Thứ Bảy, 1 tháng 5, 2021

Bầu cử và ứng cử là những quyền chính trị cơ bản của mỗi công dân Việt Nam

Đại biểu Quốc hội là đại biểu của nhân dân. Do vậy, nhân dân luôn có vai trò to lớn trong mọi khâu, mọi quy trình bầu cử. Việc bầu cử đại biểu Quốc hội ở nước ta đã diễn ra được 14 khóa, từ khóa đầu tiên (6/1/1946) đến nay đều được tiến hành một cách dân chủ, công khai bảo đảm đúng quy trình, thủ tục, nguyên tắc và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Kết quả và thành công của các cuộc bầu cử, một lần nữa góp phần khẳng định bản chất ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và những giá trị truyền thống cốt lõi của dân tộc Việt Nam. Đó là việc người dân luôn chủ động, trách nhiệm, thực hiện trọn vẹn trách nhiệm, bổn phận công dân đối với Tổ quốc. Mỗi cuộc bầu cử tuy diễn ra ở thời điểm cách mạng khác nhau, với những khó khăn, chông gai khác nhau, song toàn dân, toàn quân ta luôn một lòng hướng về Đảng và Quốc hội, đoàn kết thực hiện đầy đủ trách nhiệm, bổn phận, để mỗi kỳ bầu cử, số cử tri đi bầu luôn đạt tỷ lệ cao, góp phần quan trọng vào thành công của cuộc bầu cử. Ở Việt Nam, quyền bầu cử và ứng cử là những quyền chính trị cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp - đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân. Bầu cử là một thể chế dân chủ đã có từ lâu. Nhà nước ta là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nhân dân tổ chức ra Nhà nước bằng cách bầu ra các cơ quan quyền lực nhà nước. Thông qua bầu cử, Nhân dân trực tiếp bỏ phiếu bầu người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình, thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước; góp phần thiết lập bộ máy nhà nước để tiến hành các hoạt động quản lý xã hội. Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta đã ghi nhận quyền này tại Điều 18 như sau: “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử trừ những người mất trí và những người mất công quyền. Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử”, và tiếp tục được khẳng định xuyên suốt trong các bản Hiến pháp năm 1959 (tại Điều 23), Hiến pháp năm 1980 (tại Điều 57), Hiến pháp năm 1992 (tại Điều 54). Điều 27 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND”. Điều 2 Luật Bầu cử số 85/2015/QH13 ở Việt Nam quy định: “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐNDcác cấp theo quy định của Luật này”. Khoản 5, Điều 4 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp năm 2015 quy định “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp”. Rõ ràng, Việt Nam không hề có hạn chế quyền ứng cử tự do của công dân nếu họ xét thấy mình đủ đức, đủ tài ra gánh vác công việc chung của đất nước và được quần chúng nhân dân tín nhiệm. Đồng thời, việc tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ, trách nhiệm nặng nề của mỗi công dân nhằm mục đích lựa chọn cho mình những người đại diện và trao quyền cho họ thay mặt mình quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, dân tộc. Điển hình như trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 diễn ra vào ngày 22/5/2016, hơn 69 triệu cử tri tại 91.476 tổ bầu cử trong cả nước đã đồng loạt đi bỏ phiếu. Cuộc bầu cử đã diễn ra trong không khí phấn khởi, tin tưởng, thành công tốt đẹp. Từ miền xuôi đến miền ngược, từ đồng bằng đến hải đảo, từ thành thị đến nông thôn, đồng bào cử tri cả nước nô nức đi bỏ phiếu với tỷ lệ đi bầu cao, khẳng định trách nhiệm và quyền lợi công dân, ngay cả đối với những cử tri do điều kiện sức khỏe bị ốm đau, bệnh tật vẫn thực hiện trọn vẹn quyền và nghĩa vụ của mình khi thùng phiếu được đưa tới tận giường bệnh, các cơ sở y tế. Sau cuộc bầu cử, nhiều báo chí nước ngoài đều đã ghi nhận tính dân chủ, khoa học, cách mạng trong công tác bầu cử ở Việt Nam. Một số tờ báo nước ngoài phản ánh, phân tích, đánh giá rằng cuộc bầu cử ở Việt Nam, không phân biệt chức vụ, địa vị, cương vị công tác, từ người nông dân, công nhân, cán bộ, đảng viên, cho đến các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội đều thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ trong việc ứng cử và bầu cử theo đúng nguyên tắc, quy định của pháp luật.Thực tế, quyền và nghĩa vụ đó không chỉ thể hiện trong ngày bầu cử, mà hơn thế, còn được minh chứng trong suốt quá trình tham gia đề cử, giới thiệu người ứng cử và bỏ phiếu, khẳng định bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa; khẳng định chân lý: Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhân dân tổ chức ra Nhà nước bằng cách bầu ra các cơ quan quyền lực nhà nước (ở Trung ương là Quốc hội; ở địa phương là HĐNDcác cấp). Thông qua bầu cử, nhân dân trực tiếp bỏ phiếu bầu người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình, để thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước; góp phần thiết lập ra bộ máy nhà nước để tiến hành các hoạt động quản lý xã hội.

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp là bảo đảm ý chí của nhân dân và phù hợp với xu hướng tiến bộ xã hội

Bầu cử là việc công dân của một quốc gia lựa chọn những người đại diện để trao quyền cho họ thay mặt mình quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước. Mỗi quốc gia có cách tổ chức và quy định bầu cử khác nhau, không thể lấy mô hình của nước này áp đặt lên nước khác được bởi vì hệ thống chính trị nói chung, hệ thống bầu cử nói riêng trên thế giới hiện rất đa dạng, cho nên tùy thuộc vào chế độ chính trị, lịch sử, kinh tế, văn hóa của quốc gia - dân tộc và xu thế tiến bộ của nhân loại như thế nào. Về mô hình bầu cử ccas nước cũng khác nhau: mô hình bầu cử ở các quốc gia theo chế độ đa đảng (lấy việc bầu cho đại diện của mỗi đảng làm tiêu chí) khác với các quốc gia bầu cử theo tỷ lệ cử tri và theo địa bàn hành chính; mô hình bầu cử trực tiếp khác với mô hình bầu cử gián tiếp - thông qua đại cử tri… Song về tổng quan luật bầu cử một số nước trên thế giới hiện nay là theo nguyên tắc: “phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”. Ở Việt Nam, Hiến pháp và Luật Bầu cử Việt Nam quy định: cử tri bầu đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp theo bốn nguyên tắc: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Những quy định của pháp luật bầu cử ở Việt Nam thể hiện một cách nhất quán nhận thức về các nguyên tắc bầu cử để đảm bảo ý chí của nhân dân, phù hợp với xu hướng tiến bộ xã hội, phù hợp với Tuyên ngôn nhân quyền mà Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 đã nêu rõ: “Ý chí của nhân dân phải là cơ sở của quyền lực nhà nước. Ý chí này thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và chân thực, theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín hoặc bằng những tiến trình bầu cử tự do tương đương”. Về nguyên tắc phổ thông: pháp luật bầu cử của các nước đều khẳng định, nguyên tắc phổ thông đầu phiếu là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ bầu cử. Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu trong bầu cử bảo đảm để mọi công dân không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, (trừ những người mất trí hay những người bị tước quyền bầu cử trên cơ sở của pháp luật), đến tuổi trưởng thành đều được trao quyền bầu cử. Yêu cầu của nguyên tắc này là Nhà nước phải bảo đảm để cuộc bầu cử thực sự trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu cử của mình, bảo đảm tính dân chủ, công khai và sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trong bầu cử. Đối với Việt Nam, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND quy định đối với việc bầu cử đại biểu Quốc hội: (1) Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật, được Quốc hội ấn định và công bố chậm nhất là 115 ngày trước ngày diễn ra bầu cử; (2) Các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập công khai, có sự tham gia của đại diện các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và đoàn thể nhân dân; (3) Thời gian bỏ phiếu được quy định thống nhất trong cả nước từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối (trừ những trường hợp đặc biệt theo quy định của Luật); (4) Mọi công dân cư trú thường xuyên hoặc tạm trú đều được ghi tên vào danh sách cử tri; (5) Danh sách cử tri được niêm yết công khai chậm nhất là 40 ngày trước ngày diễn ra bầu cử; (6) Danh sách ứng cử viên cũng được lập và niêm yết công khai chậm nhất là 20 ngày trước ngày diễn ra bầu cử để cử tri tìm hiểu và lựa chọn. Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất để thỏa thuận về cơ cấu, thành phần, số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh Lào Cai khóa XVI, nhiệm kỳ 2021-2026. Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất để thỏa thuận về cơ cấu, thành phần, số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh Lào Cai khóa XVI, nhiệm kỳ 2021-2026. Về nguyên tắc bình đẳng: Bình đẳng trong bầu cử là nguyên tắc nhằm bảo đảm để mọi công dân đều có cơ hội ngang nhau tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào. Mỗi cử tri có một phiếu bầu đối với một cuộc bầu cử và giá trị phiếu bầu như nhau không phụ thuộc vào giới tính, địa vị xã hội, sắc tộc, tôn giáo,... Nguyên tắc này được thể hiện trong các quy định của pháp luật về quyền bầu cử và ứng cử của công dân. Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi cư trú; mỗi ứng cử viên chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử; mỗi cử tri chỉ được bỏ một phiếu bầu. Nguyên tắc bình đẳng còn đòi hỏi phải có sự phân bổ hợp lý cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu để bảo đảm tiếng nói đại diện của các vùng, miền, địa phương, các tầng lớp xã hội, các dân tộc thiểu số và phụ nữ phải có tỷ lệ đại biểu phù hợp. Về nguyên tắc trực tiếp: Bầu cử trực tiếp có nghĩa là cử tri trực tiếp thể hiện ý chí của mình qua lá phiếu, cử tri trực tiếp bầu ra đại biểu của mình chứ không qua một cấp đại diện cử tri nào.Nguyên tắc bầu cử trực tiếp đòi hỏi cử tri không được nhờ người bầu hộ, bầu thay hoặc bầu bằng cách gửi thư. Cử tri tự bỏ lá phiếu bầu vào hòm phiếu. Trường hợp cử tri không thể tự viết phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri; nếu cử tri vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.Trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến nơi ở của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện các thủ tục bỏ phiếu. Về nguyên tắc bỏ phiếu kín: thể hiện ở việc loại trừ sự theo dõi và kiểm soát từ bên ngoài đối với việc thể hiện ý chí (sự bỏ phiếu) của cử tri. Mục đích của nguyên tắc này là nhằm đảm bảo tự do đầy đủ sự thể hiện ý chí của cử tri.Để bảo đảm khách quan trong việc lựa chọn của cử tri, các nước thường quy định việc bỏ phiếu kín và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND nước ta quy định việc bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành bằng cách bỏ phiếu kín. Theo nguyên tắc này, cử tri bầu ai, không bầu ai đều được bảo đảm bí mật. Khi cử tri viết phiếu bầu không ai được đến gần, kể cả cán bộ, nhân viên các tổ chức phụ trách bầu cử; không ai được biết và can thiệp vào việc viết phiếu bầu của cử tri. Cử tri viết phiếu bầu trong buồng kín và bỏ phiếu vào hòm phiếu. Bốn nguyên tắc nói trên là một chỉnh thể, thiếu sót ở nguyên tắc nào cũng ảnh hưởng đến nguyên tắc khác. Để buộc các chủ thể phải tuân thủ các nguyên tắc nói trên, Nhà nước pháp điển hóa các nội dung của chúng thành các quy phạm pháp luật. Theo chiều hướng của sự phát triển xã hội ngày càng mở rộng dân chủ, thì các hình thức biểu hiện của các nguyên tắc bầu cử trên đây càng đa dạng, càng phong phú, càng góp phần đảm bảo tính chất dân chủ của các cuộc bầu cử. Việc thực hiện bốn nguyên tắc bầu cử nói trên là một nét ưu việt của chế độ dân chủ trong bầu cử và là thước đo trình độ dân chủ của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, quy tụ sức mạnh của quần chúng nhân dân, phát huy cao nhất quyền làm chủ của mỗi công dân; đồng thời, trao đổi để đi đến một cơ cấu đại biểu hợp lý đảm bảo cho các thành phần xã hội đều có đại diện trong Quốc hội mới. Quốc hội Việt Nam là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, có chức năng lập pháp, quyết định những chủ trương, chính sách quan trọng của đất nước về đối nội, đối ngoại và giám sát tối cao hoạt động của bộ máy Nhà nước. Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang nỗ lực đoàn kết hướng đến Đại hội lần thứ XIII của Đảng bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 sắp tới như ngày hội của toàn dân với tinh thần phấn khởi, tự hào để thông qua lá phiếu có trách nhiệm của mình lựa chọn những đại biểu thực sự có đức, có tài đại diện cho lợi ích, ý chí, nguyện vọng của nhân dân xứng đáng là nơi gửi gắm niềm tin của cử tri cả nước vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Thực hiện thành công cuộc bầu cử sẽ thiết thực góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì vậy, việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Do vậy, những luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng: “Việc bầu cử Quốc hội và HĐND chỉ là nghĩa vụ chứ không phải là quyền lợi, dân chủ, đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự”... là hoàn toàn xuyên tạc sai sự thật, nhằm tuyên truyền chống phá chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam trước thềm Đại hội Đảng lần thứ XIII, bầu cử Quốc hội và HĐNDcác cấp nhiệm kỳ 2021-2026, nhằm gây nhũng loạn thông tin, mâu thuẫn nội bộ mà thôi./.

Sao cố tình quên quyền quan trọng nhất? .

Thật lạ, bởi sau khi rêu rao, chống phá công tác phòng, chống dịch Covid-19 của Việt Nam không thành, rơi vào lạc lõng, nhiều trang mạng lại a dua theo phán xét của Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch-HRW) có trụ sở tại New York (Hoa Kỳ), cho rằng, Việt Nam gia tăng vi phạm nhân quyền, như: Hạn chế tự do biểu đạt; không bảo vệ được quyền riêng tư; bất bình đẳng trong khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội và hỗ trợ của chính phủ... . Lợi dụng tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, đối tượng xấu liên tục phát tán thông tin giả, thông tin xấu độc. Thông tin này vẫn thể hiện góc nhìn thiển cận, phiến diện một chiều, thậm chí là suy diễn, quy chụp của những thành phần bất mãn, chống đối. Bởi thực tế những nỗ lực và kết quả tốt đẹp của Đảng, Nhà nước, quân và dân Việt Nam đạt được trên mọi phương diện trong thời gian qua đều được nhân dân thấy rõ. Kết quả đó được thể hiện bằng thước đo chỉ số phát triển kinh tế, chỉ số hạnh phúc, niềm tin của người dân với Đảng, Nhà nước, cũng như Việt Nam được bạn bè quốc tế đánh giá là điểm sáng nhờ sự tăng hạng vượt bậc về thương hiệu quốc gia và những kết quả về kinh tế, xã hội đã đạt được trong năm 2020 đầy rẫy khó khăn chung của nhân loại. Thực tế là một số người bạn của tôi sống ở nước ngoài nhiều tháng nay rất sợ ra đường, bởi dịch Covid-19 hoành hành; mỗi ngày ở nhiều nước có hàng nghìn ca nhiễm mới, số người thiệt mạng ngày càng tăng; nếu bị nhiễm bệnh, số tiền phải trang trải quá lớn, vì thế ở nhà là giải pháp an toàn. Còn ở Việt Nam, Nhà nước đã quan tâm, hỗ trợ hết sức để bảo vệ sức khỏe, tính mạng cho người dân và cả người nước ngoài tại Việt Nam trong đại dịch Covid-19. Những kẻ tự cho mình cái quyền đấu tranh vì tự do, dân chủ, nhân quyền, sao lại cố tình quên rằng, "quyền được bảo vệ sinh mạng"-quyền được sống, chính là quyền cơ bản quan trọng nhất. Bạo loạn, biểu tình, dịch bệnh, thiên tai xảy ra mới thấy rõ sinh mạng của cá nhân, gia đình có được nhà nước đó, thể chế đó nỗ lực bảo vệ hay không? Không phải ngẫu nhiên, khi Tổ chức Theo dõi nhân quyền báo cáo, đánh giá Việt Nam vi phạm nhân quyền đã bị chỉ trích dữ dội, thậm chí nhiều tờ báo uy tín trên thế giới đã phản bác lại điều này bằng hàng loạt dẫn chứng thuyết phục. Muốn biết ở đâu thực sự có tự do, dân chủ, nhân quyền, trước hết hãy xem ở đó có tôn trọng, quan tâm bảo vệ sinh mạng, sự an toàn của con người hay không!

Nghiêm trị để răn đe

Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trình bày, đã nhấn mạnh:“Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”. Đây là sự cụ thể hóa, nhấn mạnh tính thực thi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, tinh thần thượng tôn pháp luật của mọi công dân, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Mọi cán bộ, đảng viên, mọi công dân đều phải có bổn phận chấp hành, không ai được ngả nghiêng, dao động... HIỂU ĐÚNG BẢN CHẤT, THỐNG NHẤT HÀNH ĐỘNG Đại hội XIII của Đảng thành công rất tốt đẹp mở ra thời kỳ mới đầy triển vọng của đất nước ta. Trong lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang ra sức thi đua, mở hướng đột phá vượt qua khó khăn do tác động của đại dịch Covid-19 toàn cầu, từng bước khôi phục và phát triển kinh tế, đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống, thì các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, phản động lại cay cú, tiếp tục tìm kẽ hở để lợi dụng chống phá. Một trong những chiêu trò của chúng là săm soi từng câu chữ trong các văn kiện và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng để xuyên tạc, kích động. Bám vào từ “nghiêm trị”, chúng lu loa lên rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương sử dụng “công cụ bạo lực” để “gia tăng đàn áp” những người “bất đồng chính kiến”, thực hiện “đàn áp nhân quyền”... Đặc biệt, khi lực lượng công an một số địa phương tống đạt quyết định khởi tố bị can và bắt tạm giam một số đối tượng về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 109, Bộ luật Hình sự, ngay lập tức nhiều kênh truyền thông hải ngoại phát tiếng Việt dẫn lời những phần tử cực đoan được dịp ra sức tung luận điệu ám chỉ, suy diễn. Chúng cho rằng, trong bối cảnh đất nước đang gặp khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam “lo sợ” sẽ có một làn sóng chỉ trích, nên mới thực hiện chủ trương “đàn áp” những người bất đồng chính kiến như vậy... Ngay sau khi tổ chức thành công Đại hội XIII của Đảng, cùng với việc đẩy mạnh học tập, quán triệt, đưa nghị quyết vào cuộc sống, chúng ta tiếp tục tập trung chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Các thế lực thù địch, phản động nhân cơ hội này tìm mọi chiêu trò gây nhiễu thông tin, đánh tráo khái niệm, kích động, xuyên tạc, kêu gọi biểu tình, gây rối. Từ sự khơi mào của một số đối tượng trong cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại, không ít kênh phát tiếng Việt trên mạng xã hội đã hùa theo, lôi kéo sự tham gia của nhiều đối tượng a dua, a tòng, nhân cơ hội ăn theo nói leo, chụp mũ, quy kết, nói xấu Đảng, xuyên tạc, bôi đen tình hình đất nước, phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp. Trước những luận điệu xuyên tạc, thể hiện rõ ý đồ chống phá của các thế lực thù địch, chúng ta cần nói rõ bản chất vấn đề, nhằm thống nhất nhận thức, tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; phủ nhận, đập tan những luận điệu ngụy tạo, nguy hiểm, xấu độc của chúng. Những hành động đi ngược lại lợi ích quốc gia-dân tộc, tiếp tay cho các thế lực bên ngoài phá hoại, cản trở sự phát triển của đất nước đều là những hành vi cấu thành tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" theo Điều 109, Bộ luật Hình sự. Nhấn mạnh hành động nghiêm trị chính là sự khẳng định tính nghiêm minh của pháp luật, thể hiện tính biện chứng của quy luật phát triển, đáp ứng đòi hỏi từ chính thực tiễn. Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, từ truyền thuyết cho đến lịch sử, thời kỳ nào tổ tiên, ông cha ta cũng kiên quyết nghiêm trị tội phản quốc. Lưỡi gươm đẫm máu và nước mắt của An Dương Vương trong truyền thuyết “Nỏ thần” là thông điệp luôn nóng hổi tính thời sự, tổ tiên ta truyền lại cho con cháu để có kế sách giữ nước ngay từ bên trong. Trong thời đại Hồ Chí Minh, năm 1953, trước tình hình phức tạp của thù trong, giặc ngoài, để bảo vệ chính quyền cách mạng, ngày 20-1-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 133-SL của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam). Điều 1 của sắc lệnh ghi rõ: Để củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, đẩy mạnh công cuộc kháng chiến giành độc lập, thống nhất cho dân tộc, nay ban hành sắc lệnh này nhằm mục đích trừng trị các loại Việt gian, phản động và xét xử những âm mưu hành động phản quốc. Điều 11 của sắc lệnh ghi: Kẻ nào vì mục đích phản quốc, có những hành động tuyên truyền cổ động cho địch như: Phao tin đồn nhảm làm cho nhân dân hoang mang; Bất cứ dùng cách gì để tuyên truyền cho chính sách áp bức, bóc lột, lừa phỉnh của địch; Đầu độc, trụy lạc nhân dân bằng văn hóa nô dịch; Tuyển mộ ngụy binh hay mộ phu cho địch; Dụ dỗ bộ đội, cán bộ, nhân dân bỏ hàng ngũ kháng chiến đi theo địch, sẽ bị xử phạt như sau: Bọn chủ mưu, tổ chức, chỉ huy, sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến chung thân, hoặc sẽ bị xử tử hình. Bọn tay chân mà tội trạng tương đối nhẹ, sẽ bị phạt tù từ 10 năm trở xuống... Dẫn một số ví dụ như vậy để thấy rõ hơn, việc nghiêm trị các hành vi, đối tượng có âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước là chủ trương xuyên suốt của Đảng ta. Nhìn rộng ra, bất cứ một thể chế chính trị nào, bất cứ quốc gia, vùng lãnh thổ nào trên thế giới cũng đều có những chế tài nghiêm khắc đặc thù để trừng trị những thế lực đi ngược lại hiến pháp, pháp luật, lợi ích của chính quốc gia đó. Trong giai đoạn đất nước ta tiếp tục đẩy mạnh đổi mới, hội nhập, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, trước âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng gay gắt, tinh vi của các thế lực thù địch, việc khẳng định tính nghiêm trị đối với mọi âm mưu, hành động phá hoại như đã nêu trên chính là thể hiện tinh thần kiên trì, kiên quyết trong đấu tranh, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và tính nghiêm minh của pháp luật. Hoàn toàn không có chuyện Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương gia tăng “đàn áp”, “trấn áp” lực lượng “bất đồng chính kiến” như miệng lưỡi của những kẻ phản động rêu rao... TINH THẦN QUYẾT LIỆT, QUAN ĐIỂM NHÂN VĂN Một câu hỏi được nhiều người đặt ra là, tại sao mỗi lần có đối tượng bị bắt vì tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” là lập tức một bộ phận truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại và nhiều trang mạng xã hội của các đối tượng khác lại dậy sóng phản đối, xuyên tạc, kích động, đòi phải trả tự do cho cái gọi là “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà đấu tranh nhân quyền”...? Rất dễ dàng tìm câu trả lời khi tất cả bằng chứng phạm tội của các đối tượng bị đưa ra ánh sáng. Đơn cử mới đây, đối tượng Ngô Công Trứ (sinh năm 1988, trú thôn Phú Nông, xã Hòa Bình 1, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên), được tổ chức phản động của cái gọi là “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” lôi kéo, mua chuộc thực hiện âm mưu “Trưng cầu dân ý” để thực hiện các hoạt động chống phá, mưu toan lật đổ chính quyền nhân dân. Trước Ngô Công Trứ, một số đối tượng trẻ tuổi cũng bị các tổ chức phản động ở hải ngoại móc nối, cấu kết, mua chuộc để làm tay sai, con rối cho chúng giật dây. Bằng sự cám dỗ của đồng tiền, vật chất và những thứ danh “ảo”, các thế lực thù địch, phản động có xu hướng nhắm đến những người trẻ có chút ít kiến thức nhưng non kém bản lĩnh, có tư tưởng cực đoan, cấp tiến để lôi kéo, mua chuộc. Chúng bỏ tiền ra để thực hiện cái gọi là “tài trợ” chống phá chính quyền nhân dân. Khi bị lật tẩy thì lu loa lên để thu hút sự chú ý của công luận. Với những đối tượng phạm tội kiểu này, nếu không có biện pháp răn đe thì rất khó để giúp họ tỉnh ngộ. Chính vì vậy, cần phải nghiêm trị những kẻ phạm tội để làm bài học cảnh tỉnh những ai đã và đang có ý định “nhúng chàm” bằng thứ “bánh vẽ” ảo tưởng. Việc đấu tranh phát hiện, điều tra, khởi tố, xét xử nghiêm minh những đối tượng phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” trong thời gian vừa qua đã có tác dụng tăng sức giáo dục, răn đe, cảnh tỉnh, được nhân dân hoan nghênh, đánh giá cao và đồng tình ủng hộ. Đây cũng chính là một loại vũ khí để tăng sức chiến đấu trong Đảng, ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Nghiêm trị một người để cảnh tỉnh muôn người, cắt bỏ khối u để cơ thể khỏe mạnh... là phương châm đấu tranh thể hiện tính nhân văn sâu sắc của Đảng ta. Chúng ta hành động quyết liệt, nghiêm trị những hành vi phá hoại, cản trở sự phát triển của đất nước, nhưng luôn rộng lượng khoan dung với những ai biết ăn năn, hối cải, quay đầu là bờ. Với quan điểm lấy xây để chống, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, nhất quán tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động...

Nghiêm trị để răn đe .

Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trình bày, đã nhấn mạnh:“Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”. Đây là sự cụ thể hóa, nhấn mạnh tính thực thi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, tinh thần thượng tôn pháp luật của mọi công dân, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Mọi cán bộ, đảng viên, mọi công dân đều phải có bổn phận chấp hành, không ai được ngả nghiêng, dao động... HIỂU ĐÚNG BẢN CHẤT, THỐNG NHẤT HÀNH ĐỘNG Đại hội XIII của Đảng thành công rất tốt đẹp mở ra thời kỳ mới đầy triển vọng của đất nước ta. Trong lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang ra sức thi đua, mở hướng đột phá vượt qua khó khăn do tác động của đại dịch Covid-19 toàn cầu, từng bước khôi phục và phát triển kinh tế, đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống, thì các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, phản động lại cay cú, tiếp tục tìm kẽ hở để lợi dụng chống phá. Một trong những chiêu trò của chúng là săm soi từng câu chữ trong các văn kiện và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng để xuyên tạc, kích động. Bám vào từ “nghiêm trị”, chúng lu loa lên rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương sử dụng “công cụ bạo lực” để “gia tăng đàn áp” những người “bất đồng chính kiến”, thực hiện “đàn áp nhân quyền”... Đặc biệt, khi lực lượng công an một số địa phương tống đạt quyết định khởi tố bị can và bắt tạm giam một số đối tượng về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 109, Bộ luật Hình sự, ngay lập tức nhiều kênh truyền thông hải ngoại phát tiếng Việt dẫn lời những phần tử cực đoan được dịp ra sức tung luận điệu ám chỉ, suy diễn. Chúng cho rằng, trong bối cảnh đất nước đang gặp khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam “lo sợ” sẽ có một làn sóng chỉ trích, nên mới thực hiện chủ trương “đàn áp” những người bất đồng chính kiến như vậy... Ngay sau khi tổ chức thành công Đại hội XIII của Đảng, cùng với việc đẩy mạnh học tập, quán triệt, đưa nghị quyết vào cuộc sống, chúng ta tiếp tục tập trung chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Các thế lực thù địch, phản động nhân cơ hội này tìm mọi chiêu trò gây nhiễu thông tin, đánh tráo khái niệm, kích động, xuyên tạc, kêu gọi biểu tình, gây rối. Từ sự khơi mào của một số đối tượng trong cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại, không ít kênh phát tiếng Việt trên mạng xã hội đã hùa theo, lôi kéo sự tham gia của nhiều đối tượng a dua, a tòng, nhân cơ hội ăn theo nói leo, chụp mũ, quy kết, nói xấu Đảng, xuyên tạc, bôi đen tình hình đất nước, phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp. Trước những luận điệu xuyên tạc, thể hiện rõ ý đồ chống phá của các thế lực thù địch, chúng ta cần nói rõ bản chất vấn đề, nhằm thống nhất nhận thức, tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; phủ nhận, đập tan những luận điệu ngụy tạo, nguy hiểm, xấu độc của chúng. Những hành động đi ngược lại lợi ích quốc gia-dân tộc, tiếp tay cho các thế lực bên ngoài phá hoại, cản trở sự phát triển của đất nước đều là những hành vi cấu thành tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" theo Điều 109, Bộ luật Hình sự. Nhấn mạnh hành động nghiêm trị chính là sự khẳng định tính nghiêm minh của pháp luật, thể hiện tính biện chứng của quy luật phát triển, đáp ứng đòi hỏi từ chính thực tiễn. Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, từ truyền thuyết cho đến lịch sử, thời kỳ nào tổ tiên, ông cha ta cũng kiên quyết nghiêm trị tội phản quốc. Lưỡi gươm đẫm máu và nước mắt của An Dương Vương trong truyền thuyết “Nỏ thần” là thông điệp luôn nóng hổi tính thời sự, tổ tiên ta truyền lại cho con cháu để có kế sách giữ nước ngay từ bên trong. Trong thời đại Hồ Chí Minh, năm 1953, trước tình hình phức tạp của thù trong, giặc ngoài, để bảo vệ chính quyền cách mạng, ngày 20-1-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 133-SL của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam). Điều 1 của sắc lệnh ghi rõ: Để củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, đẩy mạnh công cuộc kháng chiến giành độc lập, thống nhất cho dân tộc, nay ban hành sắc lệnh này nhằm mục đích trừng trị các loại Việt gian, phản động và xét xử những âm mưu hành động phản quốc. Điều 11 của sắc lệnh ghi: Kẻ nào vì mục đích phản quốc, có những hành động tuyên truyền cổ động cho địch như: Phao tin đồn nhảm làm cho nhân dân hoang mang; Bất cứ dùng cách gì để tuyên truyền cho chính sách áp bức, bóc lột, lừa phỉnh của địch; Đầu độc, trụy lạc nhân dân bằng văn hóa nô dịch; Tuyển mộ ngụy binh hay mộ phu cho địch; Dụ dỗ bộ đội, cán bộ, nhân dân bỏ hàng ngũ kháng chiến đi theo địch, sẽ bị xử phạt như sau: Bọn chủ mưu, tổ chức, chỉ huy, sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến chung thân, hoặc sẽ bị xử tử hình. Bọn tay chân mà tội trạng tương đối nhẹ, sẽ bị phạt tù từ 10 năm trở xuống... Dẫn một số ví dụ như vậy để thấy rõ hơn, việc nghiêm trị các hành vi, đối tượng có âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước là chủ trương xuyên suốt của Đảng ta. Nhìn rộng ra, bất cứ một thể chế chính trị nào, bất cứ quốc gia, vùng lãnh thổ nào trên thế giới cũng đều có những chế tài nghiêm khắc đặc thù để trừng trị những thế lực đi ngược lại hiến pháp, pháp luật, lợi ích của chính quốc gia đó. Trong giai đoạn đất nước ta tiếp tục đẩy mạnh đổi mới, hội nhập, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, trước âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng gay gắt, tinh vi của các thế lực thù địch, việc khẳng định tính nghiêm trị đối với mọi âm mưu, hành động phá hoại như đã nêu trên chính là thể hiện tinh thần kiên trì, kiên quyết trong đấu tranh, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và tính nghiêm minh của pháp luật. Hoàn toàn không có chuyện Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương gia tăng “đàn áp”, “trấn áp” lực lượng “bất đồng chính kiến” như miệng lưỡi của những kẻ phản động rêu rao... TINH THẦN QUYẾT LIỆT, QUAN ĐIỂM NHÂN VĂN Một câu hỏi được nhiều người đặt ra là, tại sao mỗi lần có đối tượng bị bắt vì tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” là lập tức một bộ phận truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại và nhiều trang mạng xã hội của các đối tượng khác lại dậy sóng phản đối, xuyên tạc, kích động, đòi phải trả tự do cho cái gọi là “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà đấu tranh nhân quyền”...? Rất dễ dàng tìm câu trả lời khi tất cả bằng chứng phạm tội của các đối tượng bị đưa ra ánh sáng. Đơn cử mới đây, đối tượng Ngô Công Trứ (sinh năm 1988, trú thôn Phú Nông, xã Hòa Bình 1, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên), được tổ chức phản động của cái gọi là “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” lôi kéo, mua chuộc thực hiện âm mưu “Trưng cầu dân ý” để thực hiện các hoạt động chống phá, mưu toan lật đổ chính quyền nhân dân. Trước Ngô Công Trứ, một số đối tượng trẻ tuổi cũng bị các tổ chức phản động ở hải ngoại móc nối, cấu kết, mua chuộc để làm tay sai, con rối cho chúng giật dây. Bằng sự cám dỗ của đồng tiền, vật chất và những thứ danh “ảo”, các thế lực thù địch, phản động có xu hướng nhắm đến những người trẻ có chút ít kiến thức nhưng non kém bản lĩnh, có tư tưởng cực đoan, cấp tiến để lôi kéo, mua chuộc. Chúng bỏ tiền ra để thực hiện cái gọi là “tài trợ” chống phá chính quyền nhân dân. Khi bị lật tẩy thì lu loa lên để thu hút sự chú ý của công luận. Với những đối tượng phạm tội kiểu này, nếu không có biện pháp răn đe thì rất khó để giúp họ tỉnh ngộ. Chính vì vậy, cần phải nghiêm trị những kẻ phạm tội để làm bài học cảnh tỉnh những ai đã và đang có ý định “nhúng chàm” bằng thứ “bánh vẽ” ảo tưởng. Việc đấu tranh phát hiện, điều tra, khởi tố, xét xử nghiêm minh những đối tượng phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” trong thời gian vừa qua đã có tác dụng tăng sức giáo dục, răn đe, cảnh tỉnh, được nhân dân hoan nghênh, đánh giá cao và đồng tình ủng hộ. Đây cũng chính là một loại vũ khí để tăng sức chiến đấu trong Đảng, ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Nghiêm trị một người để cảnh tỉnh muôn người, cắt bỏ khối u để cơ thể khỏe mạnh... là phương châm đấu tranh thể hiện tính nhân văn sâu sắc của Đảng ta. Chúng ta hành động quyết liệt, nghiêm trị những hành vi phá hoại, cản trở sự phát triển của đất nước, nhưng luôn rộng lượng khoan dung với những ai biết ăn năn, hối cải, quay đầu là bờ. Với quan điểm lấy xây để chống, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, nhất quán tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động...

Cái gì cũng xuyên tạc là tại sao?

Trước thực trạng việc sử dụng hệ thống truyền thông, mạng xã hội để chống phá Việt Nam với vô số thủ đoạn bất lương ngày càng giảm tác dụng, các thế lực thù địch và một số tổ chức cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam càng tỏ ra cay cú và đi đến mức trơ tráo, bất chấp thực tế cố tình xuyên tạc cả những chủ trương, chính sách được Ðảng, Chính phủ Việt Nam công bố công khai, rộng rãi. Thậm chí, xuyên tạc cả các sự kiện, thông tin diễn ra vốn hằng ngày, hằng giờ trong đời sống xã hội bình thường mà bất kỳ một ai cũng sẽ hiểu. .Ngày 2-3-2021, trong một video-clip công bố trên YouTube có liên quan việc anh Nguyễn Ngọc Mạnh cứu một cháu bé rơi từ tầng 13 tại một chung cư ở Hà Nội, ông Lợi Minh - người Mỹ gốc Việt mới về Việt Nam, đã tỏ ra rất bức xúc với phát biểu đại ý: "Các thành phần chống phá đổ lỗi cho cộng sản, bảo thể chế không cho làm hàng rào. Ðó là sự khốn nạn. Cái gì cũng xuyên tạc, không rõ não họ bị làm sao? Ở nước Mỹ tình trạng trẻ bị rơi từ nhà cao tầng, chung cư xảy ra khá nhiều, đáng tiếc là đã làm thiệt hại sinh mạng của một số em. Cha mẹ vô tình không để ý con cái thì không thể đổ lỗi cho thể chế, cho cộng sản. Lẽ ra cần phải khích lệ những người như Nguyễn Ngọc Mạnh, giúp giảm bớt rủi ro thì một số người lên mạng mổ xẻ, giúp bọn chống phá đất nước xuyên tạc". Bức xúc của ông Lợi Minh là chính đáng, vì sau sự kiện có kẻ đã vội vã lên trang mạng xã hội của tổ chức khủng bố "Việt tân" viết rằng, ở Việt Nam "tính mạng con người luôn bị coi rẻ do nhà nước và sự thờ ơ trong xã hội... cơ quan nhà nước làm việc vì tư lợi mà không vì nhân dân" nên "khi dân gặp nạn toàn thấy dân tự cứu nhau", hoặc có kẻ mang danh "nhà dân chủ" thì lên mạng xưng xưng quy kết sự kiện xảy ra là do "lỗi thể chế"! Nhìn rộng ra, câu hỏi "Không rõ não họ bị làm sao?" của Lợi Minh có thể đặt ra với rất nhiều trường hợp, như khái quát của Thái Thanh trên trang mạng canhco.net: "Không riêng gì chuyện "cái ban công", ngay cả chuyện người trẻ thất tình tự tử, khối kẻ bốc đồng cũng đổ lỗi cho chính quyền; người vi phạm pháp luật ở tù, cũng có kẻ đổ lỗi cho thể chế. Tất tần tật, bất cứ điều gì không như ý đều đổ lỗi hết cho thể chế, và không bao giờ đưa ra được biện pháp, đóng góp nào tích cực cho xã hội. Ðó là biểu hiện của những người đi thụt lùi, không có tinh thần xây dựng, ném vào xã hội thêm những rác rưởi". Hay trước hiện tượng sau khi lô vắc-xin phòng Covid-19 đầu tiên nhập về Việt Nam, trong khi mọi người phấn khởi vì Chính phủ quan tâm bảo đảm sức khỏe, tính mạng cho toàn dân, thì mấy kẻ tự nhận hoặc tự tán dương nhau là "nhà dân chủ" lập tức thể hiện thái độ tiêu cực, bỉ ổi bằng cách dè bỉu, hoài nghi, thậm chí để gây hoang mang trong dư luận. Có kẻ bịa đặt mọi vắc-xin phòng Covid-19 nhập về Việt Nam đều đang ở trong giai đoạn thử nghiệm, không có tác dụng phòng virus, khiến người được tiêm bị nhiễm bệnh, tăng nguy cơ tử vong! Câu hỏi về mục đích và thiện chí đối với Việt Nam cũng cần đặt ra với BBC tiếng Việt khi đăng bài "Tiêm vắc-xin Covid ở VN: vì sao quân đội và công an được ưu tiên?". Trước hết, phải nói rằng kiểu rút "tít" của BBC có thể khiến người đọc lầm tưởng ở Việt Nam chỉ quân đội, công an mới được ưu tiên tiêm vắc-xin phòng Covid-19, và như thế là bất lương. Chưa kể việc viện dẫn ý kiến của bác sĩ HTA (được BBC giới thiệu là "Phó Giám đốc Trung tâm Sáng kiến sức khỏe và Dân số, Hà Nội", như thông tin trên trang mạng ccihp.org thì "Trung tâm Sáng kiến sức khỏe và Dân số" là "doanh nghiệp xã hội làm việc như một tổ chức phi lợi nhuận", viết tắt: CCIHP) khi người này cho rằng "các nhóm yếu thế như người nghèo, người khuyết tật... gần như chưa được nói gì đến trong kế hoạch tiêm phòng của Việt Nam", và như vậy là nói bừa. Ðáng lẽ trước khi công khai rộng rãi, BBC và bác sĩ HTA phải tìm hiểu Quyết định số 1210/QÐ-BYT của Bộ Y tế ban hành ngày 9-2-2021 về việc phê duyệt kế hoạch tiếp nhận, bảo quản, phân phối, sử dụng vắc-xin phòng Covid-19 trong giai đoạn 2021-2022 do COVAX Facility (Giải pháp tiếp cận vắc-xin phòng Covid-19 toàn cầu) hỗ trợ. Tại thời điểm đó, Bộ Y tế xác định 11 nhóm đối tượng cần tiêm vắc-xin phòng Covid-19 sau khi vắc-xin hỗ trợ chuyển đến Việt Nam (khoảng 4,8 triệu liều), trong đó có ba nhóm là: "Người trên 65 tuổi; những người mắc các bệnh mãn tính; người tại vùng dịch theo chỉ định dịch tễ". Như vậy, phải chăng theo bác sĩ HTA, thì trong ba nhóm được ưu tiên đó lại không có người thuộc các nhóm yếu thế? Và quan trọng hơn, ngày 26-2-2021, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ký ban hành Nghị quyết 21/NQ-CP (Nghị quyết 21) về mua và sử dụng vắc-xin phòng Covid-19 giao Bộ Y tế chủ trì, phối hợp các bộ, cơ quan, địa phương liên quan thực hiện việc mua, nhập khẩu, tiếp nhận viện trợ, tài trợ, quản lý và sử dụng vắc-xin phòng Covid-19 trong năm 2021 cho người từ 18 tuổi trở lên với số lượng khoảng 150 triệu liều. Nghị quyết 21 quy định rất cụ thể về 9 nhóm được xác định là các đối tượng ưu tiên tiêm và miễn phí, trong đó có ba nhóm: "Người mắc các bệnh mãn tính, người trên 65 tuổi", "Người sinh sống tại các vùng có dịch", "Người nghèo, các đối tượng chính sách xã hội". Dù có thể là thiếu cẩn trọng khi nắm bắt thông tin, thì phát ngôn của bác sĩ HTA trên BBC cũng không đúng sự thật, và đã bị BBC lợi dụng để tùy tiện công bố, khiến cho người đọc có thể hiểu sai về một chủ trương, chính sách rất nhân văn của Chính phủ Việt Nam. Thời gian qua, các sự kiện như: smartphone (điện thoại thông minh) của VinSmart thuộc Tập đoàn Vingroup gia nhập thị trường Nga, Tây Ban Nha,... rồi VinSmart ký hợp đồng với một công ty của Mỹ sản xuất hai triệu chiếc điện thoại; tiếp đó, Phòng Quản lý phương tiện cơ giới (DMV) tại Ca-li-phoóc-ni-a (Mỹ) cấp chứng chỉ thử nghiệm xe điện tự lái cho VinFast,... đã làm nức lòng người dân trong nước. Nhiều người gốc Việt ở nước ngoài cũng công khai thể hiện niềm tự hào, họ không chỉ đặt mua mà còn hô hào cộng đồng cùng mua để ủng hộ đất nước. Thế nhưng, ngay từ năm 2018, sau khi VinFast giới thiệu hai mẫu xe Sedan và SUV tại Paris Motor Show ở Pháp thì trên BBC tiếng Việt có người Việt trong nước lại coi đó là việc làm "đánh đúng vào tâm lý nhược tiểu thích kỷ lục của người Việt"! Chưa kể gần đây, xuất hiện luận điệu có nội dung như muốn làm tổn hại uy tín của doanh nghiệp trong nước khi đưa ảnh sản phẩm xe ô-tô được sản xuất tại Việt Nam "gãy trục phía trước" và dựa vào đó xưng xưng nói rằng chúng ta đang sống trong sự ngược đãi của chính xã hội ta đang sống. Mạng người trở nên rẻ mạt chưa từng có, và nó hoàn toàn bị thách thức một cách hết sức thản nhiên và công khai"? Ðoạn trích cho thấy bàn chất lượng xe chỉ là cái cớ, mà mục tiêu họ nhắm đến là la lối bị xã hội "ngược đãi", "mạng người rẻ mạt"! Trước luận điệu này, ngày 22-2-2021 nhà báo N.P viết trên trang Facebook cá nhân: "Nếu như họ đưa tin vào ngày này, giờ này, tại chỗ này, xe mang biển này, người lái tên họ thế này, đang lái xe bỗng "bánh trước văng ra" hoặc "trục xe gãy", cơ quan bảo hiểm đã kiểm tra, khám nghiệm, xác nhận rằng đó là lỗi do nhà sản xuất thì còn có lý... Ðằng này đưa hình ảnh mấy chiếc xe bị tai nạn do đâm vào con lươn, đâm vào vỉa hè,... rồi vu cho là "lỗi sản xuất" thì quả là độc ác và hèn hết mức... Dĩ nhiên, loại thông tin đểu này chỉ lừa được những ai không hiểu biết về xe, hoặc có trái tim "rất dễ xúc động". Còn người hiểu biết, có sự trung thực thì chẳng ai bị lừa. Nhưng rõ ràng, không phải là chuyện "vô tình", mà phải là có kẻ "xuỵt chó bụi rậm", thậm chí là phải nghĩ đến có "đơn đặt hàng" từ kẻ nào đó". H.N, một người sử dụng xe, ngày 28-2-2021 đã nói thẳng trên YouTube: "Một số người không muốn thành công nào đó ở Việt Nam, người ta không muốn có sự trỗi dậy của một nền kinh tế hay một nhà máy, xí nghiệp nào đó ở Việt Nam... Họ lợi dụng các hình ảnh để gán ghép ý đồ chính trị, ý đồ cá nhân vào... Những người đưa tin này mắc chứng bệnh "sợ Việt Nam phát triển", họ không muốn chấp nhận những điều tốt đẹp ở Việt Nam". Trong bối cảnh đó, hẳn là ngỡ đã kiếm được "miếng mồi ngon" và như một phản xạ vô tri, ngày 22-2-2021 VOA vội vã công bố một bài viết, trong đó nhắc lại nguyên văn các thông tin tùy tiện trên mạng xã hội. Thiết nghĩ, nếu là cơ quan truyền thông lương thiện, VOA sẽ không dính dáng vào, hoặc chí ít cũng quan tâm tới việc cư dân mạng coi ý kiến VOA khai thác là "độc ác, hèn hết mức"! Đất nước đang trên đường hội nhập và phát triển. Một trong những yêu cầu quan trọng để Việt Nam vững bước trên con đường, đó là nỗ lực khẳng định uy tín và năng lực của mình trên trường quốc tế làm ra các sản phẩm mang nhãn hiệu Việt Nam có thể gia nhập thị trường thế giới, có khả năng cạnh tranh và thu hút người tiêu dùng nước ngoài. Nỗ lực đó không chỉ thể hiện năng lực, trình độ và khả năng sáng tạo của người Việt Nam, mà còn là niềm tự hào về ý chí, tinh thần Việt Nam, góp phần vào sự phát triển, nâng cao uy tín đất nước. Ðó là điều mà mọi người Việt Nam yêu nước, có tinh thần tự tôn dân tộc đều hướng tới. Vì thế, người có hành động, phát ngôn xuyên tạc, gây cản trở xu hướng này là đi ngược lợi ích và tiến trình phát triển đất nước. Cũng cần phải nói thẳng rằng, căn bệnh "sợ Việt Nam phát triển" không phải là thứ phản ứng cảm tính, tự nhiên, thiếu chín chắn mà là căn bệnh ra đời từ mưu đồ đen tối của một số người "cái gì cũng xuyên tạc", đã và đang lợi dụng mạng xã hội để gieo rắc hoang tin nhằm làm hao tổn lòng tin của nhân dân, ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam. Vì thế, nếu một mặt cần lên án, vạch trần bản chất những con người như vậy, thì mặt khác, mỗi người trong chúng ta cần tiếp tục củng cố lòng tin vào con đường đã được Ðảng và Bác Hồ lựa chọn, nâng cao nhận thức để phân biệt đúng - sai, nỗ lực lao động sáng tạo, đem lại lợi ích ngày càng nhiều hơn cho bản thân, cho gia đình, đóng góp vào sự nghiệp phát triển đất nước.

Vạch trần chiêu trò đòi “dân chủ” vô nguyên tắc trong bầu cử: Mưu đồ phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội .

Trong lúc Hội đồng Bầu cử Quốc gia, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan chức năng đang gấp rút tiến hành những bước cần thiết theo quy định của pháp luật để chuẩn bị cho bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, thì trên mạng xã hội xuất hiện những luận điệu xuyên tạc, sai trái hòng làm suy giảm niềm tin của cử tri và nhân dân, phá hoại cuộc bầu cử. . Vệt bài “Vạch trần chiêu trò đòi “dân chủ” vô nguyên tắc trong bầu cử” nhằm chỉ ra những mưu đồ, luận điệu sai trái chống phá bầu cử để từ đó, cử tri và nhân dân nhận diện rõ, hoàn toàn vững tin, thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ bầu cử của mình trong “ngày hội của toàn dân”. Một số đối tượng đòi mở rộng dân chủ trong hoạt động bầu cử và hoạt động của Quốc hội để từ đó đưa ra những yêu sách, luận điệu hoàn toàn sai trái như: Đòi Quốc hội phải độc lập với Đảng; cho rằng Đảng lãnh đạo Quốc hội là đứng ngoài và đứng trên luật pháp; rằng Đảng lãnh đạo Quốc hội là biểu hiện của mất dân chủ; đòi phải cân bằng quyền lực giữa Quốc hội và Đảng nên cần có ít nhất 50% đại biểu Quốc hội không phải là đảng viên, vì chỉ có đại biểu Quốc hội không phải là đảng viên mới đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, còn đại biểu Quốc hội là đảng viên chỉ bảo vệ ý chí của Đảng... Vậy những luận điệu trên sai trái và nguy hiểm như thế nào? Đảng lãnh đạo Quốc hội đã được Hiến định Đầu tiên cần phải khẳng định rằng, Nhà nước mà chúng ta đang xây dựng là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; do đó, mọi hoạt động đều phải thượng tôn pháp luật, không chấp nhận bất cứ một hoạt động nào trái pháp luật. Pháp luật nước ta đã quy định, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Điều này được ghi rõ trong Hiến pháp, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Cụ thể, tại Khoản 1, Điều 4, Hiến pháp 2013 quy định rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam-Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Như thế, việc Đảng lãnh đạo Nhà nước trong đó có Quốc hội-một cơ quan của Nhà nước-đã được khẳng định trong Hiến pháp. Cho nên, không thể có việc Quốc hội độc lập hoặc thậm chí đối lập với Đảng như yêu sách của các thế lực thù địch bên ngoài, một số phần tử chống đối hoặc một số người không am hiểu pháp luật. Và như vậy, Đảng lãnh đạo công tác bầu cử Quốc hội, HĐND là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Phương thức lãnh đạo của Đảng với Quốc hội, trước tiên bằng nghị quyết, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng. Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, đại diện cho cử tri, toàn thể nhân dân nên việc Đảng lãnh đạo Quốc hội chính là để thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật, từ đó đưa vào thực tiễn cuộc sống. Đảng lãnh đạo Quốc hội trực tiếp, toàn diện nhưng không làm thay, mà Đảng lãnh đạo Quốc hội là để phát huy vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội, phát huy trí tuệ của Đảng Đoàn Quốc hội, các đoàn ĐBQH, từng ĐBQH và thực hiện ý nguyện của nhân dân. Thông qua hoạt động của Quốc hội (lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước) tác động lại sự lãnh đạo của Đảng trong việc đưa ra các chủ trương, chính sách mới để đưa đất nước ngày càng phát triển.

Đảng viên trong Quốc hội thể hiện bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Ý kiến đòi ĐBQH không phải là đảng viên phải chiếm 50% Quốc hội là không phù hợp. Đó là vì, Đảng lãnh đạo Quốc hội thông qua Đảng Đoàn Quốc hội và thông qua các đảng viên tại Quốc hội. Trong Quốc hội, số lượng đảng viên chiếm đa số, thuộc nhiều giai cấp, tầng lớp, thành phần trong xã hội. Có thể nói, số lượng đảng viên trong Quốc hội cũng chính là một đặc trưng, thể hiện bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đảng viên được bầu làm ĐBQH nhìn chung đều có trình độ, có tri thức, có đạo đức, có vị trí, vai trò nhất định trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước cũng như thực hiện đường lối chính sách của Đảng. Thông qua hoạt động của mình, các đảng viên giữ các vị trí quan trọng trong xã hội tham gia giải quyết những vấn đề của Quốc hội và cũng chính là thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng thông qua các đảng viên. Muốn nâng cao chất lượng công tác lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, cần định hướng, xây dựng các ĐBQH, đội ngũ cán bộ hoạt động tại Quốc hội có nhận thức chính trị vững vàng, đạo đức tốt, có tri thức và chuyên môn sâu. Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là cơ sở quan trọng để bảo đảm sự thống nhất trong công tác bầu cử; góp phần lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới, bảo đảm đủ tiêu chuẩn, đủ số lượng, có cơ cấu hợp lý đối với đội ngũ đại biểu; tạo nền tảng cho việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Quan điểm cho rằng, chỉ có người ngoài đảng mới đại diện tốt cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, còn ĐBQH là đảng viên không đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân là hoàn toàn xằng bậy. Bởi vì, bản chất cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là cầm quyền vì lợi ích của nhân dân, đại diện cho lợi ích của nhân dân, cầm quyền theo pháp luật, cầm quyền một cách dân chủ và khoa học. Đảng cầm quyền không có mục đích nào khác vì sự phồn vinh của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời tới nay thì mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, mọi thành tựu của đất nước Việt Nam, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam đều có vai trò lãnh đạo của Đảng. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” xác định là phương thức vận hành tổng thể của hệ thống chính trị Việt Nam. Cơ chế này là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng, Nhà nước và quần chúng nhân dân, đồng thời xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới. Vì thế, các đảng viên là ĐBQH không chỉ để giữ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước mà còn là đại diện chân chính cho tiếng nói, lợi ích chính đáng của nhân dân. Có thể thấy, trong những năm qua, Quốc hội với đại đa số đại biểu là đảng viên đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, đóng góp tích cực về trí tuệ, công sức vào công cuộc phát triển đất nước, thực hiện tốt vai trò là đại diện, bảo vệ cho quyền, nguyện vọng và lợi ích hợp pháp của cử tri và nhân dân. Những thành tựu trong phát triển kinh tế-xã hội, văn hóa, giáo dục, quốc phòng, an ninh, đối ngoại..., trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; trong phòng, chống dịch bệnh; trong việc bảo đảm và từng bước nâng cao đời sống nhân dân đã thể hiện rõ hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, trong đó có Quốc hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hoạt động của Quốc hội ngày càng dân chủ, với các hoạt động chất vấn, tranh luận rất sôi nổi, hiệu quả tại nghị trường, được cử tri và nhân dân cả nước quan tâm, đánh giá cao. Bên cạnh đó, các ĐBQH không phải là đảng viên cũng đã tham gia tích cực, hiệu quả vào hoạt động của Quốc hội. Bởi vậy, việc những người ngoài Đảng tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp là hoàn toàn hợp pháp. Nếu hội đủ các tiêu chuẩn, được sự tín nhiệm của cử tri và nhân dân theo các quy định trong hiệp thương, bầu cử thì người không phải đảng viên đều có thể trở thành ĐBQH, đại biểu HĐND các cấp. Cánh cửa Quốc hội và HĐND các cấp luôn rộng mở đối với những người ngoài Đảng. Cần một lần nữa nhấn mạnh rằng, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói chung và Quốc hội nói riêng đã được Hiến định, được nhân dân đồng tình ủng hộ và đã mang lại những thành tựu cho đất nước trong những năm qua. Tất nhiên, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội vẫn cần phải được đổi mới cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Hoạt động của Quốc hội luôn được đổi mới theo hướng ngày càng dân chủ hơn. Thế nhưng, dù cho đổi mới thế nào thì những thành tựu, hiệu quả cần được khẳng định, những vấn đề có tính nguyên tắc trong mối quan hệ giữa Đảng và Quốc hội, những vấn đề thuộc bản chất của chế độ chính trị vẫn cần được giữ vững. Những ý kiến, nhận xét thiếu tính xây dựng, mang động cơ chính trị đen tối, mưu đồ cá nhân không đàng hoàng cần phải được nhìn nhận rõ. Các luận điệu sai trái đòi đặt hoạt động của Quốc hội ra ngoài sự lãnh đạo của Đảng, đòi ĐBQH không phải là đảng viên phải chiếm đa số, rồi Quốc hội phải hoạt động theo mô hình của các nước tư bản... thực chất chính là muốn thúc đẩy sự chuyển hóa của Quốc hội nước ta, muốn cài cắm một lực lượng đối lập trong Quốc hội, để biến nghị trường Quốc hội thành diễn đàn để chống phá chế độ chính trị-xã hội ở nước ta. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên, cử tri và nhân dân cần nhận thức đúng, tránh mắc mưu của những đối tượng xấu./

Chủ trương đấu tranh quân sự của Đảng trong giai đoạn 1973-1975 mang tính toàn diện, kịp thời và phát triển .

Đấu tranh quân sự là yếu tố quan trọng trực tiếp quyết định đến thắng lợi mọi cuộc chiến tranh. Trong giai đoạn 1973 – 1975, trên cơ sở bám sát thực tiễn, đánh giá đúng tình hình địch, ta trên chiến trường, Đảng đã đề ra chủ trương đấu tranh quân sự thích ứng với từng hoàn cảnh ở miền Nam, góp phần quyết định đánh bại “chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Ngày 27-1-1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Với tinh thần thượng tôn pháp luật quốc tế, ngay sau khi ký Hiệp định Pari, ngày 28 1-1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra lời kêu gọi, trong đó xác định “Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ đươc thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình”(1). Tuy nhiên, phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn không nghĩ và thực hiện như vậy. Ngay sau đó, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã tuyên bố “trên hòa bình dưới chiến tranh”, chúng xua quân đánh chiếm lại nhiều vùng giải phóng của ta, chiếm lại nhiều địa bàn giải phóng quan trọng, tạo thế da báo gây bất lợi cho ta. Năm 1973, trên toàn miền Nam, địch đóng thêm 500 đồn bốt, chiếm thêm 70 xã, 740 ấp, kiểm soát thêm 65 vạn dân. Cụ thể: ở khu V, địch đóng thêm 200 đồn, chiếm thêm 45 xã, 320 ấp, 25 vạn dân; khu VI và khu VII, địch lấy lại hầu hết các vùng ta mới mở gồm 300 ấp, gần 30 vạn dân; ở Khu VIII, địch đóng thêm gần 300 đồn bốt, chiếm thêm 24 xã, ta mất 120 ấp và 10 vạn dân(2). Trước hành động đó, tại công điện số 50, ngày 9-2-1973, Bộ Chính trị nhận định: Về địch, binh sĩ cấp dưới đã ngả về cách mạng, “nhiều nơi binh sĩ, cả sĩ quan cấp đại đội, một bộ phận sĩ quan cấp tiểu đoàn, tìm cách tiếp xúc với ta, bàn bạc với ta. Có nơi sĩ quan chỉ huy giao ước với ta không đánh nữa. Còn bọn hiếu chiến bên trên có nhiều thủ đoạn đánh chiếm lại Cửa Việt, Quảng Trị và mở các cuộc lấn chiếm nhỏ trên các địa bàn. Do vậy, phải gấp rút tăng cường bộ đội địa phương, du kích thôn xã, tăng cường quân số, tăng cường trang bị, nhưng biết làm êm, làm bí mật, tránh bộc lộ lực lượng, phải biết che giấu lực lượng của ta cho tốt. Đồng thời “phải luôn luôn đề cao cảnh giác, sẵn sàng đánh trả và kiên quyết đánh bại những cuộc càn quét lần chiếm của địch”(3).

Chủ trương đẩy mạnh đấu tranh quân sự chống địch lấn chiếm

Trước tình hình diễn biến phức tạp ở miền Nam, cách mạng bị mất dân, mất đất ở nhiều nơi, trước đề nghị quyết liệt của Khu ủy Khu IX (điểm sáng về đấu tranh quân sự kết hợp với Hiệp định Pari), ngày 13 tháng 10 năm 1973, Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III ra Nghị quyết số 227- QN/TW về Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam Việt Nam trong giai đoạn mới. Sau khi phân tích đánh giá tình hình địch, ta trên chiến trường, Hội nghị nhận định: Tình hình cách mạng miền Nam có thể phát triển theo hai khả năng. Một là, do đấu tranh tích cực trên ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, có thể từng bước buộc địch phải thi hành Hiệp định Pari về Việt Nam. Hai là, địch phá hoại Hiệp định, xung đột quân sự có thể ngày càng tăng, cường độ quy mô chiến tranh càng lớn, ta lại phải tiến hành chiến tranh cách mạng gay go, quyết liệt để đánh bại địch, giành thắng lợi hoàn toàn. Từ nhận định đó, Hội nghị xác định nhiệm vụ cách mạng miền Nam là tiếp tục thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chống đế quốc Mỹ, tập đoàn thống trị tư sản mại bản và địa chủ phong kiến. Để hoàn thành nhiệm vụ đề ra, Hội nghị chỉ rõ, địch dùng hành động quân sự vi phạm Hiệp định một cách có hệ thống, ta phải kiên quyết phản công và tiến công địch, đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm của địch; phải kết hợp ba thứ quân, ba mũi giáp công và ba vùng, để phản công địch, đánh những đòn thật đau, không để địch lấn chiếm vùng giải phóng của ta; ở nơi có điều kiện thì mở rộng vùng giải phóng của ta. Hội nghị nhấn mạnh, trong bất kỳ tình huống nào, phải nắm vững lực lượng vũ trang, củng cố và tăng cường ba thứ quân thật mạnh. Phải có kế hoạch toàn diện xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng và hiệu suất chiến đấu, làm cho bộ đội chủ lực thành lực lượng tinh nhuệ, chính quy, hiện đại, cơ động và linh hoạt, phù hợp với điều kiện chiến đấu trên từng chiến trường và cuộc chiến tranh cách mạng có tính chất toàn dân của ta. Đối với bộ đội địa phương phải ra sức khắc phục tình trạng mất cân đối hiện nay giữa chủ lực, địa phương và dân quân du kích. Xây dựng bộ đội địa phương thành những đơn vị gọn, sắc, tinh nhuệ, vừa trang bị tương đối hiện đại, vừa tận dụng vũ khí thô sơ, đủ sức phản công, tấn công bẻ gãy và đập tan các cuộc hành quân gom dân, lấn đất của quân ngụy trong phạm vi từng địa phương. Huấn luyện cho cán bộ chiến sĩ nắm vững hơn nữa phương châm kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự và binh vận, thành thạo công tác quần chúng. Đối với lực lượng dân quân du kích, Hội nghị chủ trương: Ra sức phát triển dân quân du kích thành một lực lượng vũ trang mạnh của quần chúng, nằm trong quần chúng, bao gồm cả trai, gái, già trẻ. Chú ý phát triển lực lượng du kích gái, xây dựng “đội quân tóc dài” không những là lực lượng chính trị mà còn là lực lượng quân sự trong chiến tranh nhân dân của chúng ta. Để đấu tranh quân sự được thuận lợi và hiệu quả, Hội nghị yêu cầu: Các lực lượng vũ trang giữ vững vùng rừng núi từ vĩ tuyến 17 đến miền Đông Nam Bộ, xây dựng thành một hệ thống căn cứ địa hoàn chỉnh, phối hợp với việc giữ gìn vùng giải phóng ở đồng bằng, để tạo thế uy hiếp thành thị, giúp cho phong trào đấu tranh chính trị phát triển trong vùng tranh chấp và vùng địch kiểm soát. Bộ đội chủ lực, địa phương và dân quân du kích chuẩn bị đầy đủ, sẵn sàng trong tư thế đánh địch, chủ động đập tan các cuộc hành quân lấn chiếm, kiên quyết phản công và tiến công, đánh những trận tiêu diệt thật đau, thật mạnh để bảo vệ, giữ vùng giải phóng và các căn cứ địa, bảo vệ quần chúng, tạo thế cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Hội nghị nhận định, sau khi quân viễn chinh Mỹ và quân đồng minh rút khỏi miền Nam, đối tượng tác chiến chủ yếu của ta là quân đội Việt Nam Cộng hòa. Từ đó, Hội nghị yêu cầu phải nghiên cứu, bổ sung về nghệ thuật quân sự và cách đánh ở những địa bàn khác nhau. Trên cơ sở tổng kết công tác quân sự trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, kịp thời giải quyết tốt vấn đề mới về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật, chiến đấu, xây dựng và củng cố lực lượng, về phương châm, phương thức tác chiến trên các chiến trường. Để đảm bảo sự thống nhất và hiệu quả trong tiến công quân sự, Hội nghị yêu cầu phải kịp thời đề ra phương hướng quân sự cho toàn miền Nam, cho từng khu, từng vùng, từng xã, từng thôn, nhằm bố trí lực lượng ba thứ quân đủ sức làm tròn nhiệm vụ trước mắt, tạo ra thế căng kéo địch, không để cho chúng tập trung lực lượng lấn ra ở từng khu vực. Đồng thời phải có kế hoạch thực hiện hậu cần tại chỗ, động viên và tổ chức các lực lượng vũ trang của ta tích cực tham gia xây dựng những vùng kinh tế mới để bảo đảm tự cung, tự cấp một phần lương thực, thực phẩm và từng bước xây dựng vùng căn cứ về mọi mặt. Tích cực xây dựng, phát triển và hoàn thiện các tuyến giao thông vận tải, bảo vệ hành lang kho tàng, ra sức dự trữ lương thực, vũ khí, trang bị kỹ thuật, bảo đảm vật chất cho các lực lượng vũ trang trên các chiến trường.

Chủ trương mở các chiến dịch tiến công quân sự giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Tiếp tục thực hiện chủ trương tiến công quân sự nhằm đánh bại hành động địch lấn chiếm vùng giải phóng của ta và giành lại vùng giải phóng bị địch tái chiếm, đến cuối năm 1974 ta đã giành lại phần lớn vùng địch lấn chiếm, đánh bại nhiều đợt tiến công của địch và gây cho chúng tổn thất nặng nề. Riêng ở Nam Bộ, ta đã loại ra khỏi vòng chiến đấu 56.315 tên địch, thu nhiều vũ khí trang bị và phương tiện chiến tranh; gỡ 1.548 đồn bốt, giải phỏng tỉnh Phước Long và 4 huyện, 72 xã, 489 ấp, với 584.000 dân(4). Phong trào cách mạng ở miền Nam ngày càng lớn mạnh, mũi tiến công quân sự ngày càng mạnh lên, đẩy địch vào thế bị động, chống đỡ, bộc lộ ra rất nhiều điểm yếu. Đặc biệt, sự kiện tỉnh Phước Long là tỉnh đầu tiên được giải phóng, nhưng chính quyền Nguyễn Văn Thiệu bất lực không lấy lại được, đây là chiến thắng của đòn trinh sát chiến lược cực kỳ xuất sắc, cho ta khẳng định một lần nữa Mỹ rút khỏi miền Nam thì khó có thể quay lại. Đây là nhân tố quan trọng để Bộ Chính trị đề ra chủ trương mở các chiến dịch quân sự lớn giải phòng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhận thấy tình hình miền Nam có chuyển biến lớn và có nhiều thuận lợi cho cách mạng, Bộ Chính trị tiến hành Hội nghị đợt một (10/1974) và đợt hai (7/ 01/1975), bàn về tình hình và nhiệm vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hội nghị chủ trương mở nhiều chiến dịch tổng hợp liên tiếp, đánh những trận đánh quyết định, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước. Để thực hiện thắng lợi quyết tâm đề ra, Bộ Chính trị yêu cầu phải thực hiện tiến công và nổi dậy trên quy mô lớn, tiêu diệt chi khu, quận lỵ, đánh bại kế hoạch bình định, giành phần lớn vùng đồng bằng nông thôn miền Nam. Đối với mũi tiến công quân sự, Bộ Chính trị chủ trương mở những chiến dịch hợp đồng quân binh chủng của bộ đội chủ lực, đánh mạnh vào quân chủ lực Việt Nam Cộng hòa, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Đây là chủ trương quan trọng, là cơ sở để Quân ủy Trung ương chỉ đạo, tổ chức mở các chiến dịch quân sự lớn như Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Huế - Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quyết định đến việc đánh bại, đánh đổ hoàn toàn các đơn vị chủ lực quân đội Việt Nam Cộng hòa. Cùng với chủ trương mở những chiến dịch hợp đồng quân binh chủng của bộ đội chủ lực, Bộ Chính trị chủ trương mũi tiến công quân sự phải kết hợp với sự nổi dậy của quần chúng nhân dân để đánh bại hoàn toàn kế hoạch bình định của địch. Bộ Chính trị chủ trương kết hợp giữa đòn tiến công vào quân chủ lực Việt Nam Cộng hòa và đòn đánh phá “bình định” nông thôn, thực hiện uy hiếp, bao vây các thành thị lớn, nhất là Sài Gòn, phát triển phong trào đấu tranh chính trị lên quy mô lớn. Bên cạnh đó, mũi quân sự còn có nhiệm vụ phá hủy các cơ sở hậu cần và phương tiện chiến tranh của địch, làm cho địch mất nguồn dự trữ; đánh mạnh vào các cơ quan đầu não, triệt phá đường giao thông của địch. Đây là chủ trương quan trọng quyết định đến việc tiến công quân sự kết hợp với sự nổi dậy của quần chúng nhân dân, tạo ra sức mạnh tổng hợp áp đảo đối phương. Chủ trương đấu tranh quân sự của Đảng trong giai đoạn 1973-1975 mang tính toàn diện, kịp thời và phát triển góp phần quan trọng, quyết định vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tính toàn diện, kịp thời, phát triển của chủ trương đấu tranh quân sự trong giai đoạn này thể hiện ở mức độ đấu tranh từ thấp đến cao. Từ đấu tranh bằng phương pháp hòa bình theo điều khoản được ký kết tại Hiệp định Pari, phát triển lên đẩy mạnh tiến công quân sự với quy mô các trận đánh, chiến dịch vừa và nhỏ ngăn chặn địch lấn chiếm vùng giải phóng của ta và lấy lại vùng giải phóng bị địch lấn chiếm sau Hiệp định Pari. Khi thời cơ thuận lợi Đảng đã chủ trương mở các chiến dịch quân sự lớn, kết hợp với sự nổi dậy của quần chúng nhân dân, tạo nên sức mạnh vô cùng to lớn nhanh chóng đánh bại quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Tính toàn diện, kịp thời còn thể hiện ở chủ trương coi trọng phát triển nghệ thuật chiến lược, chiến dịch, chiến thuật, cách đánh đối với quân đội Việt Nam Cộng hòa, việc phát triển bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Coi trọng phát triển căn cứ địa cách mạng, đối tượng tiến công quân sự không chỉ có binh sĩ địch mà còn đánh phá cơ sở vật chất, hậu cần, phương tiện chiến tranh, cơ quan đầu não chính quyền và quân đội của địch. Chủ trương tiến công quân sự của Đảng trong giai đoạn 1973-1975 phát triển lên tầm cao mới về nội dung, quy mô, tính chất, nghệ thuật và là cơ sở quan trọng để Quân ủy Trung ương, Trung ương Cục, Quân ủy Miền, các đơn vị, địa phương chuẩn bị lực lượng quân sự hùng mạnh, mở các chiến dịch quân sự lớn, đánh bại hoàn toàn quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, giành độc lập dân tộc, giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước./.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Ngày Quốc tế Lao động 1/5 .

Thực tế cho thấy, từ những hoạt động thực tiễn của mình, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã sớm đến với Ngày Quốc tế Lao động 1/5 và Ngày 1/5 cũng sớm đến với phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, từ đó trở thành ngày hội lớn, ngày Tết đầy ý nghĩa của nhân dân lao động cả nước. . NGÀY 1/5 TRỞ THÀNH NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG NHƯ THẾ NÀO? Cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn độc quyền. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế tư bản, giai cấp tư sản tăng cường bóc lột và bần cùng hóa công nhân lao động, dẫn đến mâu thuẫn giai cấp ngày càng sâu sắc và đi liền cùng đó là các cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản diễn ra với quy mô ngày càng lớn. Một trong những nội dung quan trọng của các cuộc đấu tranh đó chính là vấn đề thời gian lao động. Đặc biệt, C. Mác coi việc rút ngắn thời gian lao động là một nhiệm vụ đấu tranh của giai cấp vô sản. Vì thế, sau khi thành lập Quốc tế I (1864), tại Đại hội lần thứ nhất Quốc tế I (9/1866), vấn đề đấu tranh đòi ngày làm việc 8 giờ được coi là một nhiệm vụ quan trọng. Khẩu hiệu “Ngày làm 8 giờ” sớm xuất hiện ở một số nơi của nước Anh - quốc gia có nền công nghiệp phát triển sớm nhất thế giới. Từ đây, yêu sách này dần lan rộng sang các nước khác. Nghị quyết của Đại hội Liên đoàn Lao động Mỹ họp tại thành phố Chicago (1884) nêu rõ: “Từ ngày 1/5/1886, ngày lao động của tất cả các công nhân sẽ là 8 giờ”. Vì thế, ngày 1/5/1886, khi yêu cầu ngày làm 8 giờ không được đáp ứng, công nhân toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công, gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình... Hơn một năm sau ngày đấu tranh đó, các thủ lĩnh của cuộc đấu tranh ở Chicago đã bị chính quyền Mỹ xử tử, song chính quyền cũng buộc phải ban hành đạo luật ngày làm 8 giờ... 3 năm sau cuộc đấu tranh tại Chicago (1886), Quốc tế II được thành lập (1889). Dưới sự lãnh đạo của Ph. ĂngGhen, Đại hội lần thứ nhất - Quốc tế II đã quyết định lấy Ngày 1/5 hằng năm làm ngày biểu dương lực lượng và đấu tranh chung của giai câp vô sản các nước. Từ đó, 1/5 trở thành Ngày Quốc tế Lao động và ngày này được kỷ niệm với quy mô thế giới. NGUYỄN ÁI QUỐC ĐẶC BIỆT QUAN TÂM ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN LAO ĐỘNG Vào thập niên 1920, trên hành trình bôn ba đi tìm đường cứu nước, hòa mình với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, với đời sống của nhân dân lao động ở các quốc gia, tại nhiều châu lục, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tham dự một số lễ kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5. Năm 1920, tại nước Pháp, mật thám Giăng ghi trong hồ sơ: "Nguyễn Ái Quốc dự mít tinh kỷ niệm ngày 1/5 với nhóm đảng viên Xã hội ở Cremlanh- Bixéttơrơ. Anh đã lên diễn đàn, đề cập đến vấn đề đang được bàn trên báo L'Humanité: "Chương trình hoạt động của nhóm Xã hội đòi ngừng gửi người thuộc địa sang Pháp"(1). Buổi tối Ngày Quốc tế Lao động 1/5/1922, tại nước Pháp, Người đã dự "cuộc mít tinh kỷ niệm ngày 1/5 tại số 33 La Gơ rănggiơ ô Benlơ"(2). Ngày 30/4/1924, tại nước Nga, Nguyễn Ái Quốc nhận được thư mời tham dự lễ kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5 tổ chức tại Quảng trường Đỏ ở thủ đô Mátxcơva; trong đó ghi rõ: "Theo đề nghị của Thành ủy Mátxcơva, Ban Bí thư Quốc tế Cộng sản mời đồng chí ngày mai, 1 tháng 5, từ 12giờ đến 2 giờ chiều có mặt tại Hồng trường để nói chuyện với những người biểu tình" và đi kèm thư mời là Thẻ đi lại (GIẤY PHÉP ĐƯỢC ĐI LẠI KHẮP NƠI) do Bộ Tư lệnh bảo vệ Thủ đô Mátxcơva cấp, ghi cụ thể: "Thẻ đi lại công tác, cấp cho đồng chí Nguyễn Ái Quốc, được quyền đi lại trên Quảng trường Đỏ trong ngày biểu dương lực lượng 1 tháng 5"(3). Tại Trung Quốc, trong Ngày Quốc tế Lao động 1/5/1925, Nguyễn Ái Quốc cùng với những người cộng sản Trung Quốc tham gia tổ chức Đại hội lần thứ nhất của nông dân tỉnh Quảng Đông, để chuẩn bị thành lập Hội Nông dân tỉnh và thống nhất công tác lãnh đạo và đấu tranh của giai cấp nông dân trên địa bàn tỉnh... Không chỉ quan tâm đến vấn đề đời sống nhân dân lao động các nước tư bản, Nguyễn Ái Quốc còn đặc biệt quan tâm vấn đề này ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Những vấn đề liên quan đến đời sống của nhân dân lao động, nhất là ngày làm việc 8 giờ đã được ghi rõ trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, được thông qua tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930). Cụ thể, Chánh cương vắn tắt của Đảng nêu rõ: "Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản"; "đánh đổ chủ nghĩa đế quốc Pháp và phong kiến. Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập. Dựng ra chính phủ công nông binh. Tổ chức ra quân đội công nông"; "thủ tiêu hết các thứ quốc trái. Thâu hết sản nghiệp lớn (…) của tư bản đế quốc Pháp giao cho Chính phủ công nông binh quản lý"; "thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo", "bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo", "mở mang công nghiệp và nông nghiệp", "thi hành luật ngày làm 8 giờ"(4)…

NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG VÀ NHỮNG CAO TRÀO CÁCH MẠNG

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cách mạng Việt Nam đã có người cầm lái. Con đường cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng không chỉ đáp ứng nhu cầu tất yếu của lịch sử dân tộc mà còn phù hợp xu thế thời đại, hòa mình vào dòng chảy chung của sự nghiệp cách mạng thế giới. Trên hành trình đấu tranh cho độc lập, tự do, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng"(5); đồng thời, "phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày nghèo" và "trong khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng một chút gì lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thỏa hiệp"(6)… Dưới sự lãnh đạo của Đảng, một làn sóng đấu tranh cách mạng đã nổ ra từ khắp thành thị đến nông thôn. Nhân dân lao động đã treo cờ Đảng ở nơi công cộng, rải truyền đơn ở các đường phố, công sở… Nhiều cuộc mít tinh biểu tình, bãi công, tuần hành thị uy được tiến hành ở nhiều nơi. Trên cơ sở đó, Đảng chủ trương lấy việc kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5 để phát động một cao trào cách mạng rộng lớn trong toàn quốc. Trên hành trình đấu tranh cho độc lập, tự do, hưởng ứng cuộc đấu tranh đòi quyền lợi cho giai cấp công nhân, phong trào đấu tranh ngày 1/5/1930 đã mở đầu cho cao trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là Xô Viết- Nghệ Tĩnh. Lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng Việt Nam, giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn quốc đã mít tinh, biểu tình kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5; đã thể hiện rõ sức mạnh của khối liên minh công - nông trong việc đấu tranh đòi quyền lợi và bày tỏ tình đoàn kết với giai cấp công nhân thế giới… Tại nhà máy xe lửa Trường Thi, nhà máy Cưa, nhà máy diêm Bến Thủy (Nghệ An), hàng nghìn thợ thuyền cùng sát cánh với các giới thợ hỏa xa, thợ in, nông dân ngoại thành đòi ngày làm việc 8 giờ, giảm sưu thuế. Cùng với đó, cuộc đấu tranh của 4.000 công nhân nhà máy sợi Nam Định và cuộc mít tinh với 5.000 người tham dự được tổ chức tại rạp hát Thành Xương (Sài Gòn)… đã góp phần vào cao trào cách mạng toàn quốc do Đảng lãnh đạo. Sau cao trào cách mạng 1930 - 1931, việc kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 15 không được tiến hành rầm rộ ở bên ngoài, song vẫn được tổ chức trong các lao tù của đế quốc. Các chiến sĩ cộng sản bị bắt giam trong nhà tù đã tổ chức kỷ niệm Ngày 1/5 để không chỉ giữ vững tinh thần đấu tranh cách mạng mà còn bồi đắp tinh thần, ý chí và quyết tâm cho cuộc đấu tranh sắp tới, vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Bước sang thời kỳ 1936-1939, lợi dụng điều kiện hoạt động công khai hợp pháp, Đảng lãnh đạo nhân dân lao động tổ chức kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5 một cách trọng thể, rộng lớn, nhằm đạt những mục tiêu cụ thể, thiết thực. Ở Sài Gòn, bộ phận công khai của Đảng tổ chức mít tinh có hàng ngàn người tham gia, với các khẩu hiệu đòi tự do, dân chủ, triệt để thi hành luật lao động, đòi tăng lương, giảm sưu thuế, chống chiến tranh, ủng hộ hòa bình, ủng hộ Liên Xô và cuộc kháng chiến của nhân dân Trung Quốc, Tây Ban Nha. Đặc biệt, cuộc mít tinh ngày 1/5/1938 tại trường Đấu xảo Hà Nội (Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt - Xô ngày nay) đã thu hút trên 25.000 người của 25 đoàn khác nhau tham gia. Đây là cuộc mít tinh lớn nhất nhằm biểu dương sức mạnh của nhân dân lao động trong trong thời kỳ vận động dân chủ. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Ngày 1/5 trở thành ngày hội lớn của giai cấp công nhân và nhân dân lao động cả nước. Ngày 18/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 22 -C/NV/CC về những ngày nghỉ Tết, kỷ niệm lịch sử và lễ tôn giáo; trong đó, công bố: Ngày 1/5 là một trong những ngày lễ chính thức và công nhân, lao động cả nước được nghỉ một ngày có hưởng lương. Kể từ đây, Ngày Quốc tế Lao động 1/5 được coi là một trong những ngày lễ chính thức hằng năm ở Việt Nam. Sắc lệnh số 22c NV/CC ngày 18/2/1946 quy định ngày 1/5 là một trong những ngày Lễ chính thức của nước ta. Ngày 29/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 56/SL quy định công nhân được hưởng lương ngày nghỉ lễ Quốc tế Lao động 1/5. Ngày 1/5/1946, lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, ngày Quốc tế Lao động được tổ chức trọng thể tại Hà Nội, với sự tham dự của 20 vạn nhân dân lao động. Nhân dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời kêu gọi: “Cùng toàn quốc đồng bào! Cùng anh chị em lao động! Ngày 1 tháng 5 là một ngày tết chung cho lao động cả các nước trên thế giới. Đó là một ý nghĩa đoàn kết rất sâu xa. Ở nước ta, lần này là lần đầu đồng bào ta, anh chị em lao động ta, được tự do đón tiếp ngày 1 tháng 5. Vậy nên nó có ý nghĩa đặc biệt sâu xa hơn nữa. Đối với chúng ta nó là một ngày để tỏ cho thế giới biết rằng ngày này chẳng những là ngày tết lao động, mà nó còn là ngày toàn dân đoàn kết. Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới”(7). Để cổ vũ, động viên nhân dân lao động cả nước trong thực hiện các phong trào thi đua yêu nước nhân kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Trọng tâm thi đua là: Quân đội thi đua giết giặc lập công. Công nhân thi đua tăng gia sản xuất. Nông dân thi đua sản xuất lương thực. Trí thức thi đua sáng tác, phát minh. Cán bộ thi đua cần, kiệm, liêm, chính. Toàn dân thi đua tích cực tham gia kháng chiến” (1/5/1951); "cùng với nhân dân lao động toàn thế giới, chúng ta nhiệt liệt chào mừng Ngày 1/5 trong lòng đầy tin tưởng và phấn khởi quyết tâm vượt mọi khó khăn, tiến lên làm tròn những nhiệm vụ mới” (1/5/1958) và Người đã gửi điện khen ngợi thanh niên trên công trường khôi phục đường sắt Thanh Hoá - Vinh; trong đó, có việc xây lại Cầu Hàm Rồng (1/5/1964)… Sau thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, miền Nam đã được giải phóng, Tổ quốc thống nhất, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Trải qua quá trình đấu tranh cách mạng, giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành về chính trị, tư tưởng và tổ chức; đã phát triển rất nhanh chóng cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu và ngày càng đóng vai trò lớn trong quá trình phát triển kinh tế, đảm bảo sản xuất ở tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Hơn lúc nào hết, giai cấp công nhân Việt Nam - lực lượng nòng cốt trong liên minh công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng đang đi đầu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

TIẾP TỤC PHÁT HUY TINH THẦN NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG 1/5

Thực tế cho thấy, từ những hoạt động thực tiễn của mình, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã sớm đến với Ngày Quốc tế Lao động 1/5 và Ngày 1/5 cũng sớm đến với phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Trở thành ngày hội lớn, Ngày Quốc tế Lao động 1/5 hằng năm là ngày Tết đầy ý nghĩa của nhân dân lao động cả nước. Thông qua ngày lễ kỷ niệm đó, giai cấp công nhân và nhân dân lao động cả nước đoàn kết, cùng chung sức, đồng lòng, thi đua lập thành tích để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, đoàn kết rộng rãi và thắt chặt quan hệ với các tổ chức công đoàn trên thế giới, thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng vì hòa bình, hợp tác phát triển, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước. Phát huy tinh thần, ý nghĩa và giá trị thiết thực của ngày Quốc tế Lao động, Ngày 1/5, từ năm 2011, tại Lễ kỷ niệm 125 ngày Quốc tế Lao động 1/5, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã phát động "Tháng Công nhân” năm 2011. Ngày 24/2/2012, Ban Bí thư Trung ương Đảng đồng ý chủ trương lấy tháng 5 hằng năm là “Tháng Công nhân", với mục tiêu chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức và người lao động; xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến độ trong doanh nghiệp; nhất là tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng và nâng cao trách nhiệm của chính quyền các cấp để chăm lo xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. "Tháng Công nhân” hằng năm trở thành ngày hội của công nhân, viên chức và người lao động cả nước, vừa là ngày kỷ niệm Quốc tế Lao động lại vừa là điểm xuất phát của nhiều phong trào thi đua yêu nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong "Tháng Công nhân", cấp ủy, chính quyền và các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội cả nước chú trọng xây dựng kế hoạch hành động nhằm xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần đoàn kết, có trình độ chuyên môn, nghề nghiệp vững, đáp ứng yêu cầu của công việc…; đồng thời, tuyên truyền, giáo dục, làm cho tổ chức và cá nhân người sử dụng lao động nhận thức sâu sắc ý nghĩa và tầm quan trọng của "Tháng Công nhân”; chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động… Sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, nhất là sau hơn 12 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa X/Nghị quyết số 20/NQ-TW về "Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", giai cấp công nhân Việt Nam không chỉ tăng về số lượng, trưởng thành về chất lượng; tổ chức công đoàn các cấp không chỉ ngày càng phát triển, hoạt động hiệu quả… mà còn tiếp tục khẳng định và phát huy vai trò, địa vị của mình trong thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc… Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh và nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của giai cấp công nhân. Nghị quyết nêu rõ yêu cầu "xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư"(8); Đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống với tinh thần trên cần "chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân. Đổi mới tổ chức và hoạt động của công đoàn phù hợp với cơ cấu lao động, nhu cầu, nguyện vọng của công nhân và yêu cầu hội nhập quốc tế…"(9). "Định hướng và quản lý tốt sự ra đời và hoạt động của các tổ chức công nhân tại doanh nghiệp ngoài tổ chức công đoàn hiện nay"(10) gắn với việc nâng cao kiến thức, hiểu biết pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người lao động cho đoàn viên và người lao động. Đồng thời, chú trọng đổi mới các hình thức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao bản lĩnh chính trị, giữ vững bản chất giai cấp, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cho giai cấp công nhân gắn với việc mở đợt sinh hoạt chính trị rộng rãi để tuyên truyền, phổ biến, tham gia đóng góp ý kiến xây dựng Đảng, tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Trong bối cảnh vượt qua khó khăn, khắc phục hệ lụy xấu từ dịch Covid- 19, phát huy vai trò của mỗi đoàn viên công đoàn và người lao động, phát huy tính chủ động, sáng tạo, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học tiên tiến của mỗi người lao động trong lao động sản xuất để không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của đơn vị, doanh nghiệp mà còn thiết thực góp phần thực hiện mục tiêu kép: vừa chống dịch vừa bảo đảm tăng trưởng kinh tế.

Thứ Sáu, 30 tháng 4, 2021

Vạch trần chiêu trò đòi “dân chủ” vô nguyên tắc trong bầu cử: Thủ đoạn “ăn vạ” phía sau chiêu trò tự ứng cử .

Từ chủ trương, chính sách của Đảng đến Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước đều khuyến khích người có đức, có tài tự ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) để góp sức xây dựng đất nước. . Thực tế đã có những người hội tụ đủ phẩm chất, tiêu chuẩn đã tự ứng cử thành công, được cử tri bầu làm đại biểu và có đóng góp tích cực cho nước nhà. Bên cạnh đó, cứ mỗi dịp bầu cử ĐBQH, đại biểu HĐND, các phần tử chống phá đều ráo riết thực hiện chiêu trò tự ứng cử. Khi biết chắc không đạt được mục đích, họ dùng thủ đoạn bôi nhọ, xuyên tạc công tác bầu cử, qua đó làm giảm niềm tin của cử tri, nhân dân và tiến tới phá hoại bầu cử. Cuộc bầu cử ĐHQB khóa XV, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 cũng vậy. Những phần tử chống phá bịa đặt, xuyên tạc rằng hội nghị cử tri nơi cư trú chỉ là “nơi đấu tố”. Trong khi họ tung ra những bảng thu thập chữ ký ảo trên mạng xã hội thì lại rất sợ đứng trước hội nghị cử tri nơi cư trú-nơi tập hợp những cử tri thật, gần họ nhất, hiểu họ nhất và có những nhận xét cực kỳ chính xác về họ. Ứng cử là quyền Hiến định Từ Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam năm 1946 cho đến tất cả những bản Hiến pháp sau này đều quy định rất rõ: Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử, từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND (Điều 18, Hiến pháp năm 1946; Điều 23, Hiến pháp năm 1959; Điều 57, Hiến pháp năm 1980; Điều 54, Hiến pháp năm 1992; Điều 27, Hiến pháp năm 2013). Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND cũng quy định công dân Việt Nam đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND. Luật quy định rõ: “Người tự ứng cử nộp hai bộ hồ sơ ứng cử tại Ủy ban bầu cử ở tỉnh nơi mình cư trú hoặc công tác thường xuyên” (điểm b, khoản 1, Điều 36, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND). Chỉ thị số 45-CT/TW của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử ĐBQH khóa XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 cũng nêu rõ: “Bảo đảm các điều kiện thuận lợi để mọi công dân thực hiện đầy đủ quyền ứng cử, bầu cử theo quy định của pháp luật”. Mới đây, trao đổi với các phóng viên báo chí, Phó chủ tịch-Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam Hầu A Lềnh đã khẳng định: Tất cả các đợt bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp từ trước tới nay đều không có cản trở vì ứng cử là quyền của công dân. Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền ứng cử. Người tự ứng cử hay người được giới thiệu ứng cử đều cùng chung thủ tục về hồ sơ, quy trình. Thực tế đã có rất nhiều người tự ứng cử được cử tri nơi cư trú tín nhiệm cao, vượt qua các vòng hiệp thương để vào danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND và được cử tri nơi ứng cử tín nhiệm bầu làm ĐBQH, đại biểu HĐND. Danh sách cụ thể những người tự ứng cử đủ tiêu chuẩn ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND và danh sách những người tự ứng cử được bầu làm ĐBQH, đại biểu HĐND các nhiệm kỳ đều rất dễ tìm thấy trên mạng internet. Như vậy, từ chủ trương, chính sách của Đảng; quy định của Hiến pháp, pháp luật đến thực tiễn đều không có bất cứ hạn chế nào về quyền ứng cử của công dân, ngoại trừ những trường hợp không được ứng cử quy định tại Điều 37, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND (người đang bị tước quyền ứng cử theo bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người đang chấp hành hình phạt tù, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự; người đang bị khởi tố bị can; người đang chấp hành bản án, quyết định hình sự của tòa án; người đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của tòa án nhưng chưa được xóa án tích; người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc giáo dục tại xã, phường, thị trấn). Theo quy định của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, người ứng cử ĐBQH phải đáp ứng tiêu chuẩn của ĐBQH quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội; người ứng cử đại biểu HĐND phải đáp ứng tiêu chuẩn của đại biểu HĐND quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Do vậy, chỉ những người ứng cử đáp ứng đủ tiêu chuẩn mới có tên trên danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử sau hội nghị hiệp thương lần thứ 3. Theo quy định, cử tri nơi cư trú hoặc cử tri nơi công tác sẽ nhận xét người ứng cử có đủ tiêu chuẩn ứng cử hay không và trực tiếp biểu quyết nhất trí hay không nhất trí để người đó ứng cử ĐBQH/đại biểu HĐND. Kết quả của hội nghị cử tri là một trong những căn cứ quan trọng để MTTQ Việt Nam hiệp thương và quyết định điền tên người ứng cử vào danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử hay không. Đây là quy trình rất chặt chẽ nhằm sàng lọc và loại bỏ những người ứng cử không đủ tiêu chuẩn làm ĐBQH, đại biểu HĐND từ trước khi bầu cử. Những chiêu “rạch mặt ăn vạ” Những phần tử chống đối, phá hoại bầu cử biết rất rõ mình không thể đáp ứng đủ tiêu chuẩn của ĐBQH, đại biểu HĐND, đặc biệt là các tiêu chuẩn trung thành với Hiến pháp; gương mẫu chấp hành pháp luật. Ngay những hành vi chống phá Đảng, không công nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá Nhà nước mà họ thực hiện đã thể hiện rất rõ họ không trung thành với Hiến pháp và không chấp hành pháp luật. Vì thế, họ rất sợ các quy trình về hiệp thương, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của cử tri nơi cư trú. Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, nguyên tắc nghị sĩ/đại biểu Quốc hội phải trung thành với Hiến pháp là nguyên tắc được áp dụng phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới. Ngay tại Mỹ, các nghị sĩ khi đắc cử cũng phải thực hiện thủ tục tuyên thệ, thề trung thành với Hiến pháp. Nghị sĩ/đại biểu Quốc hội làm việc tại cơ quan lập pháp, nên chắc chắn không có nước nào ủng hộ nghị sĩ nước mình không tôn trọng luật pháp, không tuân thủ pháp luật. Hơn ai hết, cử tri nơi người ứng cử cư trú/công tác là những người hiểu rõ về người ứng cử đó nhất. Nếu người ứng cử thực sự là người có đạo đức tốt, gương mẫu chấp hành pháp luật thì không có lý do gì phải e ngại việc lấy ý kiến nhận xét của cử tri nơi cư trú. Quy định về tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri cũng thể hiện rõ tính khách quan. Cụ thể, theo hướng dẫn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Nghị quyết số 1186/2021/UBTVQH14, hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi cư trú được tổ chức tại thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố nơi người ứng cử thường trú hoặc tạm trú. Đối với nơi có dưới 100 cử tri thì tổ chức hội nghị toàn thể cử tri và phải bảo đảm số lượng cử tri tham dự đạt ít nhất 50% tổng số cử tri được triệu tập. Đối với nơi có từ 100 cử tri trở lên thì có thể tổ chức hội nghị toàn thể hoặc hội nghị cử tri đại diện hộ gia đình và phải bảo đảm có ít nhất 55 cử tri tham dự hội nghị. Quy định như vậy để loại trừ trường hợp lựa chọn cử tri đi dự hội nghị, giúp hội nghị cử tri nơi cư trú cho ý kiến khách quan nhất, toàn diện nhất về người ứng cử. Ấy vậy mà những phần tử chống phá đội lốt “người tự ứng cử” lên tiếng rêu rao trên mạng xã hội và một số trang thông tin nước ngoài rằng, hội nghị cử tri nơi cư trú là nơi để đấu tố, lên án, loại bỏ người tự ứng cử. Điều rất hài hước là những kẻ đội lốt “người tự ứng cử” để chống phá Đảng, chống phá Nhà nước, phá hoại bầu cử rất tự tin trưng ra những bản tập hợp chữ ký ảo trên mạng để giới thiệu ứng cử, nhưng đứng trước cử tri thật ở chính nơi họ cư trú thì họ lại tỏ ra run sợ. Riêng điều này đã thể hiện rõ sự lòe bịp của họ về những bản “tập hợp chữ ký” và thể hiện rõ uy tín của họ ở nơi cư trú thảm hại đến mức nào. Đến cử tri nơi họ cư trú còn không muốn để họ lọt vào danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử, mà họ còn muốn ra oai đại diện cho cử tri cả nước được sao? Khi không vượt qua được hội nghị cử tri nơi cư trú, họ bèn sử dụng chiêu “rạch mặt ăn vạ” khi rêu rao rằng hội nghị cử tri chỉ là nơi đấu tố, lên án họ để loại họ ngay từ vòng đầu! Cũng vì nhận thức rõ với sự quay lưng của cử tri nơi cư trú và với lý lịch bất hảo về chống phá Đảng, chống phá Nhà nước, lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, xâm phạm lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, họ chắc chắn không thể vượt qua được các vòng hiệp thương do MTTQ Việt Nam tổ chức, nên họ rêu rao rằng, tổ chức hội nghị hiệp thương là vi hiến vì Hiến pháp không có quy định về hiệp thương hay về cơ cấu, thành phần ĐBQH. Chiêu “rạch mặt” này lại làm lòi ra cái dốt khác của họ về kiến thức pháp luật. Ai am hiểu về luật pháp cũng hiểu một điều rất đơn giản: Hiến pháp là đạo luật gốc, là đạo luật cơ bản nên chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản nhất, quan trọng nhất. Không có một bản hiến pháp nào trên thế giới quy định đầy đủ mọi quy phạm để điều chỉnh mọi quan hệ xã hội. Chẳng hạn, không thể nói rằng Hiến pháp không quy định về hợp đồng nên mọi quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp... là vi hiến. Thực tế, quy định về hiệp thương và các bước tiến hành hiệp thương được thể hiện rất rõ trong Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND nên việc MTTQ Việt Nam tổ chức hiệp thương là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật và không vi hiến. Kiến thức sơ đẳng về pháp luật như vậy mà còn không hiểu, thì những thành phần đó sao đủ tiêu chuẩn về trình độ, chuyên môn, năng lực để trở thành ĐBQH-người sẽ hoạt động ở cơ quan có chức năng rất quan trọng là lập pháp? Vậy, đằng sau chiêu trò “tự ứng cử” của các phần tử chống đối, phá hoại là gì? Họ “tự ứng cử” với hy vọng hão huyền nếu trúng cử sẽ biến Quốc hội, HĐND trở thành diễn đàn cho họ thực hiện các hoạt động chống phá Đảng, chống phá Nhà nước, gây rối hoạt động của cơ quan dân cử nói riêng và của Nhà nước nói chung, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” ngay trong cơ quan dân cử của nước ta. Khi không thực hiện được mục tiêu của mình, họ quay ra bịa đặt, xuyên tạc để phá hoại bầu cử. Tuy nhiên, dù dùng âm mưu, thủ đoạn thâm độc, nham hiểm, ngụy quân tử đến mức nào, họ cũng không thể đánh lừa được cử tri. Bằng chứng là dù đợt bầu cử nào họ cũng ra sức hoạt động, ra sức “tự ứng cử” nhưng đều bị cử tri nơi cư trú vạch mặt thẳng thừng. Vì cử tri cực kỳ sáng suốt, nên họ chưa và sẽ không bao giờ thực hiện được mưu đồ thiếu tử tế của mình.

Các nguyên tắc cơ bản của bầu cử ở Việt Nam hiện nay

Với tư cách một thiết chế bảo đảm dân chủ, bầu cử có những nguyên tắc chung nhất, mà bất cứ hoạt động bầu cử ở đâu cũng đều phải tuân theo. Ở nước ta, bầu cử là một định chế quan trọng của dân chủ, nền tảng hợp pháp để hình thành các chức danh, cơ quan lãnh đạo của các tổ chức thành viên hệ thống chính trị. . Bầu cử là một quá trình đưa ra quyết định của công dân hoặc của thành viên một tổ chức để chọn ra các cá nhân nắm giữ các chức vụ thuộc chính quyền, thuộc ban lãnh đạo của một tổ chức, cơ quan, đơn vị nào đó. Đây là cơ chế phổ biến được các nền dân chủ hiện áp dụng để phân bổ chức vụ trong bộ máy lập pháp, đôi khi cả ở bộ máy hành pháp, tư pháp và ở chính quyền địa phương. Bầu cử là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực của Nhà nước. Trong văn bản pháp luật, thuật ngữ “bầu cử” được hiểu là thủ tục thành lập cơ quan nhà nước hay chức danh nhà nước. Thủ tục này được thực hiện bởi sự biểu quyết của cử tri (đại cử tri, đại diện cử tri) nhằm bầu ra một đại biểu (chức danh) với điều kiện phải có từ hai ứng cử viên trở lên. Định nghĩa trên cho phép phân biệt bầu cử với phương pháp khác trong việc thành lập cơ quan nhà nước, như bổ nhiệm, chỉ định. Ngoài những cuộc bầu cử mang tính chất chính trị (thành lập cơ quan nhà nước), bầu cử còn được áp dụng trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội, chính trị, như các đảng chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng… Bầu cử cũng thường được sử dụng rộng rãi trong các tổ chức thương mại và tư nhân, từ các câu lạc bộ cho đến các hội từ thiện và các tập đoàn,... Khác với cuộc bầu cử được áp dụng trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, cuộc bầu cử thành lập cơ quan nhà nước hay một chức danh nhà nước được điều chỉnh bởi Hiến pháp và pháp luật do Nhà nước ban hành. Thông thường, cơ quan đại diện của chính quyền địa phương được thành lập bằng con đường bầu cử. Ở một số nước, các cơ quan nhà nước khác như Tổng thống, Chính phủ, Tòa án cũng được thành lập thông qua bầu cử. Bầu cử cho phép người dân có quyền rất lớn để hành động như những "chủ nhân" chọn những "công bộc" chính quyền cho chính họ. Điểm đặc biệt của các nền dân chủ và cộng hòa là sự nhận thức rõ rằng, để Nhà nước có được quyền hợp pháp, thực sự là Nhà nước "của dân, do dân và vì dân", thì phải có sự đồng thuận của người dân hay những người bị trị. Cần phân biệt giữa bầu cử với chế độ bầu cử, theo đó, chế định bầu cử là một tổng thể gồm các nguyên tắc, các quy định của pháp luật về bầu cử cùng những quan hệ được hình thành trong toàn bộ quá trình tiến hành bầu cử: từ lúc công dân ghi tên trong danh sách bầu cử đến lúc các lá phiếu được bỏ vào thùng phiếu và xác định kết quả bầu cử. Đó là tổng thể các quan hệ xã hội hợp thành trình tự bầu cử. Bên cạnh đó, cũng cần phân biệt “bầu cử” với “quyền bầu cử”. Quyền bầu cử được hiểu là khả năng của công dân được Nhà nước bảo đảm tham gia vào quá trình thành lập các cơ quan nhà nước ở Trung ương và cơ quan chính quyền địa phương. Quyền bầu cử là tổng thể những quy định cụ thể cho công dân. Các nguyên tắc bầu cử là những quy định được áp dụng cho quyền bầu cử của chủ thể (quyền bầu cử chủ động và quyền bầu cử bị động). Nguyên tắc bầu cử là điều kiện được quy định bởi luật bầu cử của mỗi nước, mà việc thực hiện và tuân thủ quy định đó trong quá trình bầu cử quyết định tính hợp pháp của cuộc bầu cử. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nước ta quy định 4 nguyên tắc bầu cử: nguyên tắc phổ thông, nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc trực tiếp và nguyên tắc bỏ phiếu kín. Nguyên tắc phổ thông Pháp luật bầu cử của các nước đều khẳng định, nguyên tắc phổ thông đầu phiếu là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ bầu cử. Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu trong bầu cử bảo đảm để mọi công dân không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, (trừ những người mất trí hay những người bị tước quyền bầu cử trên cơ sở của pháp luật), đến tuổi trưởng thành đều được trao quyền bầu cử. Yêu cầu của nguyên tắc này là Nhà nước phải bảo đảm để cuộc bầu cử thực sự trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu cử của mình, bảo đảm tính dân chủ, công khai và sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trong bầu cử. Ví dụ: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân của nước ta quy định đối với việc bầu cử đại biểu Quốc hội: - Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật, được Quốc hội ấn định và công bố chậm nhất là 115 ngày trước ngày diễn ra bầu cử; - Các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập công khai, có sự tham gia của đại diện các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và đoàn thể nhân dân; - Thời gian bỏ phiếu được quy định thống nhất trong cả nước từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối (trừ những trường hợp đặc biệt theo quy định của Luật); - Mọi công dân cư trú thường xuyên hoặc tạm trú đều được ghi tên vào danh sách cử tri; - Danh sách cử tri được niêm yết công khai chậm nhất là 40 ngày trước ngày diễn ra bầu cử; - Danh sách ứng cử viên cũng được lập và niêm yết công khai chậm nhất là 20 ngày trước ngày diễn ra bầu cử để cử tri tìm hiểu và lựa chọn. Nguyên tắc bình đẳng Bình đẳng trong bầu cử là nguyên tắc nhằm bảo đảm để mọi công dân đều có cơ hội ngang nhau tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào. Nội dung của nguyên tắc bình đẳng là mỗi cử tri có một phiếu bầu đối với một cuộc bầu cử và giá trị phiếu bầu như nhau không phụ thuộc vào giới tính, địa vị xã hội, sắc tộc, tôn giáo,... Nguyên tắc này được thể hiện trong các quy định của pháp luật về quyền bầu cử và ứng cử của công dân. Nội dung nguyên tắc bình đẳng: Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi cư trú; Mỗi ứng cử viên chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử; Mỗi cử tri chỉ được bỏ một phiếu bầu. Nguyên tắc bình đẳng còn đòi hỏi phải có sự phân bổ hợp lý cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu để bảo đảm tiếng nói đại diện của các vùng, miền, địa phương, các tầng lớp xã hội, các dân tộc thiểu số và phụ nữ phải có tỷ lệ đại biểu thích đáng. Nguyên tắc trực tiếp Bầu cử trực tiếp có nghĩa là cử tri trực tiếp thể hiện ý chí của mình qua lá phiếu, cử tri trực tiếp bầu ra đại biểu của mình chứ không qua một cấp đại diện cử tri nào. Nguyên tắc bầu cử trực tiếp đòi hỏi cử tri không được nhờ người bầu hộ, bầu thay hoặc bầu bằng cách gửi thư. Cử tri tự bỏ lá phiếu bầu vào hòm phiếu. Trường hợp cử tri không thể tự viết phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri; nếu cử tri vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu. Trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến nơi ở của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện các thủ tục bỏ phiếu. Trái với nguyên tắc bầu cử trực tiếp là nguyên tắc bầu cử gián tiếp. Theo nguyên tắc này, cử tri không trực tiếp bầu ra người đại diện cho mình, mà bầu ra thành viên của tuyển cử đoàn, sau đó tuyển cử đoàn mới bầu ra cơ quan đại diện hay chức danh nhà nước. Bầu cử gián tiếp có thể qua hai cấp, như bầu Tổng thống Mỹ (cử tri bầu ra Đại cử tri đoàn), Thượng nghị viện Pháp; hoặc bầu qua ba cấp, như bầu Quốc hội Trung Quốc (Đại hội đại biểu nhân dân toàn Trung Quốc). Nguyên tắc bỏ phiếu kín Nguyên tắc bỏ phiếu kín thể hiện ở việc loại trừ sự theo dõi và kiểm soát từ bên ngoài đối với việc thể hiện ý chí (sự bỏ phiếu) của cử tri. Mục đích của nguyên tắc này là nhằm đảm bảo tự do đầy đủ sự thể hiện ý chí của cử tri. Để bảo đảm khách quan trong việc lựa chọn của cử tri, các nước thường quy định việc bỏ phiếu kín. Ví dụ: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân nước ta quy định việc bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành bằng cách bỏ phiếu kín. Theo nguyên tắc này, cử tri bầu ai, không bầu ai đều được bảo đảm bí mật. Khi cử tri viết phiếu bầu không ai được đến gần, kể cả cán bộ, nhân viên các tổ chức phụ trách bầu cử; không ai được biết và can thiệp vào việc viết phiếu bầu của cử tri. Cử tri viết phiếu bầu trong buồng kín và bỏ phiếu vào hòm phiếu. Bốn nguyên tắc nói trên là một chỉnh thể, thiếu sót ở nguyên tắc nào cũng ảnh hưởng đến nguyên tắc khác. Để buộc các chủ thể phải tuân thủ các nguyên tắc nói trên, Nhà nước pháp điển hóa các nội dung của chúng thành các quy phạm pháp luật. Có nguyên tắc được quy định rõ trong một quy định, có nguyên tắc được thể hiện bằng nhiều quy phạm pháp luật khác nhau. Theo chiều hướng của sự phát triển xã hội ngày càng mở rộng dân chủ, thì các hình thức biểu hiện của các nguyên tắc bầu cử trên đây càng đa dạng, càng phong phú, càng góp phần đảm bảo tính chất dân chủ của các cuộc bầu cử. Tóm lại, bầu cử là biểu hiện quan trọng của dân chủ trong xây dựng chính quyền nhà nước. Chế độ bầu cử là nền tảng của dân chủ, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc kiến tạo chế độ dân chủ. Chế độ bầu cử là một trong những trụ cột trong cấu trúc dân chủ ở bất cứ nhà nước nào, bất cứ tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội nào. Dân chủ và bầu cử gắn bó mật thiết như hình với bóng. Ở đâu có bầu cử tự do và trung thực, thì ở đó một chế độ dân chủ được nảy nở và phát triển. Dân chủ có nghĩa là nhân dân là nguồn gốc, là chủ thể của quyền lực nhà nước; các cơ quan quyền lực phải được nhân dân bầu hoặc bãi miễn thông qua bầu cử tự do, bình đẳng và bỏ phiếu kín. Bầu cử là một định chế quan trọng của dân chủ, nền tảng hợp pháp để hình thành các chức danh, cơ quan lãnh đạo của các tổ chức thành viên thuộc hệ thống chính trị, trong đó có Đảng Cộng sản cầm quyền. Việc thiết kế, thực thi chế độ bầu cử tiến bộ, phù hợp, thực sự dân chủ là công việc quan trọng hàng đầu đối với bất cứ cơ quan chính quyền nhà nước, cũng như đối với tất cả các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay. /.