Vấn
đề tôn giáo bao gồm mối
quan hệ giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo và giữa những người theo các
tôn giáo khác nhau trong nội bộ quốc gia và giữa các quốc gia với nhau
trong quan hệ quốc tế, diễn ra trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội.
Giải quyết vấn đề tôn giáo là tổng thể các hoạt động tích cực, chủ động,
có kế hoạch của toàn bộ hệ thống chính trị, nhằm khắc phục ảnh hưởng tiêu cực
của tín ngưỡng, tôn giáo đến mọi mặt của đời sống con người và xã hội; giải
phóng nhân dân lao động khỏi áp bức về tinh thần; tập hợp và đoàn kết các lực
lượng cách mạng tạo nên động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, giải quyết vấn đề tôn giáo vừa là mục đích
vừa là động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Thực chất giải quyết vấn đề tôn giáo trong chủ
nghĩa xã hội được thể hiện ở các nội dung sau:
Giải quyết vấn đề tôn giáo là nhằm khắc phục những tác động, ảnh hưởng
tiêu cực của tôn giáo, giải phóng quần chúng nhân dân ra khỏi sự áp bức tinh
thần của tôn giáo, tạo điều kiện cho con người
phát triển toàn diện. Bởi vì,
tôn giáo do con người sáng tạo ra, rồi quay lại áp bức con người về tinh thần.
Con người càng hiến dâng cho thần thánh bao nhiêu thì càng đánh mất bản chất
người bấy nhiêu. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản là phải xoá bỏ mọi sự áp
bức con người, trong đó có sự áp bức của tôn giáo.
Với mục tiêu cao
nhất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người, để con người làm chủ tự
nhiên, xã hội và làm chủ bản thân. Mặc dù, những giá trị văn hóa, đạo đức của
tôn giáo có phù hợp nhất định với xã hội mới, nhưng ý thức hệ tôn giáo với
triết lý nhân sinh thụ động có ảnh hưởng tiêu cực đến thái độ, hành vi của con
người. Do đó, để giải phóng con người một cách toàn diện, tất yếu phải giải
phóng họ ra khỏi ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo, V.I. Lênin đã chỉ
rõ: “Tôn giáo là một trong những hình thức áp bức về tinh thần, luôn luôn và bất cứ ở đâu cũng đè nặng lên quần chúng nhân dân khốn khổ
vì phải lao động suốt đời cho người khác hưởng, vì phải chịu cảnh bần cùng và
cô độc”[1]. Như
vậy, việc giải phóng nhân dân lao động khỏi tôn giáo là yêu cầu khách quan, hợp
quy luật phát triển của xã hội - xã hội chủ nghĩa.
Giải quyết vấn
đề tôn giáo nhằm phát huy một số giá trị văn hóa, đạo đức, lối
sống tốt
đẹp của tôn giáo trong công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội
mới; đồng thời nâng cao nhận thức, đề cao cảnh giác trong nhân dân chống âm mưu, thủ
đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá
cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, giải
quyết vấn đề tôn giáo cần phải tôn
trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân và luôn nêu cao
tinh thần cảnh giác cách mạng, nghiêm trị mọi hành vi lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng; kiên quyết đấu tranh chống các thế lực thù địch
lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng.
Giải quyết vấn đề tôn giáo trong
chủ nghĩa xã hội nhằm tập hợp, đoàn kết các lực lượng cho cách mạng. Cách
mạng xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp khó khăn, lâu dài, đòi hỏi các Đảng Cộng sản
và Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải tập hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp của các
lực lượng, thành phần trong xã hội; trong đó đồng bào theo tôn giáo là một
thành phần, lực lượng quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc. Do đó, giải
quyết vấn đề tôn giáo phải hướng vào vận động quần chúng, xây dựng khối đoàn
kết dân tộc, không phân biệt tín, ngưỡng tôn giáo và tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân, như V.I. Lênin chỉ rõ, chúng ta phải tán thành
và thực hiện cho bằng được chủ trương giáo hội hoàn toàn tách khỏi nhà nước và
dứt khoát tuyên bố tôn giáo là một việc tư nhân đối với nhà nước, nhưng đối
với đảng của chúng ta không thể coi tôn giáo là việc tư nhân được.
Hai là, giải quyết vấn đề tôn giáo phải phân biệt rõ hai mặt:
chính trị và tư tưởng.
Về mặt chính trị: Quan điểm mácxít cho rằng,
trong lịch sử xã hội loài người, những tín ngưỡng, tôn giáo xuất hiện trong chế
độ cộng sản nguyên thủy chỉ biểu hiện thuần túy về mặt tư tưởng. Khi xã hội
xuất hiện giai cấp và nhà nước thì tôn giáo cũng bắt đầu có những biểu hiện về
mặt chính trị. Phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng thực chất là phân biệt
sự khác nhau của hai loại mâu thuẫn cùng tồn tại trong bản thân tôn giáo.
Trong xã hội chủ
nghĩa, mặt chính trị trong tôn giáo phản ánh mâu thuẫn đối kháng về lợi ích
kinh tế, chính trị giữa một bên là Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa và
nhân dân lao động, bao gồm cả những người có đạo và những người không có đạo;
và bên kia là các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để thực hiện những ý đồ
chính trị phản động, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ
nghĩa và nhân
dân lao động. Khi phát hiện và xác định chính xác mâu thuẫn đối kháng xuất hiện
trong tôn giáo thì phải sử dụng biện pháp chuyên chính để giải quyết kịp thời
và triệt để. Có như vậy mới loại bỏ được sự lợi dụng tôn giáo của các thế lực
thù địch, bảo vệ được thành quả cách mạng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đoàn kết tốt hơn
đông đảo quần chúng có tín ngưỡng tôn giáo với toàn dân tộc, bảo đảm cho hoạt
động tôn giáo diễn ra một cách bình thường, đúng pháp luật, đáp ứng nhu cầu
chính đáng và hợp pháp của bộ phận nhân dân theo các tôn giáo khác nhau.
Ngày nay, các thế
lực thù địch đang ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình, bạo loạn
lật đổ” biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó tôn giáo là vấn đề
được chúng triệt để chú ý lợi dụng để thực hiện chiến lược này, hòng âm mưu xóa
bỏ chủ nghĩa xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó có Việt Nam.
Các thế lực thù địch đã gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề nhân quyền và dân quyền
nhằm che đậy ý đồ sâu xa của chúng, thường xuyên rình rập tìm mọi khe hở để
thực hiện ý đồ chống phá. Điều đó nhắc nhở các Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội
chủ nghĩa cần nêu cao tinh thần cảnh giác, giải quyết kịp thời, cương quyết đối
với những phần tử lợi dụng, giả danh, đội lốt tôn giáo.
Về mặt tư tưởng: Trong tôn giáo, mặt tư tưởng phản
ánh những khác biệt, những mâu thuẫn về nhận thức, về quan niệm giữa những
người có tín ngưỡng tôn giáo và những người không có tín ngưỡng tôn giáo hay
giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau. Đây là mâu thuẫn trong nội
bộ nhân dân, không có tính chất đối kháng.
Sự khác biệt về
mặt nhận thức, tư tưởng giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo và những người
không có tín ngưỡng tôn giáo còn tồn tại lâu dài và sẽ là ảo tưởng khi đặt yêu
cầu ngay một lúc phải có sự thống nhất tuyệt đối về nhận thức, tư tưởng đối với
mọi thành viên trong xã hội. Việc hướng ước mơ của quần chúng tín đồ tôn giáo
về “hạnh phúc” hư ảo ở “thế giới bên kia” sang hạnh phúc thực sự ở thế giới
hiện tại là một quá trình lâu dài. Quá trình ấy có liên quan chặt chẽ đến sự
phát triển của khoa học, trình độ dân trí, nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần của nhân dân và giải quyết hài hòa các mối quan hệ xã hội.
Sự phân biệt hai mặt
chính trị và tư tưởng trong tôn giáo, trên thực tế không hề đơn giản, nhưng lại
là rất cần thiết, vì có phân biệt được hai mặt đó thì mới tránh khỏi khuynh hướng
“tả” hoặc “hữu” trong quá trình quản lý; mới ứng xử và giải quyết phù hợp những
vấn đề nảy sinh từ tín ngưỡng, tôn giáo.
Ba
là, tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu
tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân, Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội
chủ nghĩa phải tôn trọng và bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của nhân dân.
Trong chủ nghĩa xã hội tôn giáo vẫn còn tồn tại lâu dài, đến với tín
ngưỡng, tôn giáo là những đòi hỏi, mong muốn, khát vọng của một bộ phận quần
chúng nhân dân. Đảng Cộng sản,
Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải thực thi chính sách nhất quán việc tôn trọng và
bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của nhân dân. Mỗi công
dân có quyền tự do tín ngưỡng theo hoặc không theo tôn giáo nào và đều bình
đẳng trước pháp luật. Việc vào đạo, chuyển đạo hay bỏ đạo trong quy định của
pháp luật hiện hành là quyền tự do của mỗi người. Nhà nước xã hội chủ nghĩa
thừa nhận và đảm bảo cho mọi công dân có hoặc không có tín ngưỡng tôn giáo đều
bình đẳng về mặt nghĩa vụ và quyền lợi, không có sự phân biệt và đối xử vì lý
do tín ngưỡng tôn giáo. Các tôn giáo được nhà nước thừa nhận đều bình đẳng
trước pháp luật. Các giáo hội có trách nhiệm động viên tín đồ của mình thực
hiện bổn phận của giáo dân và nghĩa vụ công dân, phấn đấu sống “tốt đời, đẹp
đạo” phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc. Khoản
1, Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định:
Nhà
nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo
đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tin
ngưỡng, tôn giáo và không tin ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của
pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín
ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”[2].
Bốn
là, chống khuynh hướng tả khuynh và hữu khuynh khi xem xét giải quyết các vấn đề tôn giáo.
Trong chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội tín ngưỡng, tôn giáo còn tồn tại trong xã hội là
tất yếu khách quan. Bởi nguyên nhân nảy sinh ra tôn giáo về nhận thức, về chính
trị - xã hội, kinh tế, văn hóa và tâm lý vẫn còn tồn tại. Khắc phục và loại bỏ
được các nguyên nhân nảy sinh tôn giáo là một quá trình khó khăn, phức tạp, lâu
dài, gắn với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, nâng cao nhân
thức nhân dân. Đòi hỏi các Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải khi
xem xét giải quyết các vấn đề tôn giáo phải tôn trong quy luật khách quan,
tránh khuynh hướng tả khuynh, chủ quan, nóng vội, không tôn trọng thực tiễn,
muốn xóa bỏ ngay ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống xã hội bằng việc tuyên
chiến, đàn áp tôn giáo mà không chú ý đến cải tạo và giải quyết cơ sở tồn tại,
nảy sinh của nó. Đồng thời trong quá trình giải quyết vấn đề tôn giáo, các Đảng
Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng phải chống khuynh hướng hữa khuynh,
bảo thủ, trì trệ, giáo
điều, dập khuôn, tách việc giải quyết vấn đề tôn giáo khỏi cuộc đấu
tranh giai cấp của giai cấp công nhân.
Năm là, cần có quan điểm lịch sử, cụ thể, khách
quan, toàn diện khi giải quyết vấn đề tôn giáo.
Ở các thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò tác động của từng tôn giáo đối
với đời sống xã hội không ngang bằng nhau. Quan điểm, thái độ của các giáo hội,
giáo sĩ, giáo dân về các lĩnh vực của đời sống xã hội luôn có sự khác biệt. Vì
vậy, cần có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh giá và xử lý đối với
những vấn đề liên quan đến tôn giáo.
Trong lịch sử, có những tôn giáo khi mới xuất
hiện như một phong trào bảo vệ lợi ích của người nghèo, bị áp bức và nô lệ.
Nhưng rồi, tôn giáo ấy lại biến thành công cụ của giai cấp thống trị, bóc lột.
Có những giáo sĩ suốt đời hành đạo theo xu hướng đồng hành với dân tộc, nhưng
có những giáo sĩ lại hợp tác với các thế
lực phản động đi ngược lại lợi ích quốc gia dân tộc. Điều đó đòi hỏi khi xem xét, giải quyết vấn đề tôn giáo Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải luôn
có thái độ và cách xử lý phù hợp với điều kiện lịch sử và từng trường
hợp cụ thể để đánh giá một cách khách quan, toàn diện cả những mặt tích cực và mặt
tiêu, trách giáo điều, dập
khuôn cứng nhắc.
Những nguyên tắc trên là một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, do
vậy khi giải quyết các vấn đề nảy sinh của tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc trên, không được
xem nhẹ một nguyên tắc nào. Đồng thời, quá trình giải quyết vấn đề tôn giáo
phải đạt được các yêu cầu chủ yếu sau: thường xuyên chú trọng tuyên truyền giáo
dục thế giới quan, phương pháp luận mác xít, chủ nghĩa vô thần khoa học, nâng
cao dân trí và trình độ văn hoá cho nhân dân; phát triển kinh tế - xã hội, nâng
cao đời sống vật và chất tinh thần của nhân dân, trong đó có đồng bào các tôn
giáo; thực hiện kiên trì, thận trọng, tỷ mỉ, mềm dẻo và đúng nguyên tắc trong
giải quyết vấn đề tôn giáo; xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, không phân biệt
đối xử vì lý do tín ngưỡng tôn giáo, nhằm tập hợp lực lượng cách mạng thực hiện
thắng lợi sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa; phát huy tinh thần yêu nước,
sống "tốt đời, đẹp đạo" của các chức sắc tôn giáo, hướng họ chấp hành
tốt chính sách và pháp luật nhà nước; kiên quyết trừng trị những phần tử lợi
dụng tín ngưỡng tôn giáo để chống phá cách mạng, chống lại sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2016, tr. 81.