạp trong khu vực, ở Biển Đông và trên thế giới đã ít nhiều tác động đến suy nghĩ của một số người dân trong nước. Ngoài những phần tử cơ hội chính trị, dân tộc cực đoan... thường xuyên kích động chiến tranh, thì tâm lý lo lắng của một số người dân là sợ xung đột quân sự, chiến tranh xảy ra thì sẽ không thắng được kẻ thù chúng khí công nghệ cao, phương tiện chiến tranh hiện đại.
          Tâm lý lo lắng trên không phải là không có cơ sở. Bởi lẽ, khí trang bị có vai trò rất quan trọng trong một cuộc chiến, là phương tiện để vô hiệu hóa đối phương nhanh và hiệu quả trên chiến trường. Đặc biệt, đối với khí công nghệ cao, nếu được dùng đúng thời điểm, phát huy hết tính năng, kỹ, chiến thuật thì sự hủy diệt, sức tàn phá sát thương sẽ rất khủng khiếp.
          Nhận thức về tầm quan trọng đó, Đảng, Nhà nước ta đã đầu tư, mua sắm, sản xuất một số loại khí công nghệ cao. Tuy nhiên, trên cả phương diện luận thực tiễn thì việc sở hữu khí công nghệ cao chỉ một phần tạo nên sức mạnh tổng hợp trong chiến đấu. Sức mạnh tổng hợp ấy phải được kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn, linh hoạt sáng tạo của các yếu tố cơ bản, đó là: con người, vũ khí trang bị, nghệ thuật quân sự... Trong đó, con người yếu tố quyết định kết quả trận đánh. Bởi chính sự quyết tâm, lòng trung thành, dám đánh, quyết đánh sẵn sàng đổi lấy mạng sống quý giá của mình để giành cho bằng được độc lập dân tộc cùng với tố chất thông minh, sáng tạo trong đánh giặc của quân và dân ta là sức mạnh đại nhất, to lớn nhất quyết định nhất mà không có loại khí nào thể chống lại được. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp đế quốc Mĩ, quân và dân ta ban đầu chỉ những loại khí thô sơ. Nhưng với quyết tâm sắt đá, cuối cùng, chiến thắng đã thuộc về dân tộc Việt Nam, bên có khí thô sơ. Ngược lại, trong cuộc chiến tranh ở Iraq (2003), quân đội của chính quyền Tổng thống Saddam Hussein được trang bị khá hiện đại. Nhưng khi Mĩ và liên quân tiến công thì người ta chỉ thấy khí, trang bị hiện đại bị bỏ rơi ngổn ngang, trước sự tháo chạy của quân đội Iraq. Hậu quả, chính quyền Tổng thống Saddam Hussein thảm hại và đi đến bị lật đổ hoàn toàn. Năm 1965, hệ thống tên lửa S-75 Dvina (SAM-2)  được Liên Xô viện trợ cho Ai Cập và Syria để chống lại  Israel. Trong cuộc chiến tranh 6 ngày (5 đến 11 tháng 6 năm 1967) giữa Liên quân Ai Cập - Syria với Israel, quân đội Ai Cập không chịu nổi đòn tấn công của các binh đoàn thiết giáp không quân Israel đã tháo chạy khỏi sa mạc Sinai, bỏ lại hơn 20 bộ khí tài cùng loại Việt Nam lúc đó đang sử dụng. Riêng trong Chiến dịch phòng không 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972, 15 tiểu đoàn tên lửa SAM-2 bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng đã bắn rơi 27 máy bay B-52. Mấy ví dụ trên đã chứng minh cho sự khác biệt giữa sức mạnh của con người khí. Tuy nhiên, không tuyệt đối hóa khí nhưng cũng không hạ thấp vai trò của khí, nhất khí công nghệ cao. Bởi ràng, trong mối quan hệ hữu cơ giữa con người khí công nghệ cao thì yếu tố con người trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng quyết định thắng lợi của một trận đánh, còn khí thì rất quan trọng cho chiến thắng của trận đánh ấy. Thế nhưng, các thế lực thù địch đã và đang ráo riết tuyên truyền, khuếch trương sức mạnh quyết định thắng lợi của khí trong mọi cuộc chiến. Chúng cho rằng, cứ bên tham chiến nào sở hữu khí công nghệ cao, phương tiện chiến tranh hiện đại chắc chắn sẽ giành phần thắng; để rồi quên đi bài học đắt giá thực dân Pháp đế quốc Mĩ phải gánh chịu trong chiến tranh Việt Nam.

Thứ Sáu, 27 tháng 12, 2019

Thứ Năm, 26 tháng 12, 2019

NHÌN LẠI DIỄN BIẾN Ở BIỂN ĐÔNG TRONG NĂM 2019

Ngày 25/12/2019, trang mạng "China*com" đăng bài viết của ông Lâm Dũng Tân, Chủ nhiệm Trung tâm Nghiên cứu Con đường tơ lụa trên biển thuộc Viện Nghiên cứu Hải Nam, Trung Quốc về tình hình Biển Đông năm 2019. Ông Lâm Dũng Tân đã xuyên tạc tình hình thực tế ở Biển Đông, vu cáo Việt Nam “gây ra tình hình căng thẳng” ở Biển Đông, đổ vấy cho Việt Nam “đơn phương triển khai hoạt động tác nghiệp khoan thăm dò dầu khí tại bãi Tư Chính từ tháng 5 đến tháng 10/2019, dẫn đến việc hai nước đối đầu trên biển”. 

Thứ Tư, 25 tháng 12, 2019

THÔNG TIN 7 CÔNG DÂN VIỆT NAM TỬ VONG TẠI KHU VỰC BIÊN GIỚI VIỆT NAM - TRUNG QUỐC


Ngày 28/11, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Quảng Ninh Lê Ngọc Hân khẳng định: "Thông tin trên mạng xã hội về 7 công dân Việt Nam tử vong tại khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc là sai sự thật".

KHÔNG CÓ THỨ TỰ DO VÔ LỐI


Xin được đưa thêm những ví dụ hết sức sinh động khác để chứng minh rằng, các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin, tự do Internet luôn được Đảng, Nhà nước Việt Nam coi trọng, bảo đảm thực thi một cách xuyên suốt, nhất quán. Việc bảo đảm các quyền tự do cơ bản của con người ở Việt Nam dựa trên cơ sở pháp luật quốc tế, phù hợp với tình hình thực tiễn chính là động lực của sự nghiệp đổi mới đất nước. Sự tự do trong sử dụng Internet ở Việt Nam đã có tác động tích cực, đóng góp lớn vào quá trình phát triển của đất nước.

SỰ TĂNG TRƯỞNG THẦN KỲ


Không lấy gì làm ngạc nhiên, khi một lần nữa một tổ chức nước ngoài lại có những nhận xét, đánh giá hết sức thiếu thực tiễn, chụp mũ, đặt điều về các vấn đề liên quan đến Việt Nam. Lần này là tự do Internet.

LẬT TẨY CHIÊU TRÒ XUYÊN TẠC CỦA BỌN PHẢN ĐỘNG KHI BÌNH LUẬN VIỆC CÔNG BỐ SÁCH TRẮNG “QUỐC PHÒNG VIỆT NAM 2019”


Ngày 25-11-2019, Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức họp báo công bố Sách trắng “Quốc phòng Việt Nam 2019”. Tại buổi họp báo, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng có nhắc đến việc Việt Nam vẫn kiên trì chính sách đối ngoại quốc phòng “3 không” gồm có: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài mượn căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác.

Thứ Hai, 23 tháng 12, 2019


NHỮNG ÂM MƯU CHỐNG PHÁ TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ XIII
Hiện nay, họ đang sử dụng thủ đoạn là tập trung tác động vào nhận thức, tâm lý, tình cảm, niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN; xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bôi đen hình ảnh, thành tựu của đất nước, hình ảnh lãnh tụ. Họ thường lợi dụng những hạn chế, thiếu sót của ta để “chính trị hóa” các vấn đề về kinh tế-xã hội, từ đó tác động, làm thay đổi nhận thức về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước.

ĐẢNG TA LUÔN LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH
Hòng mưu toan phá hoại đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2021- 2025, thời gian qua các thế lực thù địch lại tiếp tục đẩy mạnh chiến dịch xuyên tạc, bóp méo, vu khống, bịa đặt hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với đất nước. Họ tiếp tục cho rằng, phải xóa bỏ chế độ một đảng, lập đa đảng mới khắc phục được các căn bệnh trầm kha của xã hội, như tham nhũng, quan liêu, thoái hóa, biến chất…
Hiến pháp năm 1992 của nước ta được sửa đổi, bổ sung năm 2013 đã tiếp tục quy định về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước. Lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX đã chứng minh điều đó. Thắng lợi của công cuộc đổi mới hơn 30 năm qua do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo được nhân dân ghi nhận, đồng tình. Đến nay, tuy còn có khó khăn nhất định, song, nhìn chung chính trị xã hội luôn giữ vững ổn định, kinh tế tiếp tục phát triển tăng trưởng, đời sống nhân dân được cải thiện; QPAN được tăng cường, củng cố ngày càng vững chắc; quan hệ đối ngoại mở rộng, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế khu vực và thế giới… Cơ đồ của đất nước chưa bao giờ được vững vàng, phồn vinh, phát triển như hiện nay. Không có sự lãnh đạo và chèo lái tài tình của Đảng Cộng sản và sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân đân và bạn bè quốc tế thì đất nước sẽ không có cơ đồ như hôm nay.
Sự khủng hoảng triền miên của các đảng phái chính trị phương Tây hay gần đây ở một số nước khu vực Đông Nam Á đang là một thực tế sinh động bác bỏ luận điểm “phải có đa đảng thì Việt Nam mới phát triển, vượt qua tụt hậu”. Trong thời đại ngày nay, đảng nào chỉ đại diện hạn hẹp cho lợi ích của thiểu số giàu có, thì dù có thích ứng đến đâu cũng khó tồn tại bền vững được. Đảng Xã hội dân chủ Thụy Điển nắm quyền từ năm 1932, sau 44 năm đưa Thụy Điển từ một nước lạc hậu, nghèo nàn trở thành một nước phát triển. Nhưng tại sao năm 1976, Đảng Xã hội dân chủ Thụy Điển thất cử, Đảng khác lên thay. Từ đó đến nay, có lúc giành được quyền, có lúc lại mất quyền lãnh đạo.v.v…
Về cái gọi là “đa nguyên mới có dân chủ”. Thực tế cho thấy, sự phát triển của dân chủ phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó, nhân tố quyết định nhất là trình độ phát triển kinh tế và thực thi hệ thống chính sách, pháp luật để bảo đảm và phát triển được các quyền của con người và lợi ích quốc gia, dân tộc.
Ngay từ khi ra đời và suốt tiến trình cách mạng, Đảng cộng sản Việt Nam luôn nhất quán phát triển kinh tế trên nền tảng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, đa dạng hóa các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước và tập thể đóng vai trò chủ đạo, khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi người dân làm giàu chính đáng. Hiến pháp và hệ thống pháp luật Việt Nam luôn đề cao và nhất quán bảo đảm các quyền về kinh tế, văn hóa, tinh thần, chính trị, tôn giáo, dân tộc, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Kiên quyết xử lý mọi hành vi vi phạm nhân quyền. Gắn chặt nhân quyền với độc lập dân tộc và CNXH…Đó là điều kiện cần và đủ cho sự phát triển dân chủ.
Đảng cộng sản Việt Nam lên nắm quyền qua quá trình đấu tranh giành tự do và độc lập cho đất nước, trải qua chiến tranh và cách mạng, do chính nhân dân thừa nhận và suy tôn, mà không phải do lực lượng bên ngoài áp đặt. Sau ba thập kỷ chiến tranh, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đánh thắng mọi thế lực ngoại xâm, khôi phục được Việt Nam thành một nước độc lập và thống nhất. Ban lãnh đạo của Đảng nằm trong số ổn định và thật sự nhất trí nhất trong các nước XHCN. Đảng viên của Đảng bao gồm một phần lớn những người tận tụy và yêu nước nhất ở Việt Nam. Hơn nữa đó là một đảng mà sự tồn vong và thắng lợi cuối cùng đã dựa vào việc huy động sự ủng hộ của quần chúng... Nguồn sống và sức sống, sức mạnh của Đảng là quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân. Điều đó đã được lịch sử gần 100 năm qua đã xác nhận.
Ở Việt Nam trong tương lai khó có thể hình dung cơ sở xã hội cho việc xây dựng những đảng có khả năng cạnh tranh với Đảng Cộng sản Việt Nam... Hơn nữa, duy trì hệ thống một đảng không chỉ vì lý do tư tưởng mà còn hầu hết đảng viên đều tin rằng đường lối chính trị đa đảng sẽ làm trầm trọng thêm những chia rẽ giữa các lực lượng trong xã hội dẫn đến làm mất ổn định chính trị, xã hội. Cần thấy rõ rằng, những người phê phán chế độ một đảng ở nước ta thực ra là muốn hợp pháp hóa vai trò của các lực lượng chính trị phản động đã bị nhân dân ta đánh đổ, bị lịch sử vượt qua.


Không thể xuyên tạc bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam


Không thể xuyên tạc bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam

 

 

Ấy vậy mà gần đây, trên một vài trang mạng lại có kẻ xuyên tạc rằng: Quân đội không vì mục đích lý tưởng mà vì miếng cơm, manh áo và lợi ích cá nhân, sẵn sàng phản bội Đảng khi không được cung cấp đủ lợi ích... Đây là một giọng điệu hết sức nguy hiểm bởi lẽ nó đã trắng trợn xuyên tạc bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta.
Lịch sử 75 năm xây dựng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội ta đã khẳng định, QĐND Việt Nam luôn vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ), hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội (CNXH), vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Vì lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc, của nhân dân, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội đã sẵn sàng lên đường chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng cao đẹp: Độc lập dân tộc và CNXH.
QĐND Việt Nam là công cụ bạo lực vũ trang, lực lượng chính trị trung thành của Đảng, của Nhà nước, vì lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc, của nhân dân trong thực hiện vai trò là lực lượng nòng cốt hỗ trợ cho quần chúng nhân dân đứng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa, giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành chính quyền về tay nhân dân, tham gia xây dựng và bảo vệ chính quyền, bảo vệ thành quả của cách mạng. Quân đội ta là lực lượng nòng cốt, cùng toàn dân tiến hành đấu tranh và đã giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược. Là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ và tham gia vào công cuộc kiến thiết, xây dựng CNXH ở miền Bắc. Là lực lượng nòng cốt, cùng đồng bào hai miền Nam, Bắc tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên CNXH. Là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (XHCN), tham gia khắc phục hậu quả sau chiến tranh, góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 
Trung thành với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân, với Tổ quốc và chế độ XHCN; SSCĐ, hy sinh vì lợi ích của dân tộc, của nhân dân là vấn đề thuộc về bản chất của QĐND Việt Nam, quân đội cách mạng, quân đội kiểu mới, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, hy sinh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Ngay trong khói lửa của những cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, biết bao cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì lợi ích cao nhất là giành độc lập, tự do cho dân tộc, đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ quân đội đã dũng cảm vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để huấn luyện, SSCĐ, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ chế độ XHCN, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước; thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đội quân công tác, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao, biên giới, hải đảo; tham gia lao động sản xuất xây dựng đất nước, tham gia phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn; tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc…
Cùng với việc giáo dục, rèn luyện để QĐND Việt Nam luôn luôn là công cụ bạo lực vũ trang, lực lượng chính trị trung thành của Đảng, của Nhà nước, vì lợi ích của dân tộc, của nhân dân; trong điều kiện hòa bình, với sự phát triển toàn diện của đất nước do thắng lợi của công cuộc đổi mới, Đảng, Nhà nước và nhân dân cũng hết sức quan tâm bảo đảm lợi ích vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ quân đội.
Bằng sự quan tâm sâu sắc, với những chủ trương đúng đắn, kịp thời, Đảng và Nhà nước thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện các chế độ, chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội, nhất là chế độ, chính sách đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, những người bị nhiễm chất độc da cam/dioxin… tạo việc làm cho những quân nhân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự về các cơ quan, địa phương làm việc…
Sự quan tâm đến chế độ chính sách của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong những năm qua của Đảng, Nhà nước và của các tổ chức chính trị-xã hội, của nhân dân đối với quân đội, không chỉ khẳng định sự quan tâm chăm lo của Đảng, của Nhà nước và nhân dân trong quá trình xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo đảm cho QĐND Việt Nam mãi mãi là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng, của Nhà nước, của nhân dân, góp phần củng cố, tăng cường bản chất cách mạng của QĐND Việt Nam, mà còn là nguồn động viên, cổ vũ to lớn đối với cán bộ, chiến sĩ quân đội, bảo đảm cho mọi cán bộ, chiến sĩ an tâm xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc.
Trong điều kiện tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, cùng với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta giành được trong hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta vẫn đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức mới; nhân dân ta, nhất là ở vùng sâu, vùng cao, vùng xa, biên giới, hải đảo vẫn còn nhiều khó khăn cả về đời sống vật chất và tinh thần. Vì vậy, sự quan tâm bảo đảm về vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ quân đội cũng còn gặp nhiều khó khăn, nhưng không vì thế mà cán bộ, chiến sĩ quân đội lại suy giảm bản chất của quân đội cách mạng. Ngược lại, càng trong khó khăn, gian khổ, cán bộ, chiến sĩ quân đội càng sáng ngời bản chất cách mạng, sáng ngời bản chất, truyền thống của Bộ đội Cụ Hồ.
Những giọng điệu mà kẻ xấu tán phát trên mạng không phải là do nhận thức chưa đầy đủ, thiếu đúng đắn về bản chất của QĐND Việt Nam mà thực ra họ đang cố tình xuyên tạc sự thật, phủ nhận bản chất cách mạng của QĐND Việt Nam, kích động chia rẽ quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Sâu xa hơn là "phi chính trị hóa" quân đội, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng với quân đội.
Trong thời kỳ mới, cùng với đấu tranh phản bác những giọng điệu nguy hiểm ấy, chúng ta cần tập trung xây dựng bảo đảm cho quân đội luôn luôn là công cụ bạo lực, lực lượng chính trị trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, SSCĐ, hy sinh vì lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc, của nhân dân, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ.
Để làm được điều ấy, trước hết cần thường xuyên chăm lo giáo dục, rèn luyện, tăng cường bản chất cách mạng của quân đội, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Xây dựng lòng trung thành của quân đội trong thời kỳ mới thực chất là tiếp tục tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc, làm cho quân đội kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Làm cho quân đội tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp, pháp luật Nhà nước; thấm nhuần sâu sắc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị, quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cùng với đó, cần xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có trí tuệ, tinh thông kỹ, chiến thuật, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, có lòng yêu nước, yêu CNXH và tinh thần quốc tế vô sản cao cả. Mặt khác, cần thường xuyên quan tâm bổ sung, hoàn thiện các chế độ, chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội, đáp ứng những nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của cán bộ, chiến sĩ quân đội, phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước, của quân đội. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm, cống hiến với hưởng thụ, thể hiện bản chất của quân đội cách mạng trong điều kiện mới. Đồng thời, mỗi cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng trong quân đội cũng phải tích cực, chủ động đấu tranh phòng, chống những luận điệu xuyên tạc bản chất cách mạng của QĐND Việt Nam trong tình hình mới.

Vạch trần âm mưu lợi dụng thông tin dự án đường sắt để chống phá Nhà nước


Vạch trần âm mưu lợi dụng thông tin dự án đường sắt

để chống phá Nhà nước


Ngay sau đó, Dự án giao thông đường sắt quan trọng này đã nhận được nhiều ý kiến, phản biện trái chiều. Lợi dụng sự việc này, các phần tử cơ hội chính trị lập tức có hành vi xuyên tạc, kích động chống phá Việt Nam.
Theo thông tin, tháng 4-2019, Phó Tỉnh trưởng thường trực tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) Tống Quốc Anh trong chuyến thăm Việt Nam đã kiến nghị Chính phủ các giải pháp để hai bên thúc đẩy quan hệ hợp tác. Trong đó có việc cải tạo tuyến đường sắt trung chuyển nối từ Lào Cai tới Hải Phòng nhằm tăng cường hơn nữa giao thương của Vân Nam và thị trường phía Tây Nam Trung Quốc với các tỉnh của Việt Nam và giúp đưa hàng hoá của Vân Nam ra thế giới qua cảng Hải Phòng.
Đến thời điểm vừa qua, tư vấn lập quy hoạch dự kiến toàn tuyến có chiều dài 392km với 38 ga, chạy chung tàu khách và tàu hàng. Bộ Giao thông Vận tải đã làm việc với các địa phương để xin ý kiến về phương án hướng tuyến, vị trí nhà ga trên tuyến làm cơ sở dành quỹ đất phục vụ dự án đầu tư trong tương lai. Dự kiến năng lực vận tải dài hạn của tuyến dự báo là 10 triệu tấn hàng hoá/năm và khai thác 15 đôi tàu/ngày. Tốc độ thiết kế 160km/h (tàu khách) và 90km/h (tàu hàng). Số vốn đầu tư khoảng 100.000 tỷ đồng (chưa kể giải phóng mặt bằng).
Theo chiến lược phát triển giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã định hướng phát triển tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng có chiều dài dự kiến khoảng 380km, đường đôi khổ tiêu chuẩn 1.435mm điện khí hoá. Việc đầu tư là đúng với chủ trương, chiến lược phát triển giao thông vận tải đường sắt Việt Nam và sẽ mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội.
Về giá trị của tuyến đường sắt, Bộ Giao thông Vận tải cho rằng, dự án có vị trí rất quan trọng trong việc hình thành mạng lưới vận tải đường sắt phía Bắc sông Hồng. Đây là tuyến đường sắt chạy theo hành lang Đông – Tây nối liền vùng Tây Bắc với vùng đồng bằng và cảng biển Hải Phòng, một trong những trung tâm hàng hải lớn nhất Việt Nam và cửa ngõ của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ.
Tuy nhiên đánh giá về lợi ích kinh tế, nhiều chuyên gia nhận định, trong bối cảnh hiện nay, chúng ta bỏ nhiều tiền nhưng thu lợi rất ít. Hiện nhu cầu vận tải trên tuyến đường không lớn, việc đầu tư sẽ lãng phí, nợ công cao trong khi nguồn vốn hạn hẹp, với số vốn đầu tư tương đương 1/13 tổng thu ngân sách năm 2018 thì nguồn lấy ở đâu? Nếu vay thì đẩy nợ nước ngoài đến mức nào?
Trong khi đó, chúng ta đang rất cần vốn để đầu tư vào nhiều ngành nghề, như một số ngành công nghệ cao, chế tạo, chế biến để tạo đà tăng trưởng, xuất khẩu. Đồng thời, ở các tỉnh dự kiến có đường sắt chạy qua, như Hà Nội – Hải Phòng hiện đã có tuyến giao thông khá hiện đại và đồng bộ như Quốc lộ 5, cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, tuyến đường sắt; còn Hà Nội – Lào Cai cũng có khá đầy đủ cả quốc lộ, cao tốc và đường sắt song song. Bên cạnh đó hiện dự án đường sắt tương tự Yên Viên (Hà Nội) – Cái Lân (Quảng Ninh) đang “đắp chiếu” một số đoạn, nên tập trung hoàn thành thay vì đề xuất đầu tư tuyến mới rất tốn kém, gây lãng phí cơ sở hạ tầng hiện có và chi phí giải phóng mặt bằng, phải vay nước ngoài dẫn đến tình trạng nợ công cao, vượt trần cho phép.
Mặt khác, nhiều chuyên gia băn khoăn cần có đánh giá khoa học, cẩn trọng, toàn diện về hiệu quả kinh tế, văn hoá, xã hội và những tác động đối với an ninh, quốc phòng.
Những lo lắng, băn khoăn của nhiều chuyên gia nêu lên như trên được các cơ quan báo chí truyền thông chính thống đăng tải mang tính phản biện, nêu vấn đề để cơ quan chức năng có nhìn nhận, nghiên cứu, đánh giá thấu đáo những tác động trên các mặt là hoàn toàn bình thường, cần thiết, thể hiện ý thức xây dựng, trách nhiệm chính trị đối với lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân. Tuy nhiên, lợi dụng vào sự việc này, các phần tử cơ hội, đối tượng phản động suy diễn xuyên tạc, quy kết chế độ, Đảng, Nhà nước, kích động kỳ thị vùng miền, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc thể hiện bản chất lưu manh của những “con buôn” chính trị với những chiêu trò lố bịch.
Điển hình, trên một số phương tiện truyền thông quốc tế vốn luôn giữ thái độ hằn học, thiếu thiện cảm đối với Việt Nam như RFA, VOA cùng hàng chục trang phản động, blog hải ngoại, nhiều tài khoản mạng xã hội Facebook đăng tải các bài, phân tích, nhận định theo chiều hướng tiêu cực, kích động, đưa ra quan điểm xuyên tạc, luận điệu vu cáo.
Họ cho rằng: “…Biết hợp tác với nhà cầm quyền Trung Quốc là mang tai họa cho Việt Nam mà họ vẫn liều lĩnh tiến hành. Họ đã mang về cho nhân dân Việt Nam bao nhiêu dự án đại họa từ nhà cầm quyền Trung Quốc mà họ chưa sáng mắt, lại còn tiếp tục rước về Việt Nam những dự án đại họa khác”.
Hay liên hệ sự việc này với vụ 39 người chết ở Anh, các đối tượng cho rằng: thần dân, đồng bào mình lại chấp nhận đánh cược cả sinh mạng để ra đi như thế, cũng có xu hướng từ bỏ cái “thiên đường XHCN”. Hay kích động, chia rẽ đoàn kết dân tộc, vùng miền, chúng cho rằng: Đảng, nhà nước không quan tâm đầu tư, xây dựng khu vực đồng bằng sông Cửu Long, sau hơn 40 năm thống nhất đất nước, 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long mới có 40km đường cao tốc...
Đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng là một dự án giao thông quan trọng với vốn đầu tư lớn. Đây mới chỉ là thông tin bước đầu về phương án quy hoạch. Để có đánh giá một cách đầy đủ, các cơ quan chức năng phải qua rất nhiều khâu khảo sát, phân tích toàn diện, cẩn trọng, khách quan, có luận cứ khoa học về hiệu quả kinh tế, tác động nhiều mặt của đời sống, xã hội, an ninh, quốc phòng. Dự án có được đầu tư, thực hiện hay không? Khi nào?
Những vấn đề đó được Đảng, Quốc hội, Chính phủ xem xét, quyết định trên cơ sở lợi ích quốc gia, dân tộc là tối cao. Bất kể là nhà đầu tư nào khi tham gia hợp tác các dự án kinh tế vào Việt Nam đều phải tuân thủ các quy định hệ thống pháp luật hiện hành.
Âm mưu, thủ đoạn của các đối tượng phản động hết sức tinh vi, dựa vào thông tin, sự việc có thật được dư luận quan tâm, từ đó xuyên tạc, kích động tâm lý bài Trung, phá hoại quan hệ kinh tế đối ngoại, làm suy giảm niềm tin đối với sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của nhà nước, hạ thấp uy tín của lãnh đạo cấp cao; miệt thị, chia rẽ dân tộc, khu vực, vùng miền, thể hiện dã tâm chống đối, mưu đồ cơ hội chính trị. Những luận điệu xuyên tạc này, cán bộ, đảng viên, nhân dân cần đề cao cảnh giác, nhận diện, đấu tranh, phản bác làm thất bại âm mưu của chúng.

Không thể xuyên tạc chính sách quốc phòng của Việt Na


Không thể xuyên tạc chính sách quốc phòng của Việt Nam

Nói về những điểm mới trong Sách trắng lần này, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cho biết, từ chính sách "ba không" trước đây, nay có thể được hiểu một cách đầy đủ và chính xác hơn thành "bốn không" là: Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh cũng cho biết, Việt Nam sẽ tăng cường hợp tác quốc phòng với các nước để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung.
Tuỳ vào diễn biến tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.
Ngay sau khi Bộ Quốc phòng công bố nguyên tắc “bốn không” kể trên, các thế lực thù địch, phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã đăng đàn xuyên tạc chính sách quốc phòng của Việt Nam. Các luồng thông tin sai lệch được các đối tượng đưa ra khiến tình hình trở nên phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức của người dân.
Xét về chính sách quốc phòng, từ lâu, Đảng, Nhà nước ta thực hiện chủ trương “ba không”, bao gồm: không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào; không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia.
Như thông tin nói trên của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, chính sách quốc phòng hiện nay được hiểu đầy đủ thành “bốn không”. Trong đó, có chủ trương “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”.
Chính sách quốc phòng nói trên là phù hợp với đường lối đối ngoại của đất nước, phù hợp với lịch sử dựng và giữ nước và tình hình thực tiễn của Việt Nam. Việc xuyên tạc, chống phá chính sách quốc phòng của Việt Nam không phải là động thái mới.
Tuy nhiên, sau khi Sách trắng quốc phòng Việt Nam 2019 được công bố, các đối tượng lại đẩy mạnh việc chống phá, suy diễn, xuyên tạc nhiều vấn đề trong chính sách quốc phòng. Các đối tượng cho rằng chính sách “bốn không” như trên là “tự trói tay chân mình”; là “không đủ khả năng để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ”; là lạc hậu, lỗi thời, không phù hợp với thực tế, đi ngược lại với xu thế toàn cầu hoá… 
Đặc biệt, lợi dụng tình hình phức tạp trên Biển Đông, các đối tượng đã đả kích, xuyên tạc, cho rằng nếu thực hiện chính sách quốc phòng như trên thì Việt Nam sẽ không thể giữ vững chủ quyền, không thể bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đi đôi với việc phê phán, chỉ trích chính sách quốc phòng của Việt Nam, các đối tượng tìm cách hô hào, cổ suý tư tưởng phải dựa dẫm, lệ thuộc vào các nước khác, đặc biệt là các quốc gia phương Tây.
Bàn về chính sách quốc phòng của Việt Nam, chúng ta cần nhìn nhận một cách toàn diện, đầy đủ. Về mặt lịch sử, trải qua quá trình đấu tranh dựng và giữ nước, chúng ta đã đúc kết được bài học vô cùng quý báu là thực hiện đường lối quân sự độc lập, tự chủ, gắn liền với sự lãnh đạo sáng suốt, toàn diện về mọi mặt của Đảng. Sức mạnh nội lực, tự lực, tự cường luôn là nguồn sức mạnh to lớn nhất, vững chắc nhất để bảo vệ Tổ quốc.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, khi các mối quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng, bên cạnh việc hợp tác cùng phát triển, giữa các quốc gia vẫn luôn tồn tại sự cạnh tranh với nhau. Suy cho cùng, chỉ có lợi ích quốc gia, dân tộc là tối thượng, là vĩnh viễn. Chính sách quốc phòng có vai trò đặc biệt quan trọng, quan hệ trực tiếp đến vận mệnh của quốc gia, dân tộc.
Để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chúng ta cần củng cố và phát huy tối đa sức mạnh nội tại, đồng thời tranh thủ sức mạnh thời đại. Trong đó, điều kiên quyết là sức mạnh nội lực phải đứng ở vị trí trọng tâm, không thể dựa dẫm, phụ thuộc, trông chờ vào sự cứu cánh bên ngoài.
Việc Việt Nam thực hiện chính sách không tham gia liên minh quân sự không phải là hành động “tự trói tay chân” như các đối tượng vẫn rêu rao. Thực tế, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhận thức rõ tầm quan trọng của lĩnh vực quốc phòng.
Thời gian qua, lực lượng Quân đội Việt Nam đã được đầu tư, phát triển và ngày càng tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Việc tăng cường sức mạnh nội lực, không tham gia vào các liên minh quân sự cho thấy sự chủ động trong chính sách quốc phòng của Việt Nam.
Với chính sách này, chúng ta có thể đấu tranh, ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm phạm chủ quyền, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Đồng thời, chúng ta cũng cần hiểu rõ, việc Việt Nam không tham gia vào các liên minh quân sự không đồng nghĩa với việc chúng ta khép mình với thế giới bên ngoài.  Trong lĩnh vực quân sự, chúng ta vẫn luôn có sự giao lưu, học tập và tranh thủ sức mạnh của bạn bè quốc tế.
Mặt khác, thông qua chính sách quốc phòng có thể thấy rõ thiện chí của Việt Nam trong việc thúc đẩy hoà bình trên thế giới. Chúng ta kiên định thực hiện các chính sách không liên kết nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài mượn căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Các chính sách này hoàn toàn phù hợp với những nguyên tắc của luật pháp quốc tế.
Việc các đối tượng xuyên tạc chính sách quốc phòng của Việt Nam không phải là sự “góp ý, hiến kế” mà đây chính là chiêu bài nhằm kích động; chống phá Đảng, Nhà nước, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực quốc phòng, hiện thực hoá mưu đồ “phi chính trị hoá” lực lượng vũ trang. Ngoài ra, chúng ta cần xác định rõ, tất cả các liên minh quân sự đều bắt nguồn từ việc chia sẻ lợi ích. Không một quốc gia nào sẵn sàng hy sinh vì quốc gia khác.
Mục đích sâu xa khi các đối tượng kêu gọi, hướng lái Việt Nam tham gia vào các liên minh quân sự, đặc biệt là liên minh với các quốc gia phương Tây (là những nước có chế độ chính trị khác với Việt Nam) nhằm đưa Việt Nam đi vào quỹ đạo lệ thuộc, thông qua đó để tiến hành thay đổi chế độ chính trị, thay đổi bản chất xã hội của chúng ta. Nếu chúng ta không thực hiện đường lối quốc phòng độc lập, tự chủ, chính bản thân chúng ta sẽ bị chuyển hoá, lệ thuộc.
Trong trật tự thế giới đa cực hiện nay, các mối quan hệ quốc tế trở nên vô cùng phức tạp. Ranh giới giữa đối tác, đối tượng tồn tại đan xen lẫn nhau; trong cùng một chủ thể có những khía cạnh là đối tác để chúng ta tranh thủ, hợp tác nhưng cũng có những khía cạnh là đối tượng để đấu tranh.
Chính vì vậy, việc nghiêng vào bất cứ phe nào, phụ thuộc vào bất cứ quốc gia nào cũng không phải là sự lựa chọn thích hợp. Chỉ có phát huy sức mạnh độc lập, tự chủ mới là cách thức tối ưu nhất để bảo vệ Tổ quốc.